Tài Chính Quốc Tế Nhóm 7
Lớp: Tài chính – Ngân hàng CH9
1
KHOA KINH TẾ ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM
TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
ĐỀ TÀI:
DOLLAR HÓA NỀN KINH TẾ
GVHD: LÊ PHAN THỊ DIỆU THẢO DSHV : 1. DƯƠNG THỊ THÙY DUNG
2. NGUYỄN THỊ HUỆ
3. NGUYỄN VŨ THÂN
4. PHAN TRẦN MINH HƯNG
5. NGUYỄN QUANG TRUNG
6. HOÀNG THỊ HẢI YẾN
7. TRƯƠNG THỊ KIM YẾN
PHẦN 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VỀ TÌNH TRẠNG ĐÔ-LA HÓA Ở VIỆT
NAM 14
2.1. Giai đoạn trước khi mở cửa (1988) 14
2.2. Giai đoạn bắt đầu mở cửa đến trước khủng hoảng tài chính - khu vực 14
2.3. Giai đoạn từ khi khủng hoảng tài chính - khu vực đến nay 17
2.4. Đánh giá chung về tính chuyển đổi của VND và mức độ đô-la hóa 21
2.4.1 Tính chuyển đổi của VND 21
2.4.2 Mức độ đô la hóa 21
2.4.3 Nguyên nhân của thực trạng trên 23
2.4.4 Ảnh hưởng của đô la hóa đến nền kinh tế nước ta 31
PHẦN 3: CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA 32
3.1. Quan điểm, chủ trương của Đảng, chính phủ và ngân hàng nhà nước trong vấn
đề đô la hóa 32
3.2. Mục tiêu thực hiện đến năm 2010 32
3.3. Các giải pháp 33
3.3.1 Giảm dần thói quen sử dụng tiền mặt bằng ngoại tệ trong dân chúng 33
3.3.2 Tạo môi trường đầu tư trong nước có khả năng hấp thụ được số vốn ngoại
tệ hiện có 34
3.3.3 Các giải pháp trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng 34
3.3.4 Hạn chế dần đến xóa bỏ tự do sử dụng Đô-la hóa trên lãnh thổ Việt Nam .39
Tài Chính Quốc Tế Nhóm 7
riêng của nó vì vậy việc nhận định tác động của Đô la hóa đến nền kinh tế là vấn
đề thiết thực và cần tìm ra những phương hướng để phát huy những mặt tiêu cực
và hạn chế những mặt tiêu cực của nó. Vì thế nhóm đã chọn đề tài “Đô la hóa trong
nền kinh tế”
Tài Chính Quốc Tế Nhóm 7
Lớp: Tài chính – Ngân hàng CH9
4
Phần 1
:
TỔNG QUAN VỀ HIỆN TƯỢNG ĐÔ-LA HÓA
1.1. KHÁI NIỆM
Đô-la hóa (dollarization) là việc sử dụng một ngoại tệ để thực hiện một số hay
tất cả các chức năng của tiền tệ, quá trình một nước bỏ hoàn toàn đồng nội tệ và
thay vào đó sử dụng đồng tiền của nước khác ổn định hơn làm phương tiện thanh
toán. Nói cách khác, đô-la hóa xảy ra khi dân chúng trong một nước sử dụng rộng
rãi ngoại tệ, song song hoặc thay thế cho đồng tiền nội tệ của mình. Tuy khái niệm
này được gắn liền với đồng đô-la Mỹ, việc chuyển đổi ra bất kỳ ngoại tệ có tính ổn
Lớp: Tài chính – Ngân hàng CH9
5
Hình thức đơn giản nhất của đô-la hóa không chính thức là việc dân chúng có
thể gửi tiền ở ngân hàng bằng ngoại tệ hoặc cất trữ đô-la tiền mặt nhưng vẫn tiếp
tục dùng đồng tiền nội tệ trong hoạt động mua bán hàng ngày. Giai đoạn này
thường được gọi là “thay thế tài sản” bởi vì hành động này của dân chúng là
nhắm đến việc bảo đảm an toàn tài sản của mình khi có lạm phát xảy ra với đồng
tiền trong nước. Ở giai đoạn cao hơn, thường được gọi là “thay thế tiền tệ” đó là
lúc người ta dùng đô-la trong các giao dịch có giá trị lớn như mua xe, mua nhà và
sử dụng đô-la mặt như một phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ. Chỉ
những giao dịch thông dụng, có giá trị nhỏ như tiền điện, nước, mua sắm các vật
dụng hàng ngày hoặc những giao dịch mà chính phủ bắt buộc như nộp thuế, chi trả
tiền lương mới sử dụng bằng nội tệ. Giai đoạn cuối của tiến trình đô-la hóa không
chính thức là lúc dân chúng thường suy nghĩ và tính toán theo đô-la, giá của đồng
tiền trong nước luôn được quy ra theo đô-la.
Như vậy, nhìn chung đô-la hóa không chính thức là việc dân chúng cất giữ
các tài sản dưới những hình thức sau :
Chứng khóan nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào khác (không phải là tiền tệ)
của nước ngoài.
Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài.
Tiền gửi bằng ngoại tệ ở ngân hàng trong nước.
Ngoại tệ mặt.
Việc đo lường mức độ đô-la hóa không chính thức rất khó khăn vì người ta
không thể thống kê chính xác được lượng đô-la mặt mà dân chúng nắm giữ, số dư
tiền gửi bằng ngoại tệ ở trong nước và nước ngoài, giá trị của các tài sản nước
ngoài do dân chúng nắm giữ do đó người ta chỉ có thể ước đoán mức độ lưu hành
của đồng đô-la Mỹ và một số tiền tệ khác để đưa ra hình ảnh sơ bộ về sự phổ biến
của việc đô-la hóa không chính thức. Theo tính toán của Cục dự trữ liên bang Mỹ
thì người nước ngoài hiện đang nắm giữ khoảng 300 tỉ đô-la mặt tức là chiếm
chính phủ của một nước không phát hành nội tệ mà thay vào đó sử dụng đô-la Mỹ
hoặc một ngoại tệ khác như một tiền tệ chính thức (một số ít các nước đô-la hóa
chính thức có phát hành tiền xu nhưng vì tiền xu có mệnh giá thấp và thường là
một phần phụ trong cung tiền tệ nên có không ảnh hưởng đến đô-la hóa). Như vậy,
ở những nước này, ngoại tệ không chỉ sử dụng trong trao đổi mua bán giữa các cá
nhân mà còn là phương tiện thanh toán của chính phủ. Thông thường các nước chỉ
áp dụng đô-la hóa chính thức sau khi đã thất bại trong việc thực thi các chương
trình ổn định kinh tế.
Khi một nước thực hiện đô-la hóa chính thức thì mặc nhiên nó sẽ trở thành một
bộ phận trong khu vực tiền tệ thống nhất cùng với nước có đồng tiền mà nó đang
sử dụng. Và như vậy, nước đô-la hóa chính thức sẽ từ bỏ chính sách tiền tệ độc lập
của mình và áp dụng những chính sách tiền tệ của nước mà nó đang sử dụng đồng
tiền. Vì vậy, nước thực hiện đô-la hóa chính thức sẽ không thể phản ứng lại những
cú sốc kinh tế bằng cách thay đổi chính sách tỉ giá hối đoái của nước mình. Tuy
nhiên, nước này vẫn có thể sử dụng những phương cách khác như điều chỉnh dòng
vốn vào/ra, thay đổi chính sách giá, chính sách kinh tế
Các quốc gia bị đô-la hóa đồng tiền đều không phát hành đồng nội tệ, trong
khi đó cũng có một số nước, chẳng hạn như Panama, phát hành đồng nội tệ như là
sự lựa chọn thứ 2 của mình.
Các nước bị đô-la hóa không hoàn toàn và bán đô-la hóa, năm 2002
Đô-la hóa không chính thức (đồng đô-la Mỹ): hầu hết các nước Mỹ Latin và
Caribe, trong đó có : Argentina, Bolivia, Mexico, Peru, and Trung Mỹ; các nước
thuộc Liên Xô cũ, như : Armenia, Azerbaijan, Georgia, Russia, and Ukraine; 1 vài
nước khác, bao gồm : Mongolia, Mozambique, Romania, Turkey, and Vietnam.
Bán đô-la hóa (đồng đô-la Mỹ): Bahamas, Cambodia, Haiti, Laos (cũng có đồng
Thai baht), Liberia.
Đô-la hóa không chính thức (các đồng tiền khác) : franc Pháp – vài thuộc địa cũ
của Pháp ở châu Phi; mark Đức – các nước vùng Balkan; đô-la Hong Kong -
Macau và miền Nam Trung Quốc; rúp Nga - Belarus.
Tài Chính Quốc Tế Nhóm 7
muốn thanh toán thông thường thì các chủ thể mở tài khoản thanh toán bằng ngoại
tệ và lúc này đây thì ngoại tệ đang thay thế đồng nội tệ thực hiện chức năng của
tiền tệ.
Điều kiện để đồng ngoại tệ thực hiện chức năng thay thế đồng ngoại tệ trong
chức năng thanh toán thì đồng này thuộc quốc gia sản xuất nhiều hàng hóa có giá
trị được người dân quốc gia đó ưa chuộng và nhiều quốc gia ưu dùng. Ngoài ra còn
có những trường hợp đồng tiền của quốc gia không phải mạnh, lãi suất không cao
nhưng lại được các chủ thể trong nền kinh tế nắm giữ vì một lý do duy nhất là họ
có thể thanh toán hàng hóa mà họ cần như khi thanh toán hàng hóa bằng đồng
ngoại tệ tại các biên giới với các nước như Lào, Thái thì được gọi là Bath hóa; khi
thanh toán hàng hóa bằng ngoại tệ tại biên giới trung quốc gọi là Nhân dân tệ hóa.
