Tác động của các biến kinh tế vĩ mô đến chỉ số chứng khoán một số nước thị trường mới nổi - Pdf 11

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIẾN KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ CHỨNG
KHOÁN
MỘT SỐ NƯỚC THỊ TRƯỜNG MỚI
NỔI
 Lý do chọn đề
tài:
Như chúng ta đã biết thị trường chứng khoán (TTCK) là kênh huy động vốn hiệu quả
cho
các doanh nghiệp đồng thời qua đây cũng giúp đánh giá giá trị doanh nghiệp và
tình
hình
của nền kinh tế đất nước. Bên cạnh đó, nó còn cung cấp môi trường đầu tư
kiếm lời
rất
phổ biến, thu hút sự chú ý của rất nhiều nhà đầu tư. Chính vì thế, đây là
vấn đề thu
hút
nhiều nhà nghiên cứu. Trong thời gian qua có nhiều nghiên cứu cho
thấy những
biến
động của các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động rất lớn đến TTCK, gián
tiếp ảnh hưởng
đến
nền kinh tế của đất nước. Việc nắm bắt được những tác động này
thật sự có ý nghĩa
quan
trọng đối với việc đầu tư trên TTCK của các nhà đầu tư, từ
việc quan sát sự biến
động
của các biến vĩ mô các nhà đầu tư có thể dự đoán tình hình
TTCK trong tương lai để

1
 Đối tượng nghiên
cứu:
Ảnh hưởng của các nhân tố của môi trường kinh tế vĩ mô đến TTCK một số nước
thị
trường mới
nổi.
 Nội dung nghiên
cứu:

các nước đặt biệt là các nước mới nổi, việc thay đổi trong các chính sách cũng
như
các
biến kinh tế vĩ mô thường xảy ra khá đột ngột nên thường tác động khá mạnh (tích
cực
và tiêu cực) lên tâm lý của của các nhà đầu tư. Vì vậy, bài nghiên cứu này là
nhằm
đưa
ra một cách nhìn cụ thể về những tác động của các yếu tố trong môi trường
kinh tế

mô: lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất, lên TTCK (đại diện là chỉ số
chứng
khoán).
Bằng cách chạy mô hình hồi quy dạng dữ liệu bảng nhằm đưa ra kết quả
của các
tác

động
này đồng thời cũng đưa ra các dự báo cũng như làm tiền đề cho việc

thị trường tốt
hơn
như mô hình Fama-French, mô hình ba nhân tố mới của Lu Zhang
hay các nghiên cứu
về
tâm lý bầy đàn và đo lường mức độ bầy đàn của các chỉ số chứng
khoán.
MỤC
LỤC
M Ụ

C

L Ụ C
.
.
.
.

.
.

4
DA

N H

M Ụ C

T Ừ

V

I Ế T T Ắ

T .
.
6
1. G I Ớ

I

T H

I

Ệ U

.
.
.
.

6
2. T Ổ


.
.
8
2.1 K

hun g

l ý t h u

y ế

t

c

ơ
s ở
.
.
.
.
.

13

3. P

H Ư

Ơ N

G

P H

Á P



.
.
.
.

21

3.2
M ẫ

u

.
.


I Ê N

C

Ứ U
.
.
.

24

4.1 N

ộ i d u

n g

n gh

i ê

i n

h
t

ế
.
.
.
.

35

4.2.1 L ạ

m

ph á

i
.
.
.
.
35

4.2.3 D



t rữ

ng o ạ

i
h ố


.
.
.
36

4.2.5 C u n g

t

i ề

n
.
.
.

.
.

36

5. K

Ế T

L U Ậ

N

,

G Ợ

I

Ý C H

Í N

H


.

37

5.1 K

ế

t
l u ậ

n
.
.
.
.


.
.

37

5.2.1 C h í n h

s

ác

h k i n h

t

ế v ĩ

m ô

c



n h ư ớ

n g đ


c

h ứ n g
kho á

n.
.
.
.
.

37

5.2.2 N


ĩ

m ô ..
.
.
38

5.2.3 C h í n h

s

ác

h

t i ề

n

t ệ



t h ị t r ư ờ

n g

c

h ứ n g

kho á

n

h

i ệ

u

qu ả

v ề

t hô n

g

ti n .
i.
.
.
.

