BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
NGUYỄN THỊ HOA
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM
NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM VIỆT NAM
Chuyên ngành : KTTG & QHKTQT
Mã số : 60.31.07 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
vững mạnh trên thế giới?
Xuất phát từ bối cảnh các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam còn non
trẻ, việc đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nƣớc ngoài tại
Việt Nam, phân tích những thách thức mà các doanh nghiệp bảo hiểm Việt
Nam đang và sẽ phải đối mặt, cũng nhƣ cơ hội có thể tiếp nhận để từ đó tìm ra
đƣợc một số giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam vƣợt
qua thách thức là một yêu cầu tất yếu về mặt lý luận và thực tiễn. Đó là lý do 2
vì sao vấn đề này đƣợc tác giả lựa chọn làm đề tài của Luận văn Thạc sỹ kinh
tế.
2. Tình hình nghiên cứu:
Bảo hiểm là một dịch vụ tài chính đóng vai trò rất quan trọng đối với sự
ổn định của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội. Đây là một lĩnh vực tuy
không mới đối với thế giới, song với một thị trƣờng còn non trẻ và đang rất
ngỡ ngàng trƣớc tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế nhƣ Việt Nam thì bảo
hiểm vẫn là một lĩnh vực mới và khá hấp dẫn. Cho đến nay, đã có nhiều ngƣời
nghiên cứu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm song những đề
tài này tập trung đi sâu vào từng nghiệp vụ kinh doanh cụ thể. Có thể nói đề
tài Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nƣớc ngoài tại Việt Nam vẫn
còn là một vấn đề mở, đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu hơn, bao quát
hơn để tìm ra giải pháp cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam chủ động
hội nhập.
3. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích và đánh giá một cách khách quan thực trạng hoạt
động của các doanh nghiệp bảo hiểm nƣớc ngoài tại Việt Nam, luận văn sẽ
tổng hợp những thách thức và cơ hội của doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam.
Liệu đứng trƣớc những trở ngại và khó khăn trong khi tiềm lực còn chƣa đủ
mạnh thì các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam sẽ phải làm gì để tồn tại và
- Phƣơng pháp thống kê
- Phƣơng pháp so sánh
7. Kết cấu của luận văn:
Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu, phần kết luận gồm 3 chƣơng
sau: 4
Chƣơng I: Bảo hiểm Việt Nam và những cam kết hội nhập quốc tế của
Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm
Chƣơng II: Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nƣớc ngoài tại
Việt Nam và những thách thức đối với doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam
Chƣơng III: Một số giải pháp cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam
nhằm vƣợt qua thách thức
Đề tài đƣợc tiến hành trong điều kiện công tác thống kê của toàn ngành
chƣa hoàn thiện, việc trao đổi và cập nhật thông tin giữa các cơ quan quản lý
bảo hiểm, hiệp hội bảo hiểm còn nhiều hạn chế, bởi vậy luận văn không tránh
khỏi những thiếu sót, rất mong nhận đƣợc sự thông cảm và nhiệt tình đóng
góp của thầy, cô và bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Sau Đại học, các thầy, cô là giảng viên
cho lớp Cao học 14 trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng, Hà Nội đã nhiệt tình
giảng dạy, truyền bá những kiến thức quý báu, sâu rộng giúp tôi có nền tảng
khoa học khi thực hiện đề tài nghiên cứu này. Tôi xin gửi lời cảm ơn và tỏ
lòng biết ơn đặc biệt tới PGS.TS Nguyễn Nhƣ Tiến, ngƣời thầy đã tận tình
hƣớng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Công ty bảo hiểm Việt Nam còn giữ vai trò quản lý Nhà nƣớc và điều hành
hoạt động của thị trƣờng bảo hiểm trong nƣớc. Sản phẩm bảo hiểm trong giai
đoạn này hết sức nghèo nàn. Tuy có đủ 3 loại hình bảo hiểm là bảo hiểm tai
nạn, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con ngƣời nhƣng số lƣợng
nghiệp vụ và sản phẩm không nhiều.
