Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa là xu hướng tất yếu trong thời đại ngày nay khi các rào cản đối
với các dòng chảy về thông tin, ý tưởng, các nhân tố về vốn và lao động có kỹ năng,
công nghệ và hàng hóa đang dần được giỡ bỏ. Điều này làm ranh giới phân cách các
quốc gia dần bị xóa mờ, tạo cơ hội cho các nước tham gia sâu và rộng hơn vào quy
trình sản xuất các sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho lợi ích chung của con người. Mỗi
nước, với ý thức về tiềm năng và năng lực của mình đã chuyên môn hóa, tập trung
vào lĩnh vực hoặc một số khâu trong quy trình sản xuất có lợi thế so sánh như thiết
kế, sản xuất, chế biến, phân phối,… để có thể thu lại lợi ích nhiều nhất từ quá trình
hội nhập. Vì vậy, hàng hóa không chỉ được thực hiện giá trị tại một quốc gia mà có
khi là hai quốc gia, ba quốc gia hoặc nhiều hơn nữa, từ đó tạo thành các chuỗi giá trị
toàn cầu.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2009 xuất phát từ khủng hoảng tài
chính Mỹ vừa qua đã tác động tới tất cả các mặt của kinh tế toàn cầu cũng như các
khâu của quá trình thực hiện giá trị trong các chuỗi giá trị toàn cầu. Trong đó, hàng
nông sản cũng không phải là ngoại lệ, đặc biệt khi việc sản xuất nông sản chủ yếu
được thực hiện tại các quốc gia đang phát triển - những nước yếu thế, dễ bị tổn
thương và thường chịu thiệt thòi hơn khi tham gia thương mại tự do.
Nông sản nước ta mặc dù đã đạt được một số thành công nhất định khi tham gia
thị trường thế giới song vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu vẫn còn thấp.
Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, ngành hàng này cũng phải chịu không ít ảnh hưởng
tiêu cực; do đó, những yếu kém của việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu nông sản của
Việt Nam mới được bộc lộ rõ ràng hơn bao giờ hết, cho thấy việc thụ động phụ thuộc
vào diễn biến thị trường thay vì chủ động tạo ra chỗ đứng cho mình trong chuỗi của
các doanh nghiệp cũng như người nông dân.
Trước những vấn đề đó, khóa luận tốt nghiệp này có tên : “GIẢI PHÁP
NHẰM XÂM NHẬP CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU CỦA NGÀNH NÔNG
SẢN VIỆT NAM SAU KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI” với hy vọng
1
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
Chương 2: Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và vị thế của hàng
nông sản Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu;
Chương 3: Giải pháp nhằm xâm nhập chuỗi giá trị toàn cầu cho hàng nông sản
Việt Nam sau khủng hoảng kinh tế thế giới.
Lời cảm ơn
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Quản trị kinh
doanh, các phòng ban khác của trường Đại học Ngoại Thương cùng toàn thể các thầy
cô giáo đã truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện học tập và môi trường rèn luyện cho em
trong suốt bốn năm qua. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Th.s Nguyễn Thị
Thu Trang – giảng viên đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ em hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp này.
Bên cạnh đó, em cũng bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, những người thân và
bạn bè đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và
nghiên cứu vừa qua.
Dù đã cố gắng nỗ lực hết mình song với vốn kiến thức còn hạn chế của tác giả
và thời gian nghiên cứu không nhiều, khóa luận này chắc chắn không thể tránh khỏi
sai sót. Vì vậy rất mong các thầy cô cùng các bạn đóng góp ý kiến để em hoàn thiện
nghiên cứu của mình hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2010
Sinh viên thực hiện: Ngô Thị Tú Anh
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỀM VÀ CÁC CÔNG CỤ PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ
TRỊ TOÀN CẦU
1. Khái niệm
Giá trị
3
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
Theo quan niệm của C.Mác trong bộ Tư bản, quá trình sản xuất hàng hóa tư bản
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
thành mạng lưới sản xuất quốc tế là một trong những điều kiện quyết định sự ra đời
của nền kinh tế thế giới hay nói cách khác nền kinh tế thế giới, về thực chất, là tập
hợp của các chuỗi giá trị toàn cầu của các ngành sản xuất hoặc tổ hợp của các chuỗi
sản phẩm và dịch vụ.
