GIẢI PHÁP NHẰM XÂM NHẬP CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU CỦA NGÀNH NÔNG SẢN VIỆT NAM SAU KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI - Pdf 25

Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa là xu hướng tất yếu trong thời đại ngày nay khi các rào cản đối
với các dòng chảy về thông tin, ý tưởng, các nhân tố về vốn và lao động có kỹ năng,
công nghệ và hàng hóa đang dần được giỡ bỏ. Điều này làm ranh giới phân cách các
quốc gia dần bị xóa mờ, tạo cơ hội cho các nước tham gia sâu và rộng hơn vào quy
trình sản xuất các sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho lợi ích chung của con người. Mỗi
nước, với ý thức về tiềm năng và năng lực của mình đã chuyên môn hóa, tập trung
vào lĩnh vực hoặc một số khâu trong quy trình sản xuất có lợi thế so sánh như thiết
kế, sản xuất, chế biến, phân phối,… để có thể thu lại lợi ích nhiều nhất từ quá trình
hội nhập. Vì vậy, hàng hóa không chỉ được thực hiện giá trị tại một quốc gia mà có
khi là hai quốc gia, ba quốc gia hoặc nhiều hơn nữa, từ đó tạo thành các chuỗi giá trị
toàn cầu.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2009 xuất phát từ khủng hoảng tài
chính Mỹ vừa qua đã tác động tới tất cả các mặt của kinh tế toàn cầu cũng như các
khâu của quá trình thực hiện giá trị trong các chuỗi giá trị toàn cầu. Trong đó, hàng
nông sản cũng không phải là ngoại lệ, đặc biệt khi việc sản xuất nông sản chủ yếu
được thực hiện tại các quốc gia đang phát triển - những nước yếu thế, dễ bị tổn
thương và thường chịu thiệt thòi hơn khi tham gia thương mại tự do.
Nông sản nước ta mặc dù đã đạt được một số thành công nhất định khi tham gia
thị trường thế giới song vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu vẫn còn thấp.
Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, ngành hàng này cũng phải chịu không ít ảnh hưởng
tiêu cực; do đó, những yếu kém của việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu nông sản của
Việt Nam mới được bộc lộ rõ ràng hơn bao giờ hết, cho thấy việc thụ động phụ thuộc
vào diễn biến thị trường thay vì chủ động tạo ra chỗ đứng cho mình trong chuỗi của
các doanh nghiệp cũng như người nông dân.
Trước những vấn đề đó, khóa luận tốt nghiệp này có tên : “GIẢI PHÁP
NHẰM XÂM NHẬP CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU CỦA NGÀNH NÔNG
SẢN VIỆT NAM SAU KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI” với hy vọng
1

Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
Chương 2: Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và vị thế của hàng
nông sản Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu;
Chương 3: Giải pháp nhằm xâm nhập chuỗi giá trị toàn cầu cho hàng nông sản
Việt Nam sau khủng hoảng kinh tế thế giới.
Lời cảm ơn
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Quản trị kinh
doanh, các phòng ban khác của trường Đại học Ngoại Thương cùng toàn thể các thầy
cô giáo đã truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện học tập và môi trường rèn luyện cho em
trong suốt bốn năm qua. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Th.s Nguyễn Thị
Thu Trang – giảng viên đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ em hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp này.
Bên cạnh đó, em cũng bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, những người thân và
bạn bè đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và
nghiên cứu vừa qua.
Dù đã cố gắng nỗ lực hết mình song với vốn kiến thức còn hạn chế của tác giả
và thời gian nghiên cứu không nhiều, khóa luận này chắc chắn không thể tránh khỏi
sai sót. Vì vậy rất mong các thầy cô cùng các bạn đóng góp ý kiến để em hoàn thiện
nghiên cứu của mình hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2010
Sinh viên thực hiện: Ngô Thị Tú Anh
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỀM VÀ CÁC CÔNG CỤ PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ
TRỊ TOÀN CẦU
1. Khái niệm
 Giá trị
3
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
Theo quan niệm của C.Mác trong bộ Tư bản, quá trình sản xuất hàng hóa tư bản

Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
thành mạng lưới sản xuất quốc tế là một trong những điều kiện quyết định sự ra đời
của nền kinh tế thế giới hay nói cách khác nền kinh tế thế giới, về thực chất, là tập
hợp của các chuỗi giá trị toàn cầu của các ngành sản xuất hoặc tổ hợp của các chuỗi
sản phẩm và dịch vụ.
 Chuỗi giá trị
Có ba luồng nghiên cứu chính về chuỗi giá trị, đó là:
i) Filièle (Chuỗi):
Phương pháp Filièle (filièle có nghĩa là chuỗi, mạch) gồm các trường phái tư
duy và truyền thống nghiên cứu khác nhau. Khởi đầu, phương pháp này được dùng
để phân tích hệ thống nông nghiệp của các nước đang phát triển trong hệ thống thuộc
địa của Pháp. Phân tích chủ yếu là công cụ để nghiên cứu cách thức mà các hoạt
động sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là cao su, bông, cà phê và dừa) được tổ chức tại
các nước đang phát triển. Trong bối cảnh này, khung Filièle chú trọng đặc biệt đến
các hệ thống sản xuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương
mại, xuất khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng.
Khái niệm chuỗi (filièle) bao hàm nhận thức kinh nghiệm thực tế được sử dụng
để lập sơ đồ dòng chuyển động của hàng hóa và xác định những người tham gia vào
các hoạt động. Tuy nhiên, phương pháp này chủ yếu tập trung vào vấn đề của các
mối quan hệ vật chất và kỹ thuật định lượng, được tóm tắt trong sơ đồ dòng chảy của
các hàng hóa và sơ đồ mối quan hệ chuyển đổi. Phân tích Filièle có hai đặc điểm nổi
bật sau:
- Việc đánh giá chuỗi giá trị về mặt kinh tế và tài chính chú trọng vào vấn đề
tạo và phân phối thu nhập trong chuỗi hàng hóa, phân tích các chi phí cũng như thu
nhập giữa các thành phần kinh doanh nội địa và quốc tế để nghiên cứu ảnh hưởng của
chuỗi đến nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp của nó vào GDP.
- Phân tích chuỗi lấy sự phát triển của nông nghiệp làm trọng tâm nghiên cứu;
quan tâm tới các vấn đề như sự tương tác lẫn nhau giữa các đối tượng tham gia,
những cản trở và kết quả thu được cho mỗi bên liên quan trong chuỗi, các chiến lược
cá nhân và tập thể cũng như các hình thái quy định. Chẳng hạn ở châu Phi có bốn loại

HÌNH 1: KHUNG PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CỦA M.PORTER
6
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
Nguồn: Michael Porter, 1985
Một cách khác để tìm ra lợi thế cạnh tranh là dựa vào khái niệm hệ thống giá
trị; thay vì chỉ phân tích lợi thế cạnh tranh của một công ty duy nhất, có thể xem các
hoạt động của công ty như một phần của chuỗi các hoạt động rộng hơn mà Porter gọi
là hệ thống giá trị. Một hệ thống giá trị bao gồm các hoạt động do tất cả các công ty
tham gia trong việc sản xuất một hàng hóa hoặc dịch vụ thực hiện, bắt đầu từ nguyên
liệu thô đến phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng. Vì vậy, khái niệm hệ thống giá
trị rộng hơn so với khái niệm chuỗi giá trị của doanh nghiệp.
iii) Phương pháp tiếp cận toàn cầu
Khái niệm các chuỗi giá trị được Gary Gereffi (Duke University) lần đầu tiên áp
dụng để phân tích toàn cầu hoá, tìm hiểu cách thức mà các công ty và các quốc gia
hội nhập toàn cầu và để đánh giá các yếu tố quyết định đến phân phối thu nhập toàn
cầu. Sau đó, Raphael Kaplinsky [21;4] đưa ra những khái niệm về chuỗi giá trị như
sau:
Theo nghĩa hẹp (giản đơn): Chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động cần có để
sản xuất ra một sản phẩm hoặc dịch vụ từ giai đoạn xây dựng khái niệm, qua các giai
đoạn khác nhau của sản xuất tới phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng, dịch vụ
hậu mãi và việc vứt bỏ sản phẩm sau khi sử dụng.
HÌNH 2: MÔ HÌNH CHUỖI GIÁ TRỊ ĐƠN GIẢN
Logistics
đầu vào
Sản
xuất
Logistics
đầu ra
Marketing &
bán hàng