Giai đoạn 1987 – 1994 6
Cùng với tác động của công cuộc đổi mới kinh tế, Công ty bảo hiểm
Việt Nam (Bảo Việt) cũng chuyển hƣớng hoạt động của mình cho phù hợp
hơn với cơ chế thị trƣờng. Tuy nhiên, trong thời gian này, Bảo Việt vẫn nắm
giữ vai trò độc quyền trên thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam. Số lƣợng nghiệp vụ
và sản phẩm bảo hiểm trong giai đoạn này khoảng trên 30 loại hình. Năm
1989, Bảo Việt đƣợc Nhà nƣớc chuyển đổi thành Tổng công ty bảo hiểm Việt
Nam với các công ty bảo hiểm trực thuộc ở tất cả các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ƣơng.
Giai đoạn 1994 đến nay
Vào năm 1994, khi Chính phủ quyết định mở cửa thị trƣờng bảo hiểm
bằng việc cho phép các công ty bảo hiểm khác đƣợc ra đời, vai trò độc quyền
của Bảo Việt chấm dứt. Theo đánh của Bộ Tài chính thì vào thời điểm đó ,
Bảo Việt mới chỉ đáp ứng đƣợc từ 10-15% nhu cầu thị trƣờng. Sau năm 1994,
một loạt công ty bảo hiểm trong nƣớc đƣợc thành lập. Các khách hàng chủ
yếu của thị trƣờng bảo hiểm trong giai đoạn này vẫn là các doanh nghiệp quốc
doanh lớn nhƣ Tổng Công ty hàng không Việt Nam, Petro Việt Nam, Tổng
Công ty than Bên cạnh đó, hệ thống các liên doanh giữa doanh nghiệp Việt
Nam và nƣớc ngoài cũng là những khách hàng quan trọng của thị trƣờng bảo
hiểm. Theo các quy định của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm và luật đầu
tƣ nƣớc ngoài, tất cả các dự án đầu tƣ nƣớc ngoài đều phải tiến hành bảo hiểm
tài sản và trách nhiệm dân sự tại các công ty bảo hiểm đƣợc phép hoạt động ở
hoạt động theo cơ chế thị trƣờng chƣa dài nhƣng thị trƣờng bảo hiểm Việt
Nam đã có bƣớc phát triển về chất và lƣợng, với một hệ thống khung pháp lý
khá hoàn thiện, tốc độ tăng trƣởng mạnh mẽ của thị trƣờng sản phẩm cả về số
lƣợng sản phẩm và doanh thu phí, có thể nói thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam đã 8
có những bƣớc phát triển đáng ngạc nhiên, bƣớc vào giai đoạn phát triển mới
– hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1.2 Môi trƣờng pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Phát triển thị trƣờng dịch vụ tài chính nói chung và thị trƣờng bảo hiểm
nói riêng luôn là một trong những ƣu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam.
Để có đƣợc một thị trƣờng bảo hiểm phát triển lành mạnh, việc hình thành
khung pháp lý điều tiết thị trƣờng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong
những năm qua, Chính phủ luôn quan tâm và khuyến khích phát triển thị
trƣờng bảo hiểm, thể hiện qua việc tạo ra một hành lang pháp lý dần đƣợc
hoàn thiện để tạo điều kiện tốt hơn, giúp các doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành
hoạt động kinh doanh và phát triển.
Sau một thời gian dài không phân định rõ chức năng quản lý Nhà nƣớc
và kinh doanh bảo hiểm trên thị trƣờng, việc Chính phủ ban hành Nghị định
100/CP ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam có thể nói đã
thiết lập đƣợc khung pháp lý cơ bản đầu tiên để điều tiết quá trình vận hành
thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam. Tuy nhiên, khung pháp lý điều chỉnh thị
trƣờng này chỉ thực sự phát triển với việc lần đầu tiên Luật Kinh doanh bảo
hiểm đƣợc Quốc hội chính thức thông qua vào ngày 9/12/2000. Đặc biệt,
Chính phủ còn xây dựng “Chiến lƣợc phát triển thị trƣờng bảo hiểm Việt
Nam từ năm 2003 đến năm 2010” thể hiện qua Quyết định số 175/2003/QĐ-
TTg ngày 29/8/2003. Điều này có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự phát triển
của toàn ngành bảo hiểm trong những năm tiếp theo an toàn, hiệu quả và sẵn
sàng hội nhập. Để thực hiện chiến lƣợc này, hàng loạt văn bản, chế độ mới đã
doanh nghiệp bảo hiểm phải có trên 10 năm hoạt động kinh doanh bảo hiểm
và tổng tài sản trên 2 tỷ USD, quy định về năng lực quản lý và chuyên môn
cho các chức danh Chủ tịch và ủy viên Hội đồng quản trị, Giám đốc và Phó
Giám đốc Chi nhánh, điều kiện mở thêm chi nhánh và phòng kinh doanh. 10
Tiến tới năm 2010 sửa đổi Luật kinh doanh bảo hiểm phù hợp với tiêu chuẩn,
chuẩn mực quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm và bảo vệ
quyền lợi khách hàng ngày một tốt hơn. [1]
Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu mới phát sinh trong thực tiễn, tránh
thất thoát, lãng phí trong xây dựng cơ bản, Bộ Tài chính đã ban hành các quy
tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm xây dựng, lắp đặt áp dụng đối với các công
trình sử dụng vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nƣớc.
