Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2009
Bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính ở Mỹ cuối năm 2007, khủng hoảng kinh tế đã lan rộng ra toàn
cầu gây ảnh hưởng tiêu cực đến các nước trên thế giới.
1. Diễn biến và hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
Trước hết và đồng thời cũng là biểu hiện tập trung nhất mà cuộc khủng hoảng này gây ra là làm ảnh
hưởng nặng nề đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu, rất ít nền kinh tế giữ đc mức tăng trưởng dương, ngay ở
nơi chịu tác động chưa phải là nghiêm trong nhất của sự khủng hoảng như khu vực sử dụng đồng Euro.
Tình trạng sản xuất kinh doanh trì truệ đã làm cho vấn đề lao động việc làm càng thêm căng thẳng. Theo
BBC thất nghiệp tại Mỹ trong tháng 01.2009 là 7,6%. Ngay khi nền kinh tế này đã có dấu hiệu phục hồi
trong quý II , tỉ lệ thất nghiệp vẫn tăng lên 8,5%. Ở các nước tư bản khác, nhiều công ty cũng phải liên tục
cắt giảm công nhân. Điều này ko những làm gia tăng số người tại các nước đó thất nghiệp , mà còn buột
lao động nhập khẩu cũng phải lũ lượt hồi hương. Trong các lĩnh vực kinh tế thì tài chính, tiền tệ là nơi bị
tổn thương nhiều nhất. một số tổ chức tài chính tiền tề có tầm cỡ và bề dày lịch sử của Âu-Mỹ như công ty
AIG, bear stearns… đã không trụ nổi trước sự tàn phá của cơn bảo tài chính. Chỉ riêng ngân hàng Mỹ,
CNN money trong 7 tháng của năm 2009 có đến 69 ngân hàng sụp đổ ( nhiều gắp 3 lần năm 2008), khiến
các tập đoàn bảo hiểm phải chi ra số tiền bảo hiểm lên đến 15,13 tỉ USD. Ở cấp độ toàn cầu, cũng không
có lĩnh vực kinh tế nào tránh được tác động xấu của cuộ khủng hoảng. trong 2 tháng đầu năm 2009 xuất
khẩu của các nước trung Quốc, Nhật Bản, Mexico, Nga và Mỹ giảm it nhất 25%. Ở khu vực Đông Âu, một
số nước như Hungari và Ba Lan, hiện chỉ còn biết trong cậy vào các khoảng cho vai khẩn cấp của Quỹ tiền
tệ quốc tế ( IMF). Sự suy giảm kinh tế do cuộc khủng hoảng này gây ra mang tính bất ổn và sâu sắc trên
quy mô toàn cầu với sự sụt giảm GDP của thế giới lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2.
2. Nguyên nhân cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lan tỏa từ khủng hoảng tài chính Mỹ, bắt nguồn từ chính sách cho
vay tín dụng dưới chuẩn (hay còn gọi là tín dụng thế chấp rủi ro cao đối với thị trường bất động sản), thực
hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, "đồng USD rẻ" duy trì trong thời gian dài của chính quyền Mỹ, trong khi
thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ của Chính phủ, đã dẫn đến sự hình thành "siêu bong bóng" tài chính và bất
động sản.
(*)
Sự phát triển của nhiều dịch vụ và sản phẩm tài chính mới trong lĩnh vực tài chính ngân hàng,
biến đổi các khoản cho vay thành công cụ đầu tư, khiến thị trường tín dụng phục vụ cho thị trường bất
động sản trở thành sân chơi cho nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước. Chính việc phá sản của các tập
trường kinh doanh, nhằm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh và nhanh chóng thích ứng được với
những thay đổi trên thị trường trong thời gian tới
- các doanh nghiệp cần tìm cách thu hút vốn đầu tư, xem xét lại chiến lược về thị trường cho phù hợp với
điều kiện mới. Họ có thể mở rộng thị trường ở những địa điểm mới, hoặc chú ý vào những phân khúc
khách hàng, sản phẩm dịch vụ tối ưu hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro.
- doanh nghiệp phải đảm bảo để các chủ trương, kế hoạch chiến lược của công ty được thực hiện khẩn
trương và quyết liệt. Khủng hoảng xảy ra rất nhanh nên cần thực hiện các quyết định một cách nhanh
chóng hơn để tận dụng những cơ hội ngày càng hiếm, từ đó đưa ra những điều chỉnh khi mà tình hình
phát triển theo hướng không có lợi cho doanh nghiệp.
- các doanh nghiệp cần đánh giá lại cách đối phó với rủi ro như: rủi ro về thị trường, tín dụng, hợp đồng,
đối tác... để xây dựng một cơ chế kiểm soát chặt chẽ
- Nguồn lực con người cũng cần được quan tâm sau khủng hoảng. Các công ty cần tiến hành các biện
pháp để giữ chân cũng như thu hút thêm nhiều nhân tài mới bởi họ sẽ là người giải quyết được những vấn
đề phức tạp của thị trường
- các bên lợi ích liên quan phải minh bạch về thông tin để đảm bảo niềm tin cho các cổ đông và các hoạt
động liên quan đến tương lai của doanh nghiệp.