39

T À

I

L I

Ệ U

T H A

M


m

t ắ

t

c

á c

ngh i ê

n

c

ứ u

t h ự c

ng h

i ệm
. .
.
.

23

T a

b l e

3 : T h

ố n g

k ê

m ô

t ả

n g

qu a

n
.
.
.
.

26

T a

b l e

5 : K


c

đ

ộ n g

l ê

n

b i ế

n

p h



t h u ộ c

Y

.
.
28

T a


p

: .
.
.
29

T a

b l e

: K

i ể

m

đ

ị n

ế

t

qu ả

t h e

o

m ô

h

ì n h

t á

c

đ

ộ n g c



đ

ị n h



b l e

9 : K

ế

t

qu ả

t h e

o

m ô

h

ì n h

t á

c

đ

ộ n g c




i g

i a

n .

.
31

T a

b l e

1 0

: K

ế

t

qu ả

t h e

o

m ô


n g

c

ủ a

quố c

g

i a

.

.
32

T a

b l e

1 1

: T ổ n g

h ợ

p

k ế


1 2

: K

i ể

m

đ

ị n h

L

i k e

li h o

o k
r a

t i o
.

u s

m a

n .
.
.
.

34

DANH MỤC TỪ VIẾT
TẮT
TTCK: Thị trường chứng
khoán
NĐT: Nhà đầu

NHT

đó,
các nhà đầu tư khi tham gia vào TTCK cần đặc biệt quan tâm
đến các chính sách
của
chính phủ. Bài nghiên cứu này cho thấy mức độ ảnh hưởng của
các yếu tố trên đến chỉ
số
chứng khoán một số nước có nền kinh tế mới nổi như: Việt
Nam, Hồng Kông,
Singapo,
Hàn Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Nam Phi, Peru,
Braxin từ năm 2005 đến
giữa
năm 2012. Kết quả hồi quy theo bốn mô hình (hồi quy
gộp, tác động cố định theo đơn
vị
ch o, tác động cố định theo đơn vị ch o và thời gian,
tác động ngẫu nhiên) cho thấy:
biến
lạm phát, lãi suất, uất khẩu (ba trong bốn mô hình)
không có tác động đến chỉ số
chứng
khoán; tỷ giá tương quan âm với chỉ số chứng
khoán (chỉ có một mô hình là không có
ý
nghĩa thống kê) dự trữ ngoại hối, cung
tiền, nhập khẩu tương quan dương với chỉ
số
chứng khoán. ức độ tác động khác
nhau ở m i biến cụ thể như thế nào đọc giả hãy

khác, thị trường
chứng
khoán là rất quan trọng để tăng cường tính thanh khoản của tài
sản tài chính và đa
dạng
hóa toàn cầu nguy cơ dễ dàng hơn cho các nhà đầu tư để thực
hiện một quyết định đầu

khôn ngoan (Agrawalla
2006).
EMH (giả thuyết thị trường hiệu quả) cho thấy rằng tất cả các thông tin cần thiết hoặc

liên quan cho các nhà đầu tư về tối đa lợi nhuận và các biến kinh tế vĩ mô giảm khả
năng
siêu lợi nhuận. Do đó, giá cổ phiếu phản ánh đầy đủ vị trí hiện tại của các biến
kinh tế

mô theo Chong và Koh (2003). Các nhà quản lý danh mục đầu tư và tư vấn
đầu tư
không
có khả năng để giúp các nhà đầu tư để kiếm siêu lợi nhuận liên tục nếu
EMH liên
tục
theo vai trò của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán các công ty môi
giới làm giảm
dần dần.
Mối quan hệ giữa các biến số kinh tế thực tế và giá cổ phiếu đã được điều tra nghiên
cứu
nhiều trong các tài liệu tài chính. Cho đến khi cơ sở giả thuyết đại diện được xây
dựng