Chuỗi giá trị
Có ba luồng nghiên cứu chính về chuỗi giá trị, đó là:
i) Filièle (Chuỗi):
Phương pháp Filièle (filièle có nghĩa là chuỗi, mạch) gồm các trường phái tư
duy và truyền thống nghiên cứu khác nhau. Khởi đầu, phương pháp này được dùng
để phân tích hệ thống nông nghiệp của các nước đang phát triển trong hệ thống thuộc
địa của Pháp. Phân tích chủ yếu là công cụ để nghiên cứu cách thức mà các hoạt
động sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là cao su, bông, cà phê và dừa) được tổ chức tại
các nước đang phát triển. Trong bối cảnh này, khung Filièle chú trọng đặc biệt đến
các hệ thống sản xuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương
mại, xuất khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng.
Khái niệm chuỗi (filièle) bao hàm nhận thức kinh nghiệm thực tế được sử dụng
để lập sơ đồ dòng chuyển động của hàng hóa và xác định những người tham gia vào
các hoạt động. Tuy nhiên, phương pháp này chủ yếu tập trung vào vấn đề của các
mối quan hệ vật chất và kỹ thuật định lượng, được tóm tắt trong sơ đồ dòng chảy của
các hàng hóa và sơ đồ mối quan hệ chuyển đổi. Phân tích Filièle có hai đặc điểm nổi
bật sau:
- Việc đánh giá chuỗi giá trị về mặt kinh tế và tài chính chú trọng vào vấn đề
tạo và phân phối thu nhập trong chuỗi hàng hóa, phân tích các chi phí cũng như thu
nhập giữa các thành phần kinh doanh nội địa và quốc tế để nghiên cứu ảnh hưởng của
chuỗi đến nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp của nó vào GDP.
- Phân tích chuỗi lấy sự phát triển của nông nghiệp làm trọng tâm nghiên cứu;
quan tâm tới các vấn đề như sự tương tác lẫn nhau giữa các đối tượng tham gia,
những cản trở và kết quả thu được cho mỗi bên liên quan trong chuỗi, các chiến lược
5
SẢN XUẤT
Logistics đầu vào
Sản xuất Logistics
đầu ra Đóng gói
6
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
HÌNH 1: KHUNG PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CỦA M.PORTER
Nguồn: Michael Porter, 1985
Một cách khác để tìm ra lợi thế cạnh tranh là dựa vào khái niệm hệ thống giá
trị; thay vì chỉ phân tích lợi thế cạnh tranh của một công ty duy nhất, có thể xem các
hoạt động của công ty như một phần của chuỗi các hoạt động rộng hơn mà Porter gọi
là hệ thống giá trị. Một hệ thống giá trị bao gồm các hoạt động do tất cả các công ty
tham gia trong việc sản xuất một hàng hóa hoặc dịch vụ thực hiện, bắt đầu từ nguyên
liệu thô đến phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng. Vì vậy, khái niệm hệ thống giá
trị rộng hơn so với khái niệm chuỗi giá trị của doanh nghiệp.
iii) Phương pháp tiếp cận toàn cầu
Khái niệm các chuỗi giá trị được Gary Gereffi (Duke University) lần đầu tiên áp
dụng để phân tích toàn cầu hoá, tìm hiểu cách thức mà các công ty và các quốc gia
hội nhập toàn cầu và để đánh giá các yếu tố quyết định đến phân phối thu nhập toàn
cầu. Sau đó, Raphael Kaplinsky [21;4] đưa ra những khái niệm về chuỗi giá trị như
sau:
Theo nghĩa hẹp (giản đơn): Chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động cần có để
sản xuất ra một sản phẩm hoặc dịch vụ từ giai đoạn xây dựng khái niệm, qua các giai
đoạn khác nhau của sản xuất tới phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng, dịch vụ
hậu mãi và việc vứt bỏ sản phẩm sau khi sử dụng.