 Chuỗi giá trị toàn cầu
Mọi sản phẩm mới - từ phần mềm cho tới đồ dùng - đều phải trải qua một chu
kỳ, bắt đầu bằng nghiên cứu cơ bản rồi nghiên cứu ứng dụng, thời kỳ ấp ủ, phát triển,
thử nghiệm, sản xuất, triển khai, hỗ trợ và mở rộng kỹ thuật để cải tiến. Mỗi khâu
trên đều được chuyên môn hóa và có tính đơn nhất. Các quốc gia đang phát triển như
Ấn Độ, Trung Quốc và Nga đều không đủ nhân lực và năng lực để đảm nhiệm toàn
bộ chu kỳ sản phẩm cho một công ty đa quốc gia lớn ở Mỹ hay các nước phương Tây
phát triển. Song các nước đang phát triển trên đang dần nâng cao năng lực nghiên cứu
và phát triển của họ để có thể đảm nhiệm nhiều khâu hơn. Quá trình này tiếp tục diễn
ra sẽ đánh dấu sự kết thúc của mô hình cũ – khi một công ty đa quốc gia tự tiến hành
tất cả các khâu của chu kỳ phát triển sản phẩm bằng nguồn lực riêng của mình. Từ đó
THIẾT KẾ
SẢN XUẤT
Logistics đầu vào
Sản xuất Logistics
đầu ra Đóng gói
MARKETING TIÊU THỤ
8
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
tạo ra các chuỗi giá trị toàn cầu (GVCs-Global Value Chains) là các chuỗi giá trị cho
phép các công đoạn của chuỗi đặt tại những địa điểm (quốc gia) có khả năng mang
lại hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất.
2. Đặc điểm
a) Quản trị chuỗi
Định nghĩa (Humphrey & Schmitz, 2002): Quản trị chuỗi là mối quan hệ giữa
các bên tham gia và các cơ chế, thể chế mà thông qua đó các hoạt động điều phối phi
thị trường được thực hiện. Quản trị chuỗi giúp trả lời bốn câu hỏi quan trọng: Sản
xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Khi nào thì sản xuất? Số lượng là bao nhiêu?
Gary Gereffi, John Humphrey, và Timothy Sturgeon, trong nghiên cứu “Quản
trị chuỗi giá trị toàn cầu” [18;85] đưa ra năm mô hình quản trị GVC khác nhau như

cũng cao hơn.
- Cấp bậc: mô hình quản trị này là đặc trưng của hội nhập theo chiều dọc (khi
đó các giao dịch diễn ra bên trong một công ty duy nhất). Hình thức quản trị chi phối
là kiểm soát việc quản lý, theo thứ tự từ người quản lý cấp cao tới nhân viên hoặc từ
trụ sở tới các công ty con và chi nhánh.
Bảng 1 nêu ra các nhân tố quyết định tới quản trị chuỗi, dựa trên các tiêu chí về
mức độ phức tạp của các giao dịch, khả năng hệ thống hóa giao dịch, năng lực cung
ứng cũng như mức độ bất cân xứng quyền lực trong các các quản trị chuỗi khác nhau.
BẢNG 1: CÁC NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH TỚI QUẢN TRỊ CHUỖI
Dạng quản trị Mức độ phức tạp
của giao dịch
Khả năng hệ thống
hóa giao dịch
Năng lực
cung ứng
Mức độ bất cân
xứng quyền lực
Thị trường Thấp Cao Cao Thấp
Mẫu Cao Cao Cao
Quan hệ Cao Thấp Cao
Phụ thuộc Cao Cao Thấp
Cấp bậc Cao Thấp Thấp Cao
Nguồn: Gary Gereffi, John Humphrey, Timothy Sturgeon, 2005
b) Nâng cấp chuỗi giá trị
Nâng cấp trong chuỗi giá trị là quá trình các chủ thể kinh tế, quốc gia, doanh
nghiệp, người lao động chuyển từ hoạt động tạo ra giá trị thấp sang những hoạt động
10
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
có giá trị cao hơn trong mạng lưới sản xuất toàn cầu. Khả năng nâng cấp đề cập tới
sự chuyển dịch mà một hay một nhóm các hãng thực hiện để nâng cao vị trí của mình