Có thể thấy rằng, công tác xây dựng chế độ chính sách trong lĩnh vực
bảo hiểm đã đi đúng hƣớng, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với điều kiện
thực tế của thị trƣờng. Cơ chế chính sách đã từng bƣớc đƣợc công khai, minh
bạch hoá tạo ra một môi trƣờng pháp lý phù hợp nhằm phát triển một thị
trƣờng bảo hiểm toàn diện, an toàn, lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu bảo
hiểm cơ bản của nền kinh tế và dân cƣ, đảm bảo cho các tổ chức, cá nhân
đƣợc thụ hƣởng những sản phẩm bảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế; thu hút các
nguồn lực trong nƣớc và nƣớc ngoài cho đầu tƣ phát triển kinh tế – xã hội;
nâng cao năng lực tài chính, kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh bảo hiểm; đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1.3 Quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Từ tháng 6/1992, Bộ Tài chính đã tách chức năng quản lý Nhà nƣớc và
chức năng kinh doanh của Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam và thành lập một
Phòng quản lý Nhà nƣớc về kinh doanh bảo hiểm thuộc Vụ Tài chính Ngân
hàng, tham mƣu cho Bộ Tài chính trong công tác quản lý Nhà nƣớc về hoạt
động kinh doanh bảo hiểm. Đến năm 2003, do sự phát triển nhanh chóng của
quan tâm, thực hiện có kết quả và hƣớng đến nhiều đối tƣợng khác nhau,
thông qua nhiều hình thức thiết thực, phong phú, sinh động nhƣ báo chí, đài
phát thanh, hội thảo Qua đó, góp phần xử lý kịp thời các yêu cầu mới phát
sinh, đảm bảo thị trƣờng phát triển ổn định và nâng cao nhận thức của ngƣời 12
dân về kinh doanh bảo hiểm và quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động kinh
doanh bảo hiểm.
Đặc biệt, đƣợc sự đồng ý của Chính phủ và Bộ Tài chính, ngày
9/7/1999, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã đƣợc thành lập với chức năng đại
diện cho tiếng nói và quyền lợi của các doanh nghiệp bảo hiểm trƣớc các cơ
quan nhà nƣớc có thẩm quyền và công chúng. Việc thành lập Hiệp hội đã góp
phần hỗ trợ cho công tác quản lý Nhà nƣớc đƣợc hiệu quả hơn.
1.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam
1.2.1 Cơ cấu và quy mô thị trƣờng bảo hiểm
Trong những năm vừa qua, thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam đã có những
bƣớc phát triển nhanh chóng cả về chất và lƣợng, đánh dấu bƣớc phát triển
căn bản từ một thị trƣờng độc quyền nhà nƣớc sang một thị trƣờng khá hoàn
chỉnh theo cơ chế thị trƣờng với sự tham gia của đủ mọi thành phần kinh tế
(nhà nƣớc, cổ phần, liên doanh, 100% vốn nƣớc ngoài) hoạt động trong khu
vực kinh doanh bảo hiểm. Năm 2008, thị trƣờng có thêm 9 doanh nghiệp
đƣợc cấp phép mới, nâng tổng số doanh nghiệp lên 49 doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm 2
doanh nghiệp Nhà nƣớc, 23 công ty cổ phần, 4 doanh nghiệp liên doanh và 20
doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.[2] 13
BẢNG 1.1: SỐ LƢỢNG CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM THEO KHỐI
1
Môi giới bảo hiểm
6
4
10
Tổng cộng
2
23
4
20
49
Nguồn: Bộ Tài Chính, Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2008 [2]
Bên cạnh đó, sự góp mặt của 42 văn phòng đại diện của các tổ chức
bảo hiểm nƣớc ngoài tại Việt Nam cũng góp phần cải thiện môi trƣờng đầu tƣ
và tăng lòng tin của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài khi đến làm ăn tại Việt Nam.