hơn (thấp hơn) nghĩa là chi phí đầu tư cao hơn (thấp hơn). Vì vậy, có một mối
quan
hệ
nhân quả âm giữa chỉ số chứng khoán và sự tăng trưởng trong tương
lai.
Những nghiên cứu gần đây cũng cho thấy thay đổi trong giá cổ phiếu, chủ yếu là
do
những thay đổi trong cung tiền. Ngược lại, một sự rớt giá trong tỷ lệ tăng trưởng
cung
tiền làm chậm đà tăng trưởng của giá cổ
phiếu.
Mục đích của nghiên cứu là để kiểm tra mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô
thực
và giá cổ phiếu (chỉ số chứng khoán) ở một số nước thị trường mới nổi. Bên cạnh
đó,
chúng tôi cũng qua đây trả lời các câu hỏi: Các biến kinh tế vĩ mô nào tác động đến chỉ
số
chứng khoán? Mức độ tác động như thế nào? Theo hướng nào? Giải thích sự khác
biệt
của nghiên cứu của chúng tôi với các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên thế
giới?,…
Bố cục bài nghiên cứu chia làm năm phần: phần 1 giới thiệu, phần 2 tổng
quan
các
nghiên cứu trước đây, phần 3 phương pháp nghiên cứu, phần 4 nội dung
& kết
quả
nghiên cứu, phần cuối cùng là kết luận và gợi ý chính
sách.
2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

: cổ tức mong đợi năm
sau.
• r: tỷ lệ chiết
khấu.
• g: tốc độ tăng
trưởng.
Lạm phát là một sự gia tăng trong các mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ, được
đo
như là sự gia tăng tỷ lệ phần trăm hàng
năm.
Nguyên nhân gây ra lạm
phát:
Lạm phát do chi phí đẩy: Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá
cả
nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế Khi giá cả
của
một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp chắc
chắn
cũng tăng lên, vì thế mà giá thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi
nhuận

thế là mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng sẽ
tăng.
Lạm phát do cơ cấu: Với ngành kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tăng dần tiền
công
danh nghĩa cho người lao động. Giá lao động tăng lên gây áp lực lên những nhóm
ngành
kinh doanh không hiệu quả, các doanh nghiệp này buộc phải tăng giá thành sản
phẩm
để

lượng tiền trong lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ra lạm
phát.
Lạm phát do cung đẩy: Khi công ty chi phí tăng lên, họ cần phải tăng giá để duy trì
lạm
phát chi phí đẩy của họ tăng chi phí có thể bao gồm những thứ như: tiền lương,
thuế,
hoặc tăng chi phí nhập
khẩu.
Đo lường lạm phát là một vấn đề khó khăn cho các nhà thống kê của chính phủ. Để
làm
điều này, một số hàng hóa là đại diện của nền kinh tế được đặt lại với nhau thành
những
gì được gọi là một “giỏ thị trường”. Chi phí của giỏ này sau đó được so sánh
theo
thời
gian. Điều này dẫn đến một chỉ số giá, đó là chi phí của giỏ thị trường ngày
hôm nay
như
là một tỷ lệ phần trăm của chi phí đó giỏ giống hệt nhau trong năm bắt
đầu. Lạm
phát
thường được đo lường bằng CPI,
PPI.
Phương trình trao đổi tiền tệ
(Fisher):
M.V = P.Y
(2)
• M là tổng lượng cung tiền của quốc
gia.
• V là số lần m i năm m i đồng tiền chi

nhập.
Lãi suất cao hơn do ảnh hưởng của chính sách tiền tệ thắt chặt thường có tác động
xấu
cho TTCK bởi vì: nó làm giảm giá của chứng khoán thông qua việc làm tăng
lãi
suất
chiết khấu trong các mô hình định giá; nó làm cho các chứng khoán thu nhập cố
định
trở
thành một lựa chọn hấp dẫn hơn làm giảm thanh khoản vào cổ phiếu; làm giảm
u
hướng
vay mượn để đầu tư vào chứng khoán; cuối cùng, nó làm tăng chi phí vận
hành
doanh
nghiệp do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận công
ty.
Jorion (1990) cho thấy mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và giá cổ phiếu có thể được
quy
định như
sau:
R
it
= β
0i
+ β
1i
R
st
+ ε

xem xét trong một khuôn khổ mở rộng như
sau:
R
it
= β
0i
+ β
1i
R
st
+ β
2i
R
mt
+ ε
it
(7)
R
mt
là lợi nhuận trên chỉ số chứng khoán tích lũy ngoại hối trong tháng t; t =
1,
…,T.