1.3 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HIỆN TƯỢNG ĐÔ-LA HÓA:
Thứ nhất, một số quốc gia quyết định đô-la hóa một phần là do đất nước
đang phải đối đầu với tỉ lệ lạm phát không thể kiểm soát nổi và phá giá đồng nội tệ
Tài Chính Quốc Tế Nhóm 7
Lớp: Tài chính – Ngân hàng CH9
8
sẽ đe doạ toàn bộ nền kinh tế. Những người đang có trong tay đồng nội tệ sẽ đòi
một lãi suất rất cao để bù vào khoản trượt giá. Ngân hàng trung ương sẽ tăng lãi
suất để bảo vệ đồng nội tệ khỏi bị trượt giá quá nhanh. Trong hoàn cảnh nghiêm
trọng như vậy, rất nhiều nhà kinh doanh sẽ vay bằng ngoại tệ để được lãi suất thấp.
Việc người dân mất niềm tin vào đồng nội tệ và đổ xô mua đô-la sẽ làm cho đồng
nội tệ càng mất giá hơn. Bất chấp lãi suất cao, người dân vẫn giảm gửi tiền tiết
kiệm bằng nội tệ và nhiều nhà kinh doanh sẽ chuyển vốn của họ ra nước ngoài.
Thứ hai, trong điều kiện của thế giới ngày nay, hầu hết các nước đều thực thi
cơ chế kinh tế thị trường mở cửa; quá trình quốc tế hóa giao lưu thương mại, đầu
tư và hợp tác kinh tế ngày càng tác động trực tiếp vào nền kinh tế và tiền tệ của
mỗi nước, nên trong từng nước xuất hiện nhu cầu khách quan sử dụng đơn vị tiền
tệ thế giới để thực hiện một số chức năng của tiền tệ. Đô-la hóa ở đây có khi là nhu
Lớp: Tài chính – Ngân hàng CH9
9
sản tư nhân, khuyến khích tiết kiệm và cho vay dài hạn. Hơn nữa, ở những nước
này ngân hàng trung ương sẽ không còn khả năng phát hành nhiều tiền và gây ra
lạm phát, đồng thời ngân sách nhà nước sẽ không thể trông chờ vào nguồn phát
hành này để trang trải thâm hụt ngân sách, kỷ luật về tiền tệ và ngân sách được thắt
chặt. Do vậy, các chương trình ngân sách sẽ mang tính tích cực hơn.
Lợi ích thứ hai đến từ việc hạ thấp lạm phát hiện hành và hạ thấp rủi ro của lạm
phát trong tương lai. Bằng việc sử dụng ngoại tệ, một nước đô-la hóa chính thức
bảo đảm tỷ lệ lạm phát của nó gần hơn tỷ lệ lạm phát của nước phát hành. Sử dụng
đô-la, euro, yên sẽ giảm lạm phát xuống một con số từ hai con số, mức mà những
nước đang phát triển hiện đang gặp phải. Lạm phát ở mức thấp gia tăng sự an toàn
của sở hữu tư nhân. Tiền là loại sở hữu phổ biến nhất. Lạm phát là một loại thuế
đánh vào tiền, lạm phát càng thấp và càng ít thay đổi, quyền sở hữu tiền càng bảo
đảm hơn. Bởi vì những tài sản thuộc về tài chính khác được gọi bằng tiền (đơn vị
tiền tệ), lạm phát ở mức thấp cũng gia tăng sự an toàn của chúng,khuyến khích tiết
kiệm và cho vay dài hạn. Panama là quốc gia Mỹ Latin độc lập duy nhất hiện có tỷ
lệ thế chấp cho vay cố định trong 30 năm mà không có trợ cấp chính phủ bởi vì đó
là quốc gia duy nhất không chịu lạm phát cao và sự mất giá tiền tệ trong 15 năm
cuối. Lạm phát ỏ mức thấp cũng giúp những người nghỉ hưu, người có thu nhập cố
định,và những người quá nghèo có tài khoản ngân hàng bằng việc bảo đảm rằng
tiền tiết kiệm của họ giữ được giá trị.
- Tăng cường khả năng cho vay của ngân hàng và khả năng hội nhập quốc
tế. Với một lượng lớn ngoại tệ thu được từ tiền gửi tại ngân hàng, các ngân hàng sẽ
có điều kiện cho vay nền kinh tế bằng ngoại tệ, qua đó hạn chế việc phải vay nợ
nước ngoài, và tăng cường khả năng kiểm soát của ngân hàng trung ương đối với
luồng ngoại tệ. Đồng thời, các ngân hàng sẽ có điều kiện mở rộng các hoạt động
đối ngoại, thúc đẩy quá trình hội nhập của thị trường trong nước với thị trường
quốc tế. Đô-la hóa sẽ giúp cho một nước có lạm phát thấp và ít biến động và từ đó
1.4.2. Tác động tiêu cực
Đô-la hóa có thể gây ra hàng loạt các bất lợi và những hệ lụy phức tạp mà
các nước có đô-la hóa sẽ phải đối mặt. Đô-la hóa dù là không chính thức sẽ làm
suy giảm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về tiền tệ, gây khó khăn cho ngân hàng
trung ương trong việc điều hành và thực thi chính sách tiền tệ của mình thông qua
việc hạn chế và có thể “vô hiệu hóa” vai trò của lãi suất đồng nội tệ, tỉ giá hối đoái,
đặc quyền phát hành tiền của ngân hàng trung ương đồng thời cũng sẽ khiến cho
ngân hàng trung ương “đánh mất” vai trò là người cho vay sau cùng. Ở phương
diện này có thể coi đô-la hóa là một cuộc tấn công tiền tệ
- Đô-la hóa ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô.