Nâng cấp
sản phẩm
Nâng cấp
chức năng
Nâng cấp
chuỗi
Trình tự
Ví dụ
Lắp ráp
thiết bị chính
(OEA)
Sản xuất
có thiết kể riêng
(ODM)
Sản xuất
có thương hiệu
(OBM)
Chuyển sang
chuối giá trị mới
Mức độ độc lập
với người mua
nước ngoài
Giá trị gia tăng thu về tăng dần
Nguồn: Raphael Kaplinsky and Mike Morris, 2001
Kinh nghiệm từ thành công của các nước Đông Á đã cho thấy một quy trình
nâng cấp chuỗi giá trị từ sản xuất OEA (lắp ráp thiết bị chính) tạo ra ít giá trị sang sản
xuất thiết bị chính đến cung cấp các sản phẩm mang nhãn mác của người mua, rồi
ODM (sản xuất có thiết kế) và giờ đây là OBM (sản xuất có thương hiệu cho riêng
mình). Đó cũng là quy trình mà người sản xuất dần thoát khỏi sự phụ thuộc vào
người mua toàn cầu trong việc thiết kế, tạo dựng thương hiệu cho chính mình và nhờ

Lợi thế kinh tế theo quy mô Lợi thế kinh tế theo đặc thù
Ngành hàng
Hàng tiêu dùng lâu bền, sản phẩm
cấp trung, tư bản phẩm
Hàng tiêu dùng không lâu bền
Các ngành điển
hình
Điện thoại, máy tính, máy bay Hàng may mặc, giày dép, đồ chơi
Chủ thể hữu các
công ty sản xuất
Các công ty xuyên quốc gia Các công ty nội địa, chủ yếu ở
các nước đang phát triển
Những liên kết hệ
thống chính
Đầu tư Thương mại
Kết cấu hệ thống
Theo chiều dọc Theo chiều ngang
Nguồn: Gary Gereffi, 1999
Ngoài ra, có những chuỗi giá trị lại kết hợp hai kiểu quản trị theo định hướng
của cả người mua và người bán. Chẳng hạn, trong ngành quần áo, GAP là ví dụ về
một hãng hoạt động không có nhà máy sản xuất và là đại diện điển hình cho loại
chuỗi do người mua chi phối, trong khi đó Levi-Strauss lại quản trị một chuỗi giá trị
hội nhập dọc. Trong ngành sản xuất ô tô, Ford đang chuyển dần sang chuỗi do người
mua chi phối trong khi Toyota và các nhà sản xuất khác vẫn tiếp tục hoạt động trong
chuỗi giá trị do người bán chi phối. Trong ngành sản xuất vật liệu bán dẫn, Intel kiểm
soát chuỗi do người sản xuất chi phối còn ARM lại sử dụng silicon để thỏa mãn nhu
cầu của khách hàng.
Các dạng của chuỗi giá trị
13
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45

Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
là vấn đề khó khăn, hoạt động marketing chưa phải là hoạt động đóng vai trò quyết
định trong việc thực hiện giá trị.
(3) Dạng đường thẳng
Dạng này phản ánh mật độ phân bố giá trị đều đặn và như nhau đối với các
khâu trong chuỗi giá trị. Dạng này gần như đóng vai trò cân bằng hai dạng chuỗi giá
trị trên (parabol “ngửa” và parabol “úp”). Về nguyên tắc, đây cũng là một dạng của
chuỗi giá trị; tuy nhiên, đây là dạng chuỗi giá trị có tính đặc thù cao nên khó xuất
hiện dạng chuỗi này trong thực tế.
HÌNH 3: CÁC DẠNG CỦA CHUỖI GIÁ TRỊ
Nguồn: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, 2008
Các dạng phân bố mật độ giá trị của các khâu trong chuỗi giá trị được mô
phỏng trong Hình 3. Các dạng này có mối quan hệ và bổ sung lẫn nhau. Mỗi dạng
phân bố mật độ giá trị trong chuỗi gắn liền với một trình độ phát triển nhất định của
đất nước hoặc phù hợp với một giai đoạn phát triển nhất định. Vị trí của quốc gia
trong chuỗi giá trị cũng là căn cứ để đánh giá vị thế của quốc gia đó trong nền kinh tế
thế giới.
Trong giai đoạn sản xuất hàng hóa ở trình độ thấp, sản phẩm được sản xuất ra
khá đơn giản và hầu như được tiêu thụ một cách dễ dàng, dạng của GVC là dạng (2).
Trong giai đoạn nền kinh tế đã đạt trình độ kinh tế cao, trình độ tiêu dùng cao, mức
Giá trị
Cao
Cao
Thấp
Các khâu
Thiết kế
Sản xuất Tiêu thụ
1
2
3