cấp độ kinh tế vĩ mô, để dự đoán mối tương quan âm giữa sức mạnh của đồng nội tệ

chỉ số giá cổ phiếu tổng hợp ác định bởi phương
trình:
Ds
t
= α +βDRS

gian, thường là đến kỳ hạn 30 năm. Đường cong lãi suất có thể được tạo cho
bất cứ
công
cụ nợ nào, nhưng người ta thường chọn đường cong lãi suất Trái
phiếu Chính
phủ
(TPCP) làm chuẩn do đặc tính rủi ro thấp (gần như không rủi ro) và
sự đa dạng của
các
kỳ hạn trái phiếu. Đường cong lãi suất chuẩn đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo
lãi
suất tham chiếu cho hoạt động phát hành, giao dịch và đầu tư
trên thị trường trái
phiếu.
Khi đường cong lãi suất tăng dốc, nó tạo một áp lực giảm
giá chứng khoán bởi vì lãi
suất
của trái phiếu chính phủ sẽ tăng. Tuy nhiên, điều này chỉ
mang tính lý thuyết, trên thực
tế
không có nghĩa là khi đường cong lãi suất tăng cao sẽ
không có các cơ hội đầu tư
vào
chứng khoán, trên thực tế, đây chỉ là một nhân tố mà
các nhà đầu tư chứng khoán
cần

em t khi phân tích u hướng
TTCK.


tăng giá chứng
khoán.
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của c

á n

cân thánh toán quốc
tế.
Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xu ấ t

kh ẩu và n h ậ p

kh ẩ u của một
quốc
gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh
lệch
giữa
chúng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu). Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán
cân
thương
mại có thặng dư. Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân
thương mại

thâm hụt. Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng
thái cân
bằng.
Dự trữ ngoại hối nhà nước (dự trữ ngoại hối hoặc dự trữ ngoại tệ) là lượng
ng o



h

t

i



n

t



của một qu ố

c

g i

a hay
lãnh
thổ
nắm giữ. Đây là một loại tài sản của N h à

n ư ớ c

được cất giữ dưới dạng ngoại
tệ

j,1
F
2
+…+ β
j,K
F
K
+
ε
j
.
Có các chứng cứ khác nhau của các quan hệ nhân quả giữa lợi nhuận chứng khoán và
các
biến số vĩ mô đã được tìm thấy trong các lý thuyết sử dụng các thông số kỹ thuật
định
giá
tài sản khác nhau. Trong lý thuyết, CAP đã được dùng phổ biến rộng rãi bị
thách
thức
nghiêm trọng kể từ khi lợi nhuận có thể được dự đoán từ các yếu tố tài
chính khác.
Điều
này đã dẫn đến sự phát triển và thử nghiệm các thông số kỹ thuật định
giá tài sản thay
thế
khác nhau, chẳng hạn như lý thuyết chênh lệch giá (APT) và mô
hình hiện giá
(PVM).
Trong bối cảnh động thái vĩ mô của lợi nhuận cổ phiếu, APT
giả định rằng doanh

tra xem liệu có mối quan hệ nhân quả lâu dài giữa các biến số kinh tế vĩ mô và giá
cả
thị
trường chứng khoán. Họ nhận ra rằng ba trong số bốn biến kinh tế vĩ mô cùng
đồng
liên
kết với giá cả thị trường chứng
khoán.
Habibullah (2000) ác định các mối quan hệ dẫn dắt và độ trễ giữa thị trường
chứng
khoán alaysia và năm biến kinh tế vĩ mô then chốt. Nghiên cứu của Naka
(2001)
về
mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô và chỉ số Bombay Stock Exchange.
Kết quả
cho
thấy lạm phát trong nước có khả năng cản trở nghiêm trọng nhất đến thị
trường
chứng
khoán Ấn Độ ngược lại tốc độ tăng trưởng sản lượng nội địa là động lực
chủ yếu của
nó.
Nasseh (2000) nghiên cứu mối quan hệ giữa giá thị trường chứng khoán (đại diện bởi
chỉ
số chứng khoán) và các hoạt động kinh tế nội địa và quốc tế ở sáu nước: Pháp,
Đức,
Ý,
Hà Lan, Thụy Sĩ and Anh, mặc dù giá chứng khoán được giải thích bởi các
biến kinh
tế