HÌNH 2: MÔ HÌNH CHUỖI GIÁ TRỊ ĐƠN GIẢN
Logistics
đầu vào
Sản
xuất
hoạt động như kinh doanh, chế biến, lắp ráp…
Như vậy, mỗi sản phẩm được tạo ra đều có giá trị bao gồm một xâu chuỗi các
mắt xích nhiều giá trị kết nối tạo nên. Trong thời đại toàn cầu hóa, các mắt xích tạo
nên giá trị cuối cùng của một sản phẩm đã vượt ra ngoài biên giới một quốc gia, lãnh
thổ khi các chi tiết của nó được thiết kế ở một nước, sản xuất ở một nước khác, lắp
ráp ở nước thứ ba, và tiêu thụ ở nước thứ tư… hoặc một sản phẩm thuần túy ra đời
tại một địa phương cụ thể nhưng vẫn mang giá trị toàn cầu. Vì vậy, khái niệm chuỗi
giá trị toàn cầu đã xuất hiện và ngày càng trở nên phổ biến trên khắp thế giới.
Chuỗi giá trị toàn cầu
Mọi sản phẩm mới - từ phần mềm cho tới đồ dùng - đều phải trải qua một chu
kỳ, bắt đầu bằng nghiên cứu cơ bản rồi nghiên cứu ứng dụng, thời kỳ ấp ủ, phát triển,
thử nghiệm, sản xuất, triển khai, hỗ trợ và mở rộng kỹ thuật để cải tiến. Mỗi khâu
trên đều được chuyên môn hóa và có tính đơn nhất. Các quốc gia đang phát triển như
Ấn Độ, Trung Quốc và Nga đều không đủ nhân lực và năng lực để đảm nhiệm toàn
bộ chu kỳ sản phẩm cho một công ty đa quốc gia lớn ở Mỹ hay các nước phương Tây
phát triển. Song các nước đang phát triển trên đang dần nâng cao năng lực nghiên
cứu và phát triển của họ để có thể đảm nhiệm nhiều khâu hơn. Quá trình này tiếp tục
diễn ra sẽ đánh dấu sự kết thúc của mô hình cũ – khi một công ty đa quốc gia tự tiến
hành tất cả các khâu của chu kỳ phát triển sản phẩm bằng nguồn lực riêng của mình.
THIẾT KẾ
SẢN XUẤT
Logistics đầu vào
Sản xuất Logistics
đầu ra Đóng gói
MARKETING TIÊU THỤ
8
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
Từ đó tạo ra các chuỗi giá trị toàn cầu (GVCs-Global Value Chains) là các chuỗi giá
trị cho phép các công đoạn của chuỗi đặt tại những địa điểm (quốc gia) có khả năng
mang lại hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất.
đối với những mạng lưới phi tập trung. Do cần nhiều thời gian tạo dựng lòng tin và
sự phụ thuộc lẫn nhau nên chi phí chuyển đổi sang các đối tác mới thường cao.
- Chuỗi giá trị phụ thuộc: trong kiểu quản trị chuỗi này, nhà cung cấp nhỏ phụ
thuộc nhiều vào những người mua lớn và người mua chi phối. Việc phụ thuộc vào
công ty đầu ngành làm tăng chi phí chuyển đổi đối với các nhà cung cấp. Trong
mạng lưới có kiểu quản trị này, các công ty dẫn đầu thường đóng vai trò kiểm soát và
giám sát chặt chẽ các hoạt động toàn chuỗi. Quan hệ quyền lực bất cân xứng buộc
các nhà cung cấp liên kết với khách hàng chặt chẽ hơn và do đó chi phí chuyển đổi
cũng cao hơn.
- Cấp bậc: mô hình quản trị này là đặc trưng của hội nhập theo chiều dọc (khi
đó các giao dịch diễn ra bên trong một công ty duy nhất). Hình thức quản trị chi phối
là kiểm soát việc quản lý, theo thứ tự từ người quản lý cấp cao tới nhân viên hoặc từ
trụ sở tới các công ty con và chi nhánh.
Bảng 1 nêu ra các nhân tố quyết định tới quản trị chuỗi, dựa trên các tiêu chí về
mức độ phức tạp của các giao dịch, khả năng hệ thống hóa giao dịch, năng lực cung
ứng cũng như mức độ bất cân xứng quyền lực trong các các quản trị chuỗi khác nhau.