Trong một nền kinh tế có tỷ trọng ngoại tệ lớn, việc hoạch định các chính sách
kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ sẽ bị mất tính độc lập mà chịu nhiều
ảnh hưởng bởi diễn biến kinh tế quốc tế, nhất là khi xẩy ra các cuộc khủng hoảng
kinh tế.
- Làm giảm hiệu quả điều hành của chính sách tiền tệ :
Gây khó khăn trong việc dự đoán diễn biến tổng phương tiện thanh toán,
do đó dẫn đến việc đưa ra các quyết định về việc tăng hoặc giảm lượng tiền trong
lưu thông kém chính xác và kịp thời.
Làm cho đồng nội tệ nhậy cảm hơn đối với các thay đổi từ bên ngoài, do
đó những cố gắng của chính sách tiền tệ nhằm tác động đến tổng cầu nền kinh tế
thông qua việc điều chỉnh lãi suất cho vay trở nên kém hiệu quả.
Tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá. Đô-la hóa có
thể thực thi chính sách tỷ giá. Đô-la hóa có thể làm cho cầu tiền trong nước không
ổn định, do người dân có xu hướng chuyển từ đồng nội tệ sang đô-la Mỹ, làm cho
cầu của đồng đô-la Mỹ tăng mạnh gây sức ép đến tỷ giá. Khi các đối thủ cạnh
tranh trên thị trường thế giới thực hiện phá giá đồng tiền, thì quốc gia bị đô la hóa
sẽ không còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranh của khu vực xuất khẩu thông qua
việc điều chỉnh lại tỷ giá hối đoái.
Tài Chính Quốc Tế Nhóm 7
vào các hoạt động kinh tế.
- Đô-la hóa chính thức sẽ làm mất đi chức năng của ngân hàng trung ương
là người cho vay cuối cùng của các ngân hàng. Trong các nước đang phát triển
chưa bị đô-la hóa hoàn toàn, mặc dù các ngân hàng có vốn tự có thấp, song người
dân vẫn tin tưởng vào sự an toàn đối với các khoản tiền gửi của họ tại các ngân
hàng. Nguyên nhân là do có sự bảo lãnh ngầm của Nhà nước đối với các khoản
tiền này. Điều này chỉ có thể làm được đối với đồng tiền nội tệ, chứ không thể áp
dụng được đối với đô-la Mỹ. Đối với vác nước đô-la hóa hoàn toàn, khu vực ngân
hàng sẽ trở nên bất ổn hơn trong trường hợp ngân hàng thương mại bị phá sản và
sẽ phải đóng cửa khi chức năng người cho vay cuối cùng của ngân hàng trung
ương đã bị mất.
Bên cạnh đó, xét về khía cạnh chi phí thì khi xảy ra đô-la hóa, chính phủ sẽ
mất đi chênh lệch giá phí tức là khoản chênh lệch giữa chi phí khi đưa đồng tiền
Tài Chính Quốc Tế Nhóm 7
Lớp: Tài chính – Ngân hàng CH9
12
vào lưu thông và giá trị hàng hóa mà đồng tiền đó mua được (ở đây, khái niệm
chênh lệch giá phí áp dụng cho toàn bộ cơ số tiền đang lưu hành cộng với dự trữ
ngân hàng). Nghiên cứu của Stanley Fischer, Phó giám đốc điều hành của IMF vào
năm 1982 đã chia chênh lệch giá phí từ đô-la hóa ra làm hai phần là “stock cost” và
“flow cost”. Theo Fischer, “stock cost” là chi phí một lần ban đầu khi đưa một
lượng tiền giấy, tiền xu đô-la cần thiết để thay cho đồng nội tệ đang lưu hành và
Fischer ước tính chi phí này chiếm khoảng 8% GNP với nhận định rằng càng nhiều
người thích sử dụng tiền giấy và tiền xu nhiều hơn séc và thẻ tín dụng thì “stock
cost” càng cao. Còn “flow cost” là chi phí liên tục mất đi do tiền giấy và tiền xu
không sinh lãi và tỉ lệ lạm phát càng cao thì “flow cost” càng cao với ước tính
khoảng 0,75% đến 1% GNP mỗi năm. Ngoài ra, nước thực hiện đô-la hóa còn phải
chịu các chi phí khác như chi phí cho một lần chuyển đổi giá cả, thay đổi chương
trình máy tính, thay thế hệ thống máy bán hàng tự động, máy rút tiền và cả những
Lớp: Tài chính – Ngân hàng CH9
13
Phần 2
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VỀ TÌNH TRẠNG ĐÔ-LA
HÓA Ở VIỆT NAM
Do đặc thù của cơ chế quản lý và biến động của kinh tế thế giới có ảnh hưởng
đến Việt Nam, việc đánh giá tính chuyển đổi của VND và mức độ Đô-la hóa sẽ
chia thành ba giai đoạn.