hạn và
ngắn
hạn của trái phiếu chính phủ) và phí rủi ro (đo lường bằng lợi nhuận trái
phiếu cấp
thấp
và trái phiếu cấp cao) là những nhân tố có ảnh hưởng đến việc dư đoán
lợi nhuận
chứng khoán.
Harvey (1995) tập trung vào các thị trường mới nổi bằng cách nhìn vào lợi nhuận
của
hơn 800 cổ phiếu của 20 thị trường mới nổi. Ông thấy rằng mức độ dự đoán
trong
thị
trường mới nổi lớn hơn ở các thị trường phát triển. Ngoài ra, thông tin nội địa
đóng
một
vai trò quan trọng hơn nhiều trong việc dự đoán lợi nhuận ở các nước thị
trường mới
nổi
hơn so với các nước thị trường phát triển. Đặc điểm này giúp giải thích
sự khác biệt
trong
khả năng dự đoán giữa hai loại thị
trường.
Lý thuyết đại diện được xây dựng bởi Fama và Schwert (1977) cho rằng sự gia tăng
các
hoạt động kinh tế thực sự gây ra một sự gia tăng lạm phát và cũng là một giảm trong
giá
cổ phiếu do mối tương quan âm giữa lạm phát và giá cổ phiếu. Tuy nhiên, lý thuyết
được

Modigliani và
Cohn
(1979), Summers (1983) cho rằng giá cổ phiếu có thể bị bóp méo
bởi lượng tiền ảo tức

cổ phiếu được định giá như khi các nhà đầu tư nhầm lẫn sử
dụng lãi suất danh nghĩa
để
giảm giá thu nhập thực
tế.
Park (1997) tiếp cận với các sản phẩm trong một khía cạnh khác nhau trong nghiên
cứu
của mình liên quan đến Hoa Kỳ. Ông đã đề cập về một mối tương quan âm giữa
chỉ
số
lạm phát và giá cổ phiếu trong tương lai. Theo Park (199 ), tỷ lệ có việc làm là
biến
quan
trọng nhất có thể dự báo lạm phát trong tương lai. Ông nói thêm rằng biến
này
tương
quan âm với giá cổ
phiếu.
Ngoài ra, nghiên cứu của Chatrath (199 ) cũng cho thấy mối tương quan âm giữa
lợi
nhuận thị trường chứng khoán và lạm phát ở các nước phát triển ở châu Âu và
Bắc
ĩ.
Nghiên cứu cũng có kết quả tương tự ở Ấn
Độ.

không có mối liên hệ dài hạn giữa giá chứng khoán và tỷ giá ở Mỹ, tuy nhiên,
họ
phát
hiện có một mối quan hệ ngắn hạn giữa hai biến số này thông qua kiểm định
nhân
quả
Granger.
Horobet Livia (2007) khám phá sự tương tác giữa tỷ giá hối đoái và giá của thị
trường
chứng khoán áp dụng cho Romania. Nghiên cứu sử dụng thử nghiệm hai chiều
cùng
đồng
liên kết, sử dụng cả hai tiêu chuẩn Engle-Granger và Johansen-Juselius và
kiểm tra
mối
quan hệ nhân quả Granger thay đổi cho thấy sự không cùng đồng liên kết
giữa tỷ giá
hối
đoái và giá cổ
phiếu.
Nghiên cứu của Friedman và Schwartz (1963) đã đưa ra lời giải thích đầu tiên về
mối
quan hệ giữa cung tiền và thu nhập chứng khoán, theo đó một gia tăng trong cung
tiền
sẽ
làm gia tăng thanh khoản và tín dụng cho người mua cổ phiếu dẫn đến giá
cảc
chứng
khoán cao
hơn.

