Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Lê Ngọc Mỹ
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
4.1. Kết luận 40
4.2. Đề nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC 46
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Khảo sát ảnh hưởng của HgCl
2
0,1% ở các mức thời gian khác
nhau đến hiệu quả khử trùng mẫu cấy.
28
Bảng 2.2. Khảo sát ảnh hưởng của việc kết hợp HgCl
2
0,1% và Ca(OCl)
2
15% đến hiệu quả khử trùng mẫu cấy.
29
i
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Lê Ngọc Mỹ
Bảng 2.3. Khảo sát ảnh hưởng của kinetin lên khả năng phát sinh hình
thái của mẫu cấy
29
40
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Polianthes tuberose L.
13
Hình 2.1. Hoa Huệ Hương
26
Hình 2.2. Củ hoa Huệ Hương
26
Hình 3.1. Mẫu phát sinh hình thái trên môi trường MS + 30g/l saccaroza
+ 9 g/l agar + 2mg/l Kinetin
36
Hình 3.2. Mẫu phát sinh hình thái trên môi trường MS + 30g/l saccaroza
+ 9 g/l agar + 4mg/l BA
39
Hình 3.3. Mẫu phát sinh hình thái trên môi trường MS + 30g/l saccaroza
+ 9 g/l agar + 0,25mg/l IBA + 4mg/l BA
41
iii
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Lê Ngọc Mỹ
Hình 3.4. Mẫu phát sinh hình thái trên môi trường MS + 30g/l saccaroza
+ 9 g/l agar + 0,25mg/l 2,4D + 4mg/l BA
41
Hình 3.5. Mẫu phát sinh hình thái trên môi trường MS + 30g/l saccaroza
nhiều, đặc biệt trong đó có một bệnh rất khó trị là bệnh chai bông. Tác nhân gây
bệnh hiện vẫn chưa xác định được. Bệnh xuất hiện trên diện rộng làm ảnh hưởng
đến năng suất và phẩm chất hoa. Bệnh không làm cho cây chết ngay nhưng làm cho
chồi, củ, hoa kém phát triển, làm thất thu nguồn thu nhập của nông dân. Các triệu
chứng bệnh do virus được mô tả bởi Horner và Person (1988), Chen và Chang
(1998) gần giống các biểu hiện ở cây hoa Huệ Hương ở Nam Trung Bộ. Vấn đề đặt
ra là làm thế nào để tạo nguồn giống sạch bệnh cung cấp cho nhân dân?
Phương pháp nhân giống in vitro với rất nhiều ưu điểm, tạo được cây con trẻ
hóa và sạch bệnh nên tiềm năng sinh trưởng, phát triển và năng suất cao, khắc phục
được nhược điểm của phương pháp nhân giống truyền thống, khôi phục lại phẩm
chất vốn có của giống. Đồng thời hệ số nhân của phương pháp nhân giống này cao
đáp ứng được nhu cầu về số lượng giống có chất lượng cao, ổn định đáp ứng được
nhu cầu sản xuất trên quy mô rộng. Cho đến nay kĩ thuật nuôi cấy mô đã được
nghiên cứu ứng dụng rất có hiệu quả trong việc nhân giống hàng loạt các loại cây
1
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Lê Ngọc Mỹ
trồng tạo ngân hàng cây giống sạch bệnh, khỏe mạnh cho năng suất cao, phẩm chất
tốt cung cấp cho sản xuất.
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định được ảnh hưởng của các chất đều hòa sinh trưởng thực vật lên quá
trình phát sinh hình thái trong quy trình nhân giống cây hoa Huệ Hương bằng kỹ
thuật nuôi cấy mô tế bào, làm cơ sở cho việc hình thành quy