2.1. GIAI ĐOẠN TRƯỚC KHI MỞ CỬA (1988)
Việt Nam thực hiện cơ chế quản lý tập trung bao cấp. Nhà nước nắm độc quyền
về ngoại thương, ngoại hối. Quy mô nền kinh tế nhỏ, khả năng cạnh tranh của hàng
hóa, dịch vụ rất thấp, kinh tế đối ngoại kém phát triển, hệ thống ngân hàng còn sơ
khai. Điều lệ quản lý ngoại hối ban hành kèm theo Nghị định số 102/CP ngày 06
tháng 7 năm 1963 của Chính phủ nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân sở hữu, sử
dụng ngoại tệ trong nước (kể cả việc cất trữ, mang theo người), mọi giao dịch
trong nước phải thực hiện bằng VND. Việc chuyển đổi VND sang ngoại tệ được
thực hiện theo kế hoạch với cơ chế đa tỷ giá (tỷ giá mậu dịch, tỷ giá phi mậu dịch)
do Nhà nước công bố. Xuất nhập khẩu và thanh toán quốc tế chủ yếu theo các Hiệp
định song biên - đa biên, đồng tiền sử dụng trong quan hệ thanh toán đối ngoại
thường là đồng Rúp chuyển nhượng và đồng Nhân dân tệ mậu dịch. Vì vậy, khả
năng chuyển đổi của VND rất hạn chế. Về cuối giai đoạn xuất hiện dấu hiệu của
khủng hoảng kinh tế, VND suy yếu mạnh sau thất bại của chính sách giá - lương -
tiền, lạm phát tới 3 con số và liên tục có các đợt tăng giá vàng. Trong dân cư xuất
hiện việc mua vàng, ngoại tệ để tích trữ, đầu cơ giá và sử dụng làm phương tiện
thanh toán. Tuy nhiên mức độ ĐLH là không đáng kể do độ mở của nền kinh tế
còn rất nhỏ.
2.2 . GIAI ĐOẠN BẮT ĐẦU MỞ CỬA ĐẾN TRƯỚC KHỦNG HOÀNG TÀI
CHÍNH - TIỀN TỆ KHU VỰC (1988 - 1997)
2.2.1. Tính chuyển đổi của VND
mà không cần biết nguồn gốc của ngoại tệ. Ngày 16/08/1991 NHNN ra quyết định
số 107/NH/QĐ về việc ban hành quy chế tổ chức cách thức hoạt động của trung
tâm giao dịch ngoại tệ, NHNN đã ra quyết định này nhằm mục đích thể hiện được
vai trò của thị trường ngoại hối trong nền kinh tế, sự quản lý của Ngân hàng Nhà
nước trong quản lý ngoại hối và từng bước hình thành thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng và quyết định số 48/QĐ-NH7 cho phép mọi thành phần kinh tế được gửi tiết
kiệm bằng ngoại tệ và có thể rút ra bằng ngoại tệ hoặc VND.
- Giao dịch vãng lai: tổ chức được mua ngoại tệ để thanh toán nhập khẩu, trả lãi
khoản vay nước ngoài hoặc chuyển lợi nhuận về nước của Nhà đầu tư nước ngoài
theo tỷ giá giao dịch của Ngân hàng. Kiều hối được khuyến khích chuyển ngoại tệ
về, được gửi vào ngân hàng và được rút ra bằng ngoại tệ. Công dân Việt Nam khi
có nhu cầu về ngoại tệ để đi công tác, học tập, lao động, du lịch chữa bệnh ở nước
ngoài được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) xem xét cấp phép cho mua số ngoại tệ
cần thiết.
- Giao dịch vốn: tổ chức kinh tế được vay nước ngoài và mua ngoại tệ để trả nợ
nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài được phép mua ngoại tệ trong một số trường
hợp đặc biệt (xây dựng hạ tầng hoặc sản xuất hàng thay thế nhập khẩu). Tuy nhiên,
còn nhiều hạn chế như: nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện chế độ tự cân đối
ngoại tệ, việc tiếp cận ngoại tệ phải có giấy phép của NHNN, vay nợ nước ngoài
phải được sự chấp thuận của NHNN, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài không được
vay ngoại tệ của ngân hàng.