Ben Bernanke và Kenneth Kuttner (2005) cho rằng giá của một cổ phiếu là một
chức
năng của nó về giá trị tiền tệ và rủi ro về nhận thức trong việc tổ chức cổ phiếu.
Một
cổ
phiếu hấp dẫn nếu tiền tệ giá trị nó mang
cao.
Shostak (2006) kết luận rằng giá cổ phiếu gây ra những thay đổi trong cung tiền.
Trong
bài nghiên cứu của mình, ông đã chỉ ra rằng mối quan hệ nhân quả không có
thể
được
thiết lập bằng các phương tiện thống kê mà không có một định nghĩa chặt chẽ
về tiền
bạc
và làm thế nào nó có liên quan đến giá của các tài sản tài chính. Trái
ngược với
nhiều
chuyên gia, những người bác bỏ tầm quan trọng của tiền trong việc đẩy
giá cổ
phiếu.

askay (2008) phân tích tác động của thay đổi lượng cung tiền trên giá cổ phiếu.
Ông
chứng minh rằng cú sốc cung tiền tích cực làm tăng giá cổ phiếu và ngược lại.
Ngoài
ra,
giả thuyết thị trường hiệu quả những thay đổi dự kiến trong việc tiền cung
quan trọng
hơn

cao trong sự liên kết với cổ phiếu hiện tại, dự trữ ngoại hối, chỉ số sản xuất
công
nghiệp
và tăng trưởng tiền tệ liên quan đáng kể. Nghiên cứu dùng dữ liệu từ 1986
để
2004.
Nghiên cứu của Beenstock và Chan (1998), Souer (1994), Altay (2003), Tursoy el
al
(2008), Kandir (2008) đã cho thấy chỉ số chứng khoán bị tác động bởi giá trị xuất –
nhập khẩu.
Trong bài nghiên cứu “Effect of macroeconomic variables on stock market returns
for
four emerging economies: Brazil, Russia, India and China”, tác giả Robert D.Gay
đã
tiến
hành kiểm định ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô như TGHĐ và giá dầu lên
TTCK
bằng
cách sử dụng phương pháp Bo -Jenkins - mô hình ARI A. Để mô tả mối
quan hệ
này,
tác giả đã dùng trung bình di động 1 tháng MA(1), 3 tháng MA(3), 6
tháng MA(6) và
12
tháng A(12) cho độ trễ của biến phụ thuộc giá CK và 2 biến tỷ
giá và giá dầu. Dữ
liệu
được thu thập theo tháng từ tháng 03/1999 đến tháng 06/2006.
Kết quả phân tích: tồn
tại

TGHĐ
danh nghĩa có hiệu lực và lạm phát. Điều đặc biệt là khủng hoảng
tài chính 1997
lại
không có ảnh hưởng gì đến giá CK. Kết quả của kiểm nghiệm
(theo mô hình
error
correction) đã cho thấy mối quan hệ qua lại giữa TSSL của thị
trường CK với tỷ lệ
tăng
trưởng trong ngắn và dài hạn. GDP thực, TGHĐ danh
nghĩa và cung tiền có tác
động
cùng chiều lên giá CK, trong khi lạm phát lại có tác
động ngược chiều lên giá
CK.
o
ngbangpo
và Sharma đã phát hiện mối quan hệ giữa TSSL thị trường với 5 biến

mô ở 5 quốc gia ASEAN là Indonesia, Malaysia, Philippies, Singapore và Thái
Lan.
Bằng cách quan sát mối quan hệ trong cả ngắn và dài hạn của từng chỉ số CK và
các
biến
như GNP, CPI, cung tiền, lãi suất và tỷ giá, kết quả là trong dài hạn cả 5 chỉ
số đều

mối quan hệ rõ n t đối với tăng trưởng đầu ra và tương quan mờ nhạt với
mức giá

phát
John Y. Campbell và Tuomo Vuolteenaho (2004), Geske
and
Roll (1983), Pearce và Roley (1983), Pearce (1985), Naka
(2001
),
Fama và Schwert (1977), Malkiel (1979), Linter (1975),
Bodies
(1976), Park (1997), Chatrath
(1997),…
Tỷ
giá
Abdalla và Murinde (1996), Dornbusch (1980), Giovannini