việc thâm nhập chuỗi một cách hiệu quả.
16
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
1. Lập sơ đồ một cách hệ thống các đối tượng tham gia chuỗi giá trị toàn
cầu ngành nông sản
Để hiểu được chuỗi giá trị cần phân tích có thể dùng mô hình, bảng biểu, số
liệu, biểu đồ hay các hình thức tương tự để nắm bắt và hình dung bản chất của chuỗi.
Trong đó, lập sơ đồ là cách thức giúp cho việc tiếp cận chuỗi giá trị được thực hiện
dễ dàng nhất, cụ thể và chi tiết nhất; qua đó người nghiên cứu thấy được một cách hệ
thống các góc độ khác nhau của toàn chuỗi. Thông qua sơ đồ chuỗi giá trị:
- Giúp xác định các mạng lưới để nắm bắt kết nối giữa các tác nhân và các quy
trình trong chuỗi;
- Thể hiện tính phụ thuộc lẫn nhau, mối tương quan giữa các tác nhân và các
quy trình của chuỗi;
- Cung cấp cho các bên liên quan những hiểu biết ngoài phạm vi tham gia của
riêng họ trong chuỗi giá trị.
Mỗi chuỗi giá trị, có rất nhiều khía cạnh cần được nghiên cứu: dòng sản phẩm
thực tế, số tác nhân tham gia, giá trị tích lũy được,… Dưới đây là các dạng sơ đồ
chính thường được lập để phân tích chuỗi giá trị:
+ Sơ đồ các quy trình cốt lõi
Sơ đồ này giúp xác định các quy trình cơ bản của chuỗi và qua đó thấy được
những quy trình khác nhau mà nguyên liệu thô luân chuyển qua trước khi đến giai
đoạn tiêu dùng cuối cùng. Các quy trình cốt lõi trong chuỗi giá trị nông sản thường là
đầu vào, sản xuất, chế biến, marketing, và tiêu thụ được thực hiện theo thứ tự sau:
Đầu vào  Sản xuất  Chế biến  Marketing  Tiêu thụ
+ Sơ đồ những người tham gia chính vào các quy trình
Tùy thuộc vào mức độ phức tạp mà người nghiên cứu muốn lập để phân biệt
giữa những người tham gia. Cách phân biệt trực tiếp nhất là phân loại những người
tham gia theo nghề nghiệp chính của họ.
Hình 4 là ví dụ về lập sơ đồ những người tham gia (theo chức năng) trong

người nuôi ong
Người thu mua
Trung gian
Doanh nghiệp chế biến Người bán lẻNgười xuất khẩu
Người bán buôn
Khách hàng
18
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
nó phụ thuộc và trình độ hiểu biết, khả năng tiếp cận thông tin,… của các tác nhân
trong chuỗi.
HÌNH 5: SƠ ĐỒ DÒNG THÔNG TIN TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ ĐẦU NÀNH BẮC LÀO
Nguồn: GTZ, Thị trường đậu nành ở Bắc Lào, 2005
+ Sơ đồ khối lượng sản phẩm, số người tham gia và công việc
Một số phần trong sơ đồ chuỗi giá trị có thể lượng hóa. Ngoài các số liệu về tài
chính, một số yếu tố khác có thể định lượng được như: khối lượng sản phẩm, số
lượng người tham gia, số công việc. Mục đích của việc này là để có cái nhìn tổng
quát về quy mô của các kênh khác nhau trong chuỗi giá trị.
Hình 6 cho thấy khối lượng sản phẩm dịch chuyển trong chuỗi theo hai kênh
khác nhau tới khách hàng trong hai thị trường 1 và 2. Theo đó, 20% tổng khối lượng
sản phẩm được tiêu thụ trên hai thị trường 1 và 2 có là các sản phẩm trung bình ban
đầu được các công ty chế biến lớn mua từ nông dân, sau đó chế biến và phân phối tới
thị trường 1. Còn 80% tổng khối lượng sản phẩm trên hai thị trường thì qua một chu
trình khác: các sản phẩm nhỏ ban đầu (50% khối lượng) và sản phẩm nhập khẩu
(30% khối lượng) được các công ty vừa và nhỏ (SMEs) thu gom, chế biến và bán cho
các nhà bán lẻ trước khi tiêu thụ trên thị trường 2.
HÌNH 6: SƠ ĐỒ KHỐI LƯỢNG SẢN PHẨM
Nông dân Người thu mua
Trung gian
xuất khẩu
- Màu sắc: nâu-đen