- Khả năng đáp ứng ngoại tệ: khả năng đáp ứng ngoại tệ của Hệ thống Ngân
hàng được cải thiện hơn do xuất khẩu tăng và nguồn vốn dài hạn nước ngoài vào
nhiều qua vay nợ và đầu tư trực tiếp. Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng bắt đầu
phát huy tác dụng. Tỷ giá chính thức vẫn do NHNN công bố nhưng linh hoạt hơn
do đã áp dụng biên độ tỷ giá. Về cuối giai đoạn, khi khu vực bị khủng hoảng, vay
Tài Chính Quốc Tế Nhóm 7
Lớp: Tài chính – Ngân hàng CH9
15
‘Nguồn : IMF : Staff Country Report No.00/116’
Bảng 2.2.2.2: Cơ cấu tiền gửi trong tổng huy động vốn của hệ thống ngân
hàng từ 1991-1997
Đơn vị tính: %
Năm 1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
Ngoại
tệ
61,8 50,3 41,1 38,9 33 31,4 33,1
VND 38,2 49,7 58,9 61,1 67 68,6 66,9
‘Nguồn : IMF : Staff Country Report No.00/116’
Tài Chính Quốc Tế Nhóm 7
Lớp: Tài chính – Ngân hàng CH9
16
2.3. GIAI ĐOẠN TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ KHU VỰC
63/1998/NĐ-CP về quản lý ngoại hối cùng với một loạt các văn bản quy phạm
pháp luật khác có liên quan đến quản lý ngoại hối. Các chính sách mới được ban
hành là một tiến bộ về cơ chế quản lý ngoại hối theo hướng chuyên nghiệp và phù
hợp hơn với thông lệ quốc tế.
- Giao dịch vãng lai: hình thành cơ bản xu hướng tự do hóa các giao dịch vãng
lai so với quy định của IMF. Chỉ còn một số hạn chế liên quan đến thuế chuyển lợi
nhuận ra nước ngoài của doanh nghiệp FDI, hạn chế chuyển ngoại tệ ra nước ngoài
của các cá nhân.
Tài Chính Quốc Tế Nhóm 7
Lớp: Tài chính – Ngân hàng CH9
17
- Giao dịch vốn: có một số nới lỏng hơn về kiểm soát vay ngắn hạn nước ngoài
và điều kiện vay nợ nước ngoài, các doanh nghiệp được quyền tự chủ trong việc
thoả thuận, ký kết hợp đồng vay vốn nước ngoài, sau đó phải thực hiện đăng ký
khoản vay với NHNN (trừ trường hợp là doanh nghiệp nhà nước). Xoá bỏ chế độ
tự cân đối ngoại tệ đối với doanh nghiệp FDI.
- Khả năng đáp ứng ngoại tệ: do ảnh hưởng của khủng hoảng và tình trạng đầu
cơ, găm giữ ngoại tệ nên khả năng đáp ứng ngoại tệ của hệ thống ngân hàng gặp
khó khăn. Để điều hoà cung - cầu, Chính phủ đã phải áp dụng chế độ kết hối ngoại
tệ với tỷ lệ rất cao, đồng thời phải áp dụng một số hình thức ưu tiên bán ngoại tệ,
giấy phép mua ngoại tệ đối với doanh nghiệp FDI. Trong thời gian này, tỷ giá hối
đoái của VND có biến động do ảnh hưởng của khủng hoảng.
b) Mức độ Đô-la hóa
Sau một thời gian giữ ổn định ở mức tương đối thấp khoảng trên 20%, tỷ lệ
FCD/M2 lại có dấu hiệu tăng lên trong giai đoạn này và đến năm 2000 - 2001 đã
tăng cao trở lại đến gần 30%. Nguyên nhân là trong suốt một thời gian dài, kinh tế
Mỹ tăng trưởng cao và ổn định làm cho đồng USD hấp dẫn hơn các ngoại tệ khác.
Mặt khác, các chính sách mới ban hành đã tạo sự tin tưởng của người dân, thu hút
được một lượng lớn ngoại tệ từ thị trường tự do vào hệ thống ngân hàng. Tâm lý
được bổ sung nhằm phát triển thị trường ngoại hối qua việc hoàn thiện các công cụ
phái sinh để tạo điều kiện tiến đến một cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn.
- Giao dịch vãng lai: để thực hiện kế hoạch gia nhập WTO, Việt Nam đã thực
hiện tự do hóa giao dịch vãng lai và điều này đã được IMF công nhận.
- Giao dịch vốn: đã bỏ quy định về thời hạn chuyển ngoại tệ sau 01 năm đối với
đầu tư chứng khóan. Giao dịch vốn còn những hạn chế sau:
+ Doanh nghiệp nhà nước vay nước ngoài phải có ý kiến của NHNN trước khi
ký Hợp đồng vay.
+ Doanh nghiệp FDI vẫn còn danh mục ưu tiên cân đối ngoại tệ.
+ Còn hạn chế tỷ lệ góp vốn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
+ Chưa có quy định về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.
+ Đầu tư của nước ngoài vào thị trường chứng khóan còn bị hạn chế về tỷ lệ
mua và tỷ lệ nắm giữ.
+ Góp vốn mua cổ phần của Nhà đầu tư nước ngoài còn bị hạn chế.
+ Còn hạn chế các hình thức vay nước ngoài.