Jordan, Tabak
(2006)
Horobet Livia (2007), Bahmani-Oskooee và Sohrabian, Nieh

Lee
(2001),…
Dự trữ ngoại
hối
Safail Sharma
(2007),…
Lãi
suất
Chen, Roll và Ross (1986), Chan, Chen và Hsieh
(1985)
Gupta, Chevalier và Sayekt
(2000)

nhu
cầu đầu tư, phân tích, tư
vấn,…
Lạm phát: Tỷ lệ lạm phát cao làm tăng chi phí mức sống và tăng sự dịch chuyển
các
nguồn lực từ đầu tư đến tiêu dùng điều này dẫn đến sự sụt giảm trong nhu cầu
của
các
công cụ thị trường và sau đó dẫn đến việc giảm khối lượng cổ phiếu giao dịch tác
động
đến biến phụ thuộc. Ngoài ra các tiền tệ chính sách phản ứng với sự gia tăng tỷ
lệ
lạm
phát với các chính sách kinh tế thắt chặt lần lượt tăng lãi suất phi rủi ro danh
nghĩa và
do
đó làm tăng tỷ lệ chiết
khấu.
Tỷ giá hối đoái: Hoạt động của doanh nghiệp thường chịu ba rủi ro liên quan đến tỷ
giá
đó là: độ nhạy cảm kinh tế, độ nhạy cảm chuyển đổi và độ nhạy cảm giao dịch.
Do
đó
vấn đề đặt ra là cần tìm hiểu mối quan hệ giữa tỷ giá và chỉ số chứng khoán để
thấy
được
cũng như có cách phòng ngừa rủi ro cho danh mục đầu
tư.
Lãi suất: Khi đường cong lãi suất tăng dốc, nó tạo một áp lực giảm giá chứng khoán
bởi

đi,
điều này ngầm định rằng đang có sự tăng nóng trong uất khẩu ròng,
giá cả chứng
khoán
có thể sụt giả nếu các nhà đầu tư cảm nhận rằng có khả năng
ảy ra lạm phát cao
do
chính phủ muốn tăng sản lượng đầu ra của nền kinh tế. Kết quả
sẽ là sự đi uống
trong
giá cả chứng khoán khi các nhà đầu tư tháo chạy khỏi thị
trường trước khi NHNN có
các
chính sách thắt chặt tín dụng trong tương lai. Khi đất
nước có u hướng thặng dư
thương
mại (hiệu giữa giá trị xuất khẩu và giá trị nhập khẩu dương) thường cho thấy tín hiệu
tốt
của nền kinh tế, u hướng giá cả cổ phiếu sẽ tăng vì các nhà đầu tư đều cảm nhận
được
thời kì kinh tế tốt hơn đang rất gần. Do đó, họ sẽ mua nhiều cổ phiếu hoặc giảm số
lượng
cổ phiếu bán đi. Tình trạng thanh khoản sẽ k m đi khi có ít người sẵn sàng trao
đổi
chứng
khoán mà chuyển sang nắm giữ để đầu cơ do đó để có được chứng khoán,
người
mua
phải chấp nhận trả cái giá cao
hơn.

2
FX
i
+ β
3
FXR
i
+ β
4
R
i
+ β
5
MS
i
+ β
6
EX
i

7
IM
i
+ ε
i
(9)
• “β
i
” là các hệ số hồi
quy.

Tốc độ tăng trưởng của dự trữ ngoại
hối.
IFS
(IMF)
R
Tốc độ tăng trưởng của lãi suất cho
vay.
IFS
(IMF)
MS
Tốc độ tăng trưởng của cung tiền (tiền &
tương
đương tiền, những quốc gia khuyết dữ liệu
thay
bằng
M2).
IFS
(IMF)
EX
Tốc độ tăng trưởng của giá trị xuất
khẩu.
IFS
(IMF)
IM
Tốc độ tăng trưởng của giá trị nhập
khẩu.
IFS
(IMF)
4. NỘI DUNG & KẾT QUẢ NGHIÊN
CỨU

và thời
gian.
Thứ ba, mô hình tác động ngẫu nhiên - REM (Random effects model): mô hình này
chỉ
có một giá trị hệ số trục tung duy nhất và hệ số này bằng với giá trị trung bình của
tất
cả
các đơn vị chéo mà chúng ta quan sát, sự khác biệt của các đơn vị chéo sẽ
chứa
đựng
trong thành phần sai số ngẫu
nhiên.
Với ba hướng tiếp cận này chúng tôi sẽ đưa ra bốn dạng mô hình hồi
quy:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status