Thị trƣờng bảo hiểm tiếp tục duy trì tốc độ tăng trƣởng cao so với tăng
trƣởng GDP, doanh thu toàn ngành đạt 27.668 tỷ đồng, tăng 15,45% so với
năm 2007 trong đó doanh thu phí bảo hiểm đạt 21.253 tỷ đồng, doanh thu đầu
tƣ đạt 6.799 tỷ đồng. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò, vị trí
của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nƣớc tiếp tục đƣợc củng cố và tăng
cƣờng, chiếm 64,97% tổng doanh thu phí bảo hiểm. 14
BẢNG 1.2: DOANH THU PHÍ BẢO HIỂM VÀ THỊ PHẦN THEO KHỐI
DOANH NGHIỆP NĂM 2007 - 2008
Các chỉ tiêu
43,53
53,47
51,52
48,48
100
100
Tỷ trọng phí/GDP
%
0,72
0,90
0,82
0,85
1,54
1,75
Nguồn: Bộ Tài Chính, Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2008 [2]
1.2.2 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm Phi nhân thọ đạt doanh thu 10.950 tỷ VND tăng 33,33% so
với năm 2007. Thị phần doanh thu phí bảo hiểm tiếp tục tập trung vào các
doanh nghiệp lớn hoạt động trên thị trƣờng, dẫn đầu là Bảo hiểm Bảo Việt
3.320 tỷ VND, tiếp đó là PVI 2.020 tỷ VND, Bảo Minh 1.884 tỷ VND, PJICO
1.060 tỷ VND, PTI 443 tỷ VND. Chiếm tỷ trọng lớn là nghiệp vụ bảo hiểm xe
cơ giới 3.182 tỷ VND, bảo hiểm tài sản kỹ thuật 2.024 tỷ VND, bảo hiểm con
ngƣời 1.597 tỷ VND, bảo hiểm thân tàu và TNDS của chủ tàu 1.266 tỷ VND,
bảo hiểm hàng hóa vận chuyển 972 tỷ VND.
Toàn thị trƣờng đã giải quyết bồi thƣờng 4.511 tỷ VND, tỷ lệ bồi
thƣờng 41,5%. Các nghiệp vụ có tỷ lệ bồi thƣờng cao là bảo hiểm xe cơ giới
1.830 tỷ VND (chiếm 58%), bảo hiểm con ngƣời 724 tỷ VND (chiếm 45,3%),
bảo hiểm thân tàu và TNDS của chủ tàu 583 tỷ VND (chiếm 46%), bảo hiểm
tài sản thiệt hại 695 tỷ VND (chiếm 34,3%). Các doanh nghiệp có tỷ lệ bồi
sức chú trọng vấn đề này, nhƣng để cải thiện tình hình cần phải có thời gian. 16
Tình hình tổn thất tiếp tục theo chiều hƣớng gia tăng ở hầu hết các loại
hình nghiệp vụ: cháy, kỹ thuật, thân tàu, hàng hoá. Đặc biệt, trận mƣa lũ lịch
sử tại Hà Nội đầu tháng 11/2008 đã gây thiệt hại nặng nề cả về kinh tế nói
chung và đối với ngành bảo hiểm nói riêng. Số tiền bồi thƣờng cho các tổn
thất về tài sản (chủ yếu là xe ô tô) của sự cố lụt lội này đã lên tới 70 – 80 tỷ
VND.[10]
Trong khi đó, xu hƣớng các dịch vụ “xấu” không đáp ứng đƣợc điều
kiện chuyển tái ra nƣớc ngoài, đƣợc chuyển tái cho thị trƣờng trong nƣớc,
hoặc các doanh nghiệp trong nƣớc chia sẻ dịch vụ với điều kiện bảo hiểm và
giá không thuận lợi hơn so với chuyển tái ra nƣớc ngoài ngày càng trở nên
phổ biến.