Kaplinsky và Morris (2001) [21] nhận định rằng trong quá trình toàn cầu hóa,
có nhận thức (trong phần lớn các trường hợp) rằng khoảng cách thu nhập trong và
giữa các nước tăng lên. Việc phân tích chuỗi giá trị có thể giúp giải thích quá trình
này:
Sản phẩm
trung bình
ban đầu
Công ty chế
biến lớn
Nhà nhập
khẩu
Sản phẩm
nhỏ ban
đầu
Khách hàng
thị trường 1
Khách hàng
thị trường 2
Bán lẻ B
Bán lẻ A
SMEs công
nghiệp
20% 20%
50%
30%
20%
60%
20%
60%
20

là rất lớn (105 tấn/năm với người thu mua, 132 tấn/năm đối với người bán buôn) mặc
dù lợi nhuận trên một kg của nông dân Sóc Sơn (0,14 USD/kg chiếm 33,33% lợi
nhuận toàn chuỗi) và nông dân Mộc Châu (0,06 USD/kg tương ứng với 14,29% lợi
nhuận toàn chuỗi) là cao nhất. Nguyên nhân của sự khác biệt này là người bán buôn
21
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
và người thu mua thu lợi từ chênh lệch giá mua và giá bán trên một lượng lớn cà chua
họ kinh doanh.
So với những người tham gia khác, các siêu thị và cửa hàng rau an toàn có lợi
nhuận thấp nhất, tính trên một kg và thu nhập hàng năm. Nguyên nhân là do đối với
người nông dân, việc bán hàng cho siêu thị và các cửa hàng rau an toàn không mang
lại thu nhập nhiều hơn so với bán hàng cho các hợp tác xã hay người thu mua và
người bán buôn, mặc dù giá thu mua của các cửa hàng rau an toàn cao hơn 20% so
với hợp tác xã Vân Trì, hợp tác xã 19 – 5 hay người bán buôn ở Hà Đông. Vì các cửa
hàng bán rau an toàn, siêu thị đưa ra nhiều áp lực hơn cho các nhà cung cấp, đặc biệt
là khả năng trả lại hàng.
Như vậy, phân tích chuỗi giá trị không chỉ giúp người nghiên cứu xác định thu
nhập được phân bổ trong các cấp và giữa các mắt xích khác nhau của chuỗi mà còn
nắm bắt được các mối quan hệ giữa các mắt xích trong chuỗi cũng như tác động của
hệ thống quản trị chuỗi tới sự phân phối đó. Qua đó từng bước cải thiện thu nhập của
các tác nhân yếu thế và đảm bảo tính bình đẳng giữa các tác nhân trong chuỗi đó.
Các nhân tố ảnh hưởng đến phân phối thu nhập trong chuỗi giá trị là quản trị
chuỗi giá trị, áp lực cạnh tranh, khả năng nâng cấp và các vấn đề về thể chế. Việc xác
định được phân phối thu nhập trong chuỗi còn giúp cải thiện quản trị chuỗi tốt hơn,
đưa ra các định hướng nâng cấp chuỗi và loại bỏ dần những yếu kém trong vấn đề thể
chế tại đất nước mà chuỗi đó thực hiện giá trị.
3. Xác định các liên kết trong chuỗi từ đó đưa ra cách thức giúp các chủ
thể kinh tế xâm nhập chuỗi giá trị
Một hoạt động không biệt lập mà luôn có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp
với các hoạt động khác trong chuỗi giá trị ngành hàng. Các mối quan hệ đó tạo thành