BẢNG 1: CÁC NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH TỚI QUẢN TRỊ CHUỖI
Dạng quản trị Mức độ phức tạp
của giao dịch
Khả năng hệ thống
hóa giao dịch
Năng lực
cung ứng
Mức độ bất cân
xứng quyền lực
Thị trường Thấp Cao Cao Thấp
Mẫu Cao Cao Cao
Quan hệ Cao Thấp Cao
Phụ thuộc Cao Cao Thấp
Cấp bậc Cao Thấp Thấp Cao
màn hình máy vi tính rồi sau đó là máy tính xách tay và giờ đây là điện thoại WAP.
Việc nâng cấp chuỗi giá trị thường được thực hiện theo trình tự từ nâng cấp quy
trình tới nâng cấp sản phẩm, nâng cấp chức năng và nâng cấp chuỗi (Bảng 2).
BẢNG 2: CÁC QUY TRÌNH NÂNG CẤP CHUỖI GIÁ TRỊ
11
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
Nâng cấp
quy trình
Nâng cấp
sản phẩm
Nâng cấp
chức năng
Nâng cấp
chuỗi
Trình tự
Ví dụ
Lắp ráp
thiết bị chính
(OEA)
Sản xuất
có thiết kể riêng
(ODM)
Sản xuất
có thương hiệu
(OBM)
Chuyển sang
chuối giá trị mới
Mức độ độc lập
với người mua
nước ngoài
BẢNG 3: SO SÁNH CHUỖI GIÁ TRỊ DO NGƯỜI BÁN VÀ NGƯỜI MUA CHI PHỐI
Các tiêu chí Chuỗi do người bán chi phối Chuỗi do người mua chi phối
Hoạt động chi
phối
Sản xuất công nghiệp Thương mại
Năng lực cốt lõi
Nghiên cứu và phát triển, Sản xuất Thiết kế, Marketing
Rào cản gia nhập
Lợi thế kinh tế theo quy mô Lợi thế kinh tế theo đặc thù
Ngành hàng
Hàng tiêu dùng lâu bền, sản phẩm
cấp trung, tư bản phẩm
Hàng tiêu dùng không lâu bền
Các ngành điển
hình
Điện thoại, máy tính, máy bay Hàng may mặc, giày dép, đồ chơi
Chủ thể hữu các
công ty sản xuất
Các công ty xuyên quốc gia Các công ty nội địa, chủ yếu ở
các nước đang phát triển
Những liên kết hệ
thống chính
Đầu tư Thương mại
Kết cấu hệ thống
Theo chiều dọc Theo chiều ngang
Nguồn: Gary Gereffi, 1999
13
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
Ngoài ra, có những chuỗi giá trị lại kết hợp hai kiểu quản trị theo định hướng
của cả người mua và người bán. Chẳng hạn, trong ngành quần áo, GAP là ví dụ về
và giá lao động rẻ như Trung Quốc, Việt Nam, Bangladesh,…
(2) Dạng parabol “úp”
Dạng chuỗi giá trị này phù hợp với quá trình sản xuất các sản phẩm đơn giản
về thiết kế và có khả năng tiêu thụ dễ dàng. Vì thế sản xuất, chế biến trở thành các
khâu tạo giá trị cao nhất hay có mật độ tập trung giá trị cao nhất. Những nước xuất
khẩu sản phẩm thô, sản phẩm sơ chế đặc biệt là các hàng nông sản sơ chế thường có
hình dạng chuỗi giá trị này hoặc các nền kinh tế mới công nghiệp hóa sơ khai như
thời kỳ chủ nghĩa tư bản do cạnh tranh có tính đặc trưng tương tự chuỗi giá trị các
sản phẩm. Lúc này, thiết kế và phát triển sản phẩm mới cũng như tiêu thụ không phải
là vấn đề khó khăn, hoạt động marketing chưa phải là hoạt động đóng vai trò quyết
định trong việc thực hiện giá trị.
(3) Dạng đường thẳng
Dạng này phản ánh mật độ phân bố giá trị đều đặn và như nhau đối với các
khâu trong chuỗi giá trị. Dạng này gần như đóng vai trò cân bằng hai dạng chuỗi giá
trị trên (parabol “ngửa” và parabol “úp”). Về nguyên tắc, đây cũng là một dạng của
chuỗi giá trị; tuy nhiên, đây là dạng chuỗi giá trị có tính đặc thù cao nên khó xuất
hiện dạng chuỗi này trong thực tế.