Trong năm 2008 thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ có thêm 5 doanh
nghiệp mới đƣợc cấp giấy phép và đi vào hoạt động: Công ty cổ phần Bảo
hiểm Hàng không (VNI), Công ty cổ phần Bảo hiểm Hùng Vƣơng (HVI),
Công ty bảo hiểm Fubon, Công ty Bảo hiểm SHB – Vinacomin (SVIC), Công
ty Bảo hiểm Mitsui Sumitomo. Nhƣ vậy tổng số doanh nghiệp hoạt động trên
thị trƣờng phi nhân thọ Việt Nam đã lên tới 27 công ty.[10]
1.2.3 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Đầu năm 2008 vật giá leo thang, giá lƣơng thực thực phẩm tăng gấp 1,5
đến 2 lần làm cho đời sống ngƣời lao động khó khăn hơn. Giữa năm 2008 tiền
gửi tiết kiệm có lãi suất tăng đột biến tới 18%. Tình hình trên dẫn đến bảo
hiểm nhân thọ gặp khó khăn lớn. Khách hàng đang tham gia bảo hiểm chấm
dứt hợp đồng trƣớc hạn, rút tiền gửi ngân hàng khiến cho giá trị hoàn trả tăng.
Nguồn khách hàng tiềm năng giảm nên số lƣợng hợp đồng mới khai thác
đƣợc không nhiều. Tuy nhiên với sự cố gắng của các doanh nghiệp bảo hiểm
quyết tâm vƣợt qua thách thức đƣa ra nhiều sản phẩm mới, hấp dẫn phù hợp
đó Prudential là 24.452 ngƣời, AIG 9.680 ngƣời, Dai-ichi 8.510 ngƣời, 18
Manulife 6.198 ngƣời. Điều này chứng tỏ đại lý bỏ việc nhiều do tình hình
khai thác khó khăn nên doanh nghiệp bảo hiểm phải tuyển dụng bổ sung. [4]
Trong tháng 6/2008 có thêm một công ty bảo hiểm nhân thọ 100% vốn
nƣớc ngoài đƣợc cấp phép là Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Hàn Quốc,
thành viên của tập đoàn Han Wha, một trong những tập đoàn kinh tế hàng đầu
của Hàn Quốc. Đây cũng là công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên của Hàn Quốc
tại Việt Nam với tổng số vốn đầu tƣ 60 triệu USD. Cũng trong năm 2008, một
công ty bảo hiểm nhân thọ khác của Hàn Quốc là Samsung Life cũng đã khai
trƣơng văn phòng mới tại Hà Nội. Samsung Life là thành viên của tập đoàn
Samsung với doanh thu năm 2007 lên đến 27,6 tỷ USD, chiếm 28% thị phần
tại thị trƣờng Hàn Quốc. [10]
1.2.4 Hoạt động tái bảo hiểm
Hoạt động tái bảo hiểm đã xuất hiện từ trƣớc năm 1995, nhƣng trong
thời gian này, hoạt động tái bảo hiểm tập trung chủ yếu vào chức năng bảo vệ
kinh doanh bảo hiểm gốc và xử lý những hợp đồng đã hết hiệu lực nhƣng
trách nhiệm vẫn còn kéo dài. Chỉ đến năm 1995, với sự ra đời của Công ty tái
bảo hiểm quốc gia Việt Nam (Vinare), thị trƣờng tái bảo hiểm trong nƣớc mới
bắt đầu đƣợc hình thành mà bƣớc đầu là tái bảo hiểm bắt buộc cho Công ty
Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam. Trong vòng hơn 10 năm qua, hoạt động tái
bảo hiểm ngày một phát triển và thu đƣợc những kết quả hết sức khả quan.