- Khả năng đáp ứng ngoại tệ: quan hệ cung cầu ngoại tệ có sự cải thiện đáng kể
do cơ chế tỷ giá đã có sự thay đổi cơ bản. Tuy NHNN vẫn công bố tỷ giá bình
quân thị trường ngoại tệ liên ngân hàng nhưng biên độ đã nới rộng ra +/- 0,5%.
Đồng thời đã mở rộng thời gian của giao dịch kỳ hạn (từ 3 ngày đến 365 ngày), bỏ
các trần kỳ hạn cố định để xác định tỷ giá kỳ hạn theo mức chênh lệch lãi suất giữa
hai đồng tiền. Đặc biệt, NHNN đã cho áp dụng thí điểm giao dịch quyền chọn với
mức phí theo thoả thuận. Với những quy định hiện hành, tỷ giá đã phản ánh tương
đối sát với quan hệ cung - cầu ngoại tệ trên thị trường cũng như kỳ vọng về giá trị
đối ngoại của VND. Tuy đến nay chưa có một khiếu nại nào đối với việc không
mua được ngoại tệ để đáp ứng các giao dịch vãng lai và giao dịch vốn theo quy
định nhưng thực tế khả năng đáp ứng ngoại tệ của các NHTM không cao qua việc
nhiều Dự án FDI vẫn yêu cầu được Chính phủ đảm bảo cân đối ngoại tệ, vẫn tồn
tại chế độ ưu tiên bán ngoại tệ để nhập khẩu xăng dầu. Hơn nữa, lạm phát cao và
nhập siêu gia tăng trong khi Dự trữ ngoại hối Nhà nước còn hạn chế là những vấn
đề đang và tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực đến tính chuyển đổi của VND.
đã thực hiện tự do hóa các giao dịch vãng lai và tiếp tục tự do hóa có chọn lọc các
giao dịch vốn. Khả năng đáp ứng ngoại tệ của hệ thống ngân hàng cũng liên tục
được cải thiện qua việc đổi mới cơ chế tỷ giá và sự phát triển, hoàn thiện các công
cụ phái sinh trên thị trường ngoại tệ. Tuy nhiên, căn cứ vào trình độ phát triển của
nền kinh tế, mức độ ĐLH, trình độ của Hệ thống Ngân hàng, dịch vụ thanh toán,
quy mô và hiệu quả hoạt động của các thị trường tài chính, sự bất tiện trong sử
dụng, và đặc biệt sự gia tăng của chỉ số lạm phát thì có thể nói rằng, vị thế của
VND chưa cao, chưa được thị trường thực sự tin tưởng và ưa thích; về tính chuyển
đổi quốc tế thì VND hầu như vẫn chưa có khả năng chuyển đổi ở nước ngoài. Bên
cạnh đó, chính sách quản lý ngoại hối vẫn còn nhiều hạn chế, cơ chế tỷ giá còn
thiếu linh hoạt, thị trường ngoại tệ (nhất là thị trường ngoại tệ liên ngân hàng) còn
kém phát triển, chu chuyển ngoại tệ chưa thông suốt làm giảm khả năng đáp ứng
ngoại tệ. Các yếu tố trên đã hạn chế tính chuyển đổi của VND. Biểu đồ 2 Tỉ giá giữa VND và USD
2.4.2. Mức độ ĐLH
Căn cứ mức độ sử dụng ngoại tệ để thay thế các chức năng của VND thì mức
độ ĐLH trong nền kinh tế khá trầm trọng. Tỷ lệ FCD/M2 lúc lên cao, lúc hạ thấp,
tuy nhiên, do tiết kiệm ngoại tệ được rút ra bằng ngoại tệ tiền mặt nên không phản
ánh được mức độ ĐLH thực sự. Vấn đề gây hậu quả nhiều nhất là khối lượng ngoại
tệ trôi nổi trong dân cư, không kiểm soát được, gây ra hiện tượng thanh toán, định
Tài Chính Quốc Tế Nhóm 7
Lớp: Tài chính – Ngân hàng CH9
21
giá và kinh doanh ngoại tệ trái phép. Nếu lấy lượng kiều hối chuyển về Việt Nam
trong thời gian qua trừ đi số ngoại tệ các ngân hàng huy động được của dân cư thì
ước tính số ngoại tệ trôi nổi ngoài thị trường bằng khoảng 1/3 kim ngạch nhập
khẩu năm 2004.