HÌNH 3: CÁC DẠNG CỦA CHUỖI GIÁ TRỊ
15
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
Nguồn: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, 2008
Các dạng phân bố mật độ giá trị của các khâu trong chuỗi giá trị được mô
phỏng trong Hình 3. Các dạng này có mối quan hệ và bổ sung lẫn nhau. Mỗi dạng
phân bố mật độ giá trị trong chuỗi gắn liền với một trình độ phát triển nhất định của
đất nước hoặc phù hợp với một giai đoạn phát triển nhất định. Vị trí của quốc gia
trong chuỗi giá trị cũng là căn cứ để đánh giá vị thế của quốc gia đó trong nền kinh tế
thế giới.
Trong giai đoạn sản xuất hàng hóa ở trình độ thấp, sản phẩm được sản xuất ra
khá đơn giản và hầu như được tiêu thụ một cách dễ dàng, dạng của GVC là dạng (2).
Trong giai đoạn nền kinh tế đã đạt trình độ kinh tế cao, trình độ tiêu dùng cao, mức
- Sự phân bố địa điểm trồng trọt phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu - tự
nhiên;
- Tính không đồng đều giữa các tác nhân tham gia vào chuỗi và độ lớn của mỗi
chuỗi bị hạn chế do các rào cản khi tham gia;
Với những khác biệt này, chuỗi giá trị nông sản cần được nghiên cứu dưới góc
độ và bằng những phương pháp khác với hàng công nghiệp và các ngành hàng khác.
Phân tích chuỗi giá trị giúp xem xét hoạt động kinh tế của ngành nông sản bằng
cách chia nhỏ hoạt động này thành các bộ phận nhỏ, qua đó giúp xác định vị thế của
một doanh nghiệp hay một quốc gia cụ thể trong GVC; nhờ vậy mới có thể đưa ra
những biện pháp nhằm nâng cao vị thế của doanh nghiệp, quốc gia đó và thúc đẩy
việc thâm nhập chuỗi một cách hiệu quả.
1. Lập sơ đồ một cách hệ thống các đối tượng tham gia chuỗi giá trị toàn
cầu ngành nông sản
Để hiểu được chuỗi giá trị cần phân tích có thể dùng mô hình, bảng biểu, số
liệu, biểu đồ hay các hình thức tương tự để nắm bắt và hình dung bản chất của chuỗi.
Trong đó, lập sơ đồ là cách thức giúp cho việc tiếp cận chuỗi giá trị được thực hiện
17
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
dễ dàng nhất, cụ thể và chi tiết nhất; qua đó người nghiên cứu thấy được một cách hệ
thống các góc độ khác nhau của toàn chuỗi. Thông qua sơ đồ chuỗi giá trị:
- Giúp xác định các mạng lưới để nắm bắt kết nối giữa các tác nhân và các quy
trình trong chuỗi;
- Thể hiện tính phụ thuộc lẫn nhau, mối tương quan giữa các tác nhân và các
quy trình của chuỗi;
- Cung cấp cho các bên liên quan những hiểu biết ngoài phạm vi tham gia của
riêng họ trong chuỗi giá trị.
Mỗi chuỗi giá trị, có rất nhiều khía cạnh cần được nghiên cứu: dòng sản phẩm
thực tế, số tác nhân tham gia, giá trị tích lũy được,… Dưới đây là các dạng sơ đồ
chính thường được lập để phân tích chuỗi giá trị:
+ Sơ đồ các quy trình cốt lõi
người tham gia chuỗi (nông dân, người thu mua và trung gian xuất khẩu) là không
giống nhau. Với các tiêu chí về màu sắc, kích thước, và hàm lượng dầu thì người
nông dân và người thu gom tự đặt ra những tiêu chuẩn riêng và gần như không biết
hoặc biết rất ít về những yêu cầu từ phía người nhập khẩu Trung Quốc; ngay cả trung
gian xuất khẩu cũng không rõ về hàm lượng dầu yêu cầu và bị động dựa vào việc
kiểm tra từ phía nhà nhà nhập khẩu nước ngoài. Điều đó chứng tỏ trong cũng một
chuỗi, dòng chảy kiến thức tại mỗi quy trình và với mỗi tác nhân không đồng đều mà
nó phụ thuộc và trình độ hiểu biết, khả năng tiếp cận thông tin,… của các tác nhân
trong chuỗi.