không thể tự động gia nhập thị trường một cách dễ dàng bởi vì các chuỗi giá trị
thường bị kiểm soát bởi một số người mua nhất định.
Sự tin tưởng đóng vai trò trung tâm cho việc kết nối các thành viên và tạo lập
tính thống nhất trong mọi tổ chức. Tương tự như vậy, các mắt xích và các nhân tố của
chuỗi giá trị cũng được kết nối bởi các mối quan hệ và lòng tin. Tính chặt chẽ của các
liên kết phụ thuộc vào mức độ tin tưởng lẫn nhau giữa các nhân tố này là cao hay
thấp. Dựa vào mức độ tin tưởng giữa các mắt xích của chuỗi, R. Kaplinsky và M.
23
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
Morris [21;74], đã phân biệt hai loại chuỗi có mức độ tin tưởng cao và thấp như trong
Bảng 5.
BẢNG 5: SO SÁNH CHUỖI TIN TƯỞNG THẤP VÀ CHUỖI TIN TƯỞNG CAO
Chuỗi tin tưởng thấp Chuỗi tin tưởng cao
Độ lâu dài của quan
hệ buôn bán
Ngắn hạn Dài hạn
Các thủ tục đặt hàng Mở thầu đặt hàng, giá cả được
thỏa thuận và đồng ý trước khi
đặt hàng
Có thể không phải mở thầu; giá cả
được quyết định sau khi hợp đồng
được đặt ra
Mối quan hệ hợp
đồng
Nhà cung cấp chỉ bắt đầu sản
xuất khi nhận được hợp đồng
Nhà cung cấp linh hoạt hơn về các
chỉ dẫn, có thể bắt đầu sản xuất
trước khi có hợp đồng chính thức
Kiểm tra Kiểm tra khi giao hàng Kiểm tra qua loa hoặc không kiểm

Bên cạnh các liên kết trong chuỗi tạo thành các mối quan hệ tin tưởng giữa
những tác nhân trong chuỗi giá trị, các mối quan hệ thương mại quốc tế cũng được
coi là một phần của mạng lưới những nhà sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu và nhà bán
lẻ, trong đó tri thức và quan hệ được phát triển để tiếp cận thị trường và các nhà cung
cấp. Trong bối cảnh hiện nay, sự thành công của các nước đang phát triển và của
những người tham gia thị trường ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào khả năng
tiếp cận mạng lưới này thông qua việc tiếp cận các liên kết của chuỗi giá trị toàn cầu.
III. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG VIỆC THAM VÀO
CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU HÀNG NÔNG SẢN
Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của một số quốc gia trong khu vực và trên
thế giới cho thấy, tùy theo điều kiện cụ thể của từng nước với những chiến lược phù
hợp thì một nước có thể phát triển một nền nông nghiệp bền vững và hiện đại. Qua
đó giúp hàng nông sản của nước mình xâm nhập sâu hơn vào GVC và thu được giá
trị gia tăng ở mức cao nhất có thể.
Trung Quốc và Thái Lan là hai quốc gia châu Á, có các điều kiện tự nhiên-xã
hội tương đối giống Việt Nam song hai nước này lại đang xâm nhập mạnh vào GVC
hàng nông sản và thu về nhiều giá trị gia tăng hơn rất nhiều so với Việt Nam. Từ các
kinh nghiệm thực tế của hai quốc gia này, Việt Nam có thể vạch ra những bước đi
chiến lược cho ngành nông sản để nâng cao vị thế của nông sản Việt Nam trong
chuỗi giá trị toàn cầu cũng như trên thị trường thế giới.
1. Trung Quốc
Trung Quốc là nước có nền nông nghiệp lớn và lâu đời nhất thế giới, đồng thời
là một trong những chiếc nôi của nền nông nghiệp thế giới. Do đó, quốc gia này đã
tích lũy nhiều kinh nghiệm thâm canh cổ truyền với một hệ thống công cụ sản xuất
thủ công phong phú, đa dạng, tận dụng nguồn lao động dồi dào ở nông thôn, bảo đảm
sản xuất nông nghiệp tự túc, tự cấp có hiệu quả cao. Kinh tế nông nghiệp Trung Quốc
25

Trích đoạn Nông nghiệp hữu cơ Xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam theo tiêu chuẩn GAP CÁC NHÓM GIẢI PHÁP Giải pháp về khoa học công nghệ Nhóm các giải pháp vi mô
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status