Trước tình hình đó, 14/9/1985 Nhà nước tiến hành đổi tiền lần 4 theo tỷ lệ 10đ tiền
NHNN cũ ăn 1đ tiền NHNN mới. Đây là cuộc cách mạng tiền tệ theo trật tự ngược
Tiền – Lương – Giá. Sau đổi tiền tình trạng lạm phát càng tăng cao, 1986 lạm phát
đạt 774%. Tháng 3 năm 1989 Việt Nam duy trì một hệ thống tỷ giá hối đoái có
nhiều mức khác nhau đều có lợi cho nhập khẩu. Để hỗ trợ hoạt động xuất khẩu
(năm 1989 Việt Nam đẩy mạnh đổi mới nền kinh tế nhằm mở rộng tự do hóa nền
kinh tế và thay đổi sản xuất công nghiệp từ thay thế nhập khẩu sang định hướng
Tài Chính Quốc Tế Nhóm 7
Lớp: Tài chính – Ngân hàng CH9
23
xuất khẩu), tỷ giá VND so với USD được phá giá cho các giao dịch thương mại
trong khuôn khổ các kế hoạch Trung ương. Biến động tỷ giá được thể hiện qua
bảng sau:
Đvt: Đồng/USD
Năm Tỷ giá cũ Tỷ giá mới
Tháng 9/1988 225 900
1989 4.000
1992 11.500
1993 10.750
1994 10.800
1995 11.000
Ngay cả các Ngân hàng thương mại cũng có hiện tượng này. Hiện các Ngân
hàng đang có cơ cấu dự trữ ngoại tệ bất hợp lý, trong khi thừa USD nhưng lại thiếu
trầm trọng các ngoại tệ khác như Euro, Nhân dân tệ, Yên Nhật. Châu Âu, Trung
Quốc, Nhật Bản là những đối tác thương mại ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong
cán cân xuất nhập khẩu của Việt Nam, nhưng khi doanh nghiệp có nhu cầu các
công khai tuy NHNN đã có quy định cấm niêm yết quảng cáo bằng ngoại tệ đối
với các doanh nghiệp không có thu bằng ngoại tệ (Số 985/NHNN-QLNH). Trong
thời gian gần đây hoạt động niêm yết mua bán ngoại tệ tự do không còn công khai
nhưng hoạt động mua bán ngọai tệ ngầm vẫn tiếp diễn. Các quầy thu đổi chính
thức không kiếm chác được bao nhiêu nếu theo đúng nghĩa vụ với ngân hàng,do đó
họ làm theo kiểu thỏa thuận với nhau, họ đổi ngoại tệ cho cả những người lý ra
không được đổi, bán cho những người lẽ ra không được bán. Bên cạnh đó, tâm lý
người dân và các doanh nghiệp thích vẫn thích mua bán trên thị trường chợ đen, đã
làm cho một số lớn ngoại tệ chui vào túi tư nhân. Ngân hàng muốn thu mua ngoại
tệ mà không được vì ba lý do:
- Thứ nhất: Tỷ giá hối đoái của VND/USD cố định và biên độ giao động thấp
khoảng 0.25%, điều này tạo một khoảng cách giữa thị trường ngoại tệ tự do và tỷ
giá công bố của ngân hàng thương mại nên người dân có đôla thường đi đổi tại các
nơi đổi tiền của tư nhân có lợi hơn là ra ngân hàng.
- Thứ hai: đổi tiền tại các địa điểm tư thường dễ dàng và nhanh chóng hơn và
không bị các thủ tục hành chánh rườm rà chi phối. Theo quy định hiện nay của
NHNN, ở các ngân hàng cánhân doanh nghiệp khi mua ngoại tệ phải có mục đích
rõ ràng và có các chứng từ chứng minh cho mục đích hợp pháp.
- Thứ ba: Ngân hàng nhà nước hay những ngân hàng được phép kinh doanh
ngoại tệ thường không đủ đôla để cấp cho các doanh nghiệp có nhu cầu nhập cảng
hàng hóa hay dịch vụ nên các cơ sở này phải mua đôla của tư nhân. Bên cạnh đó,
ta phải nhận thức ra tâm lý thích sử dụng, cất trữ ngoại tệ đã ngấm sâu vào tư
tưởng của một bộ phận tầng lớp dân cư. Có thể sử dụng ngoại tệ tiện lợi, gọn gàng
hơn so với VND. Thực tế, nếu trong một chuyến công cán, một người cần chi tiêu
khoảng 30 triệu đồng , thì người đó cần phải mang theo 60 tờ 500.000 hoặc 300 tờ
100.000. Nhưng nếu mang bằng USD chỉ cần khoảng 20 tờ 100 đô, nếu bằng EUR
chỉ cần 3 tờ 500 EUR. Rất là tiện lợi, ở đâu cũng chấp nhận, cũng có thể đổi được.
Tình trạng tham nhũng cũng góp phần tạo nên hiện tượng đôla hóa xã hội
nhất là khi đi phong bì bằng ngoại tệ vừa gọn vừa lịch sự. Đây chính là những nỗi
nhức nhối bức xúc là vấn đề nan giải đối với nhà nước nếu muốn hạn chế “đôla
kiều hối về thông qua các ngân hàng trên địa bàn Tp.HCM là khoảng 1.700 triệu
đô la.
Đơn vị tính: Triệu USD
N
ăm
Lư
ợ
ng ki
ề
u
hối
Năm
Lư
ợ
ng ki
ề
u
hối
1991 35 2001 1.820
1992 136,6 2002 2.150
1993 140,98 2003 2.580
1994 249,47 2004 3.800
1995 284,96 2005 4.400
1996 468,99 2006 5.200
1997 400 2007 6.700
1998 950 2008 7.200
1999 1.200 2009 6.283
2000 1.757