Đặc biệt, năm 2008, tổng phí bảo hiểm giữ lại tại thị trƣờng trong nƣớc tăng
19,67% từ 15.347 tỷ đồng năm 2007 lên 18.747 tỷ đồng năm 2008. Trong đó
hoạt động tái bảo hiểm ra thị trƣờng nƣớc ngoài đƣợc thực hiện chủ yếu đối
với hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ với tỷ trọng là 95,8% tổng số phí
nhƣợng tái. Đối với các nghiệp vụ bảo hiểm có rủi ro lớn nhƣ bảo hiểm tài
sản và thiệt hại; bảo hiểm hàng không, bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân
1.922
2.400
Nhân thọ
73
105
Tổng phí bảo hiểm giữ lại
15.653
18.747
Phi nhân thọ
6.289
8.549
Nhân thọ
9.364
10.198
Nguồn: Nguồn: Bộ Tài Chính, Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2008[2]
Có đƣợc kết quả khả quan là do xuất phát từ năng lực tài chính, năng
lực kinh doanh, công tác đánh giá rủi ro và đề phòng hạn chế tổn thất của các
doanh nghiệp bảo hiểm đƣợc cải thiện đã làm tăng mạnh doanh thu phí bảo
hiểm, tăng năng lực giữ lại của thị trƣờng. Hoạt động tái bảo hiểm trong nƣớc
của các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm đã có nhiều đóng
góp tích cực đến thị trƣờng bảo hiểm nói riêng và nền kinh tế nói chung,
không những làm tăng mức phí bảo hiểm giữ lại của thị trƣờng trong nƣớc,
hạn chế tình trạng chuyển ngoại tệ ra nƣớc ngoài thông qua việc tái bảo hiểm 20
sản và bảo hiểm thiệt hại 43,79%, Bảo hiểm hàng không 21,95%, Bảo hiểm
sức khỏe và tai nạn con ngƣời 14,47%. Doanh thu hoạt động môi giới đạt
khoảng 174 tỷ đồng, tăng 33,7% so với năm 2007. Hoa hồng môi giới bảo
hiểm tập trung chủ yếu ở các nghiệp vụ: Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt
hại 45,45%, Bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con ngƣời 23,29%, Bảo hiểm thân
tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu 7,56%. Bên cạnh đó, một số công ty môi
giới bảo hiểm, chủ yếu là các công ty môi giới bảo hiểm 100% vốn đầu tƣ
nƣớc ngoài đã phát triển các dịch vụ môi giới tái bảo hiểm cho các công ty
bảo hiểm trong và ngoài nƣớc. Dịch vụ môi giới tái bảo hiểm tập trung chủ
yếu là nghiệp vụ Bảo hiểm tài sản và thiệt hại và nghiệp vụ hàng không. Tổng
phí tái bảo hiểm thu xếp qua môi giới đạt 261 tỷ đồng, doanh thu từ hoạt động
này đạt gần 9 tỷ đồng. 22
Biu 1.1: T trng phớ bo him gc thu xp qua mụi gii bo him nm
2008
Tín dụng và rủi ro
tài chính 0.04%
Thiệt hại
KD 1.00%
Sức khỏe và
tai nạn con ng-ời 14.47%
Tài sản và bảo hiểm
thiệt hại 43.79%
Hàng hoá
vận chuyển 3.32%
Bảo hiểm
hàng không 21.95%
công ty bảo hiểm còn sử dụng nguồn vốn huy động đƣợc vào các dự án đầu tƣ
tài chính nhƣ góp vốn liên doanh, mua cổ phiếu, gửi tiết kiệm ngân hàng,
tham gia thành lập công ty cổ phần nhằm tăng khoản lợi nhuận cho công ty
cũng nhƣ góp phần phát triển kinh tế xã hội. Mặt bằng lãi suất cho vay tăng
cao trong giai đoạn quý I tới quý III năm 2008 đã tạo điều kiện tăng doanh thu
đầu tƣ đối với các danh mục đầu tƣ tiền gửi và trái phiếu. Tuy nhiên thị
trƣờng chứng khoán giảm bình quân gần 70% so với đầu năm 2008 là tác
nhân gây giảm đáng kể tài sản đầu tƣ của các doanh nghiệp đầu tƣ vào lĩnh
vực này.
Doanh thu hoạt động đầu tƣ của các doanh nghiệp toàn thị trƣờng đạt
6.014 tỷ đồng, tăng 11,1% so với năm 2007. Tổng số tiền các doanh nghiệp
bảo hiểm đã huy động đầu tƣ trở lại nền kinh tế tăng từ 44.063 tỷ đồng năm
2007 tính đến cuối năm 2008 lên 56.934 tỷ đồng trong đó nguồn đầu tƣ của
các công ty bảo hiểm nhân thọ chiếm 72%. Tổng số tiền đầu tƣ của bảo hiểm
nhân thọ là 39.253 (gồm cả 02 doanh nghiệp mới là GE và Cathay) tỷ đồng,
tăng 22,23% so với năm 2007, trong đó Prudential 14.333 tỷ đồng, Bảo Việt
14.669 tỷ đồng, Manulife 3.583 tỷ đồng. 24
Kinh doanh
BĐS 1.16%
CP, TP DN không có
bảo lãnh 7.60%
Trái phiếu
DN có bảo lãnh 1.99%
Trái phiếu chính phủ
42.05%
Tiền gửi tại các
TCTD 29.65%