HÌNH 5: SƠ ĐỒ DÒNG THÔNG TIN TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ ĐẦU NÀNH BẮC LÀO
Người nuôi ong
đơn lẻ
Hiệp hội những
người nuôi ong
Người thu mua
Trung gian
Doanh nghiệp chế biến Người bán lẻNgười xuất khẩu
Người bán buôn
Khách hàng
19
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
Nguồn: GTZ, Thị trường đậu nành ở Bắc Lào, 2005
+ Sơ đồ khối lượng sản phẩm, số người tham gia và công việc
Một số phần trong sơ đồ chuỗi giá trị có thể lượng hóa. Ngoài các số liệu về tài
chính, một số yếu tố khác có thể định lượng được như: khối lượng sản phẩm, số
lượng người tham gia, số công việc. Mục đích của việc này là để có cái nhìn tổng
quát về quy mô của các kênh khác nhau trong chuỗi giá trị.
Hình 6 cho thấy khối lượng sản phẩm dịch chuyển trong chuỗi theo hai kênh
khác nhau tới khách hàng trong hai thị trường 1 và 2. Theo đó, 20% tổng khối lượng
sản phẩm được tiêu thụ trên hai thị trường 1 và 2 có là các sản phẩm trung bình ban
tham gia,… và thấy được sự khác biệt về địa lý hoặc vùng.
Như vậy, mỗi ngành hàng có những đặc điểm, đặc trung riêng và do đó có
những cách phân tích chuỗi giá trị khác nhau. Với một chuỗi giá trị lại có nhiều giác
độ nghiên cứu khác nhau như các quy trình, tác nhân, dòng lưu chuyển thông tin và
khối lượng,... Việc lập sơ đồ cho từng khía cạnh đó sẽ giúp người nghiên cứu đưa ra
các phân tích chi tiết, cụ thể và rõ ràng về chuỗi đó tại mỗi khâu, ở mỗi mắt xích hay
các liên kết. Từ đó, bằng cách tổng hợp những sơ đồ đó lại người nghiên cứu sẽ có
cái nhìn hệ thống, toàn diện về toàn chuỗi giá trị.
2. Xác định sự phân phối lợi ích của các bên tham gia chuỗi giá trị ngành
nông sản
Kaplinsky và Morris (2001) [21] nhận định rằng trong quá trình toàn cầu hóa,
có nhận thức (trong phần lớn các trường hợp) rằng khoảng cách thu nhập trong và
giữa các nước tăng lên. Việc phân tích chuỗi giá trị có thể giúp giải thích quá trình
này:
Sản phẩm
trung bình
ban đầu
Công ty chế
biến lớn
Nhà nhập
khẩu
Sản phẩm
nhỏ ban
đầu
Khách hàng
thị trường 1
Khách hàng
thị trường 2
Bán lẻ B
Bán lẻ A
Nông dân ở Sóc Sơn 0,14 33,33 2374 0,83 322,77 4,43
Công ty Bảo Hà 0,03 7,14 5610 1,96 150,32 2,06
Cửa hàng rau quả an toàn 0,02 4,76 3400 1,19 78,24 1.07
Tổng hợp 0,41 100 286724 100 7285,26 100
Nguồn: Dự án nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo, 2009, [5;57]
Ví dụ trong Bảng 4 cho biết thu nhập của các tác nhân trong chuỗi giá trị cà
chua tại Mộc Châu, Sơn La. Trong số những người tham gia khác nhau của chuỗi, thu
nhập hàng năm cao nhất thuộc về những bán buôn ở Hà Đông (3206,92 USD/năm
tương ứng 44,02% tổng thu nhập toàn chuỗi) và những người thu mua ở Mộc Châu
(2147,12 USD bằng 29,47% tổng thu nhập chuỗi) do số lượng cà chua được tiêu thụ
là rất lớn (105 tấn/năm với người thu mua, 132 tấn/năm đối với người bán buôn) mặc
dù lợi nhuận trên một kg của nông dân Sóc Sơn (0,14 USD/kg chiếm 33,33% lợi
nhuận toàn chuỗi) và nông dân Mộc Châu (0,06 USD/kg tương ứng với 14,29% lợi
22
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
nhuận toàn chuỗi) là cao nhất. Nguyên nhân của sự khác biệt này là người bán buôn
và người thu mua thu lợi từ chênh lệch giá mua và giá bán trên một lượng lớn cà chua
họ kinh doanh.
So với những người tham gia khác, các siêu thị và cửa hàng rau an toàn có lợi
nhuận thấp nhất, tính trên một kg và thu nhập hàng năm. Nguyên nhân là do đối với
người nông dân, việc bán hàng cho siêu thị và các cửa hàng rau an toàn không mang
lại thu nhập nhiều hơn so với bán hàng cho các hợp tác xã hay người thu mua và
người bán buôn, mặc dù giá thu mua của các cửa hàng rau an toàn cao hơn 20% so
với hợp tác xã Vân Trì, hợp tác xã 19 – 5 hay người bán buôn ở Hà Đông. Vì các cửa
hàng bán rau an toàn, siêu thị đưa ra nhiều áp lực hơn cho các nhà cung cấp, đặc biệt
là khả năng trả lại hàng.
Như vậy, phân tích chuỗi giá trị không chỉ giúp người nghiên cứu xác định thu
nhập được phân bổ trong các cấp và giữa các mắt xích khác nhau của chuỗi mà còn
nắm bắt được các mối quan hệ giữa các mắt xích trong chuỗi cũng như tác động của
hệ thống quản trị chuỗi tới sự phân phối đó. Qua đó từng bước cải thiện thu nhập của
dọc (vertical linkages): là liên kết giữa các tác nhân có quan hệ mua bán trong chuỗi,
giúp cho việc thâm nhập thị trường trở nên dễ dàng hơn. Ngoài ra, liên kết theo chiều
dọc cho phép các công ty trao đổi kiến thức, thông tin và kỹ thuật, tài chính và dịch
vụ kinh doanh.
Liên kết thị trường: là phương tiện để thúc đẩy dòng chảy của sản phẩm qua
các cấp độ của hệ thống marketing.
Liên kết thị trường giúp cho các tác nhân trong chuỗi có thể tiếp cận thông tin
thị trường đầy đủ và nhanh nhậy. Đây luôn là vấn đề quan trọng nhất của các doanh
nghiệp khi muốn xâm nhập vào một GVC. Dù các nước phát triển có dỡ bỏ các rào
cản thương mại đi chăng nữa thì các nhà sản xuất ở các nước đang phát triển cũng
không thể tự động gia nhập thị trường một cách dễ dàng bởi vì các chuỗi giá trị
thường bị kiểm soát bởi một số người mua nhất định.
Sự tin tưởng đóng vai trò trung tâm cho việc kết nối các thành viên và tạo lập
tính thống nhất trong mọi tổ chức. Tương tự như vậy, các mắt xích và các nhân tố của
chuỗi giá trị cũng được kết nối bởi các mối quan hệ và lòng tin. Tính chặt chẽ của các
24
Ngô Thị Tú Anh – Lớp A1. QTKDA. K45
liên kết phụ thuộc vào mức độ tin tưởng lẫn nhau giữa các nhân tố này là cao hay
thấp. Dựa vào mức độ tin tưởng giữa các mắt xích của chuỗi, R. Kaplinsky và M.
Morris [21;74], đã phân biệt hai loại chuỗi có mức độ tin tưởng cao và thấp như trong
Bảng 5.
BẢNG 5: SO SÁNH CHUỖI TIN TƯỞNG THẤP VÀ CHUỖI TIN TƯỞNG CAO
Chuỗi tin tưởng thấp Chuỗi tin tưởng cao
Độ lâu dài của quan
hệ buôn bán
Ngắn hạn Dài hạn
Các thủ tục đặt hàng Mở thầu đặt hàng, giá cả được
thỏa thuận và đồng ý trước khi
đặt hàng
Có thể không phải mở thầu; giá cả
ngắn hạn, thường là đối đầu để tìm kiếm lợi ích cho riêng mình và ít khi hỗ trợ nhau
vì vậy mà chuỗi này liên kết lỏng lẻo, ít kết nối.
Việc phân tích chuỗi giá trị ngành nông sản không chỉ giúp xác định các mắt
xích, những người tham gia nào chuỗi liên kết với nhau mà còn giúp tìm ra nguồn
gốc của những liên kết này và liệu rằng các liên kết đó có mang lại lợi ích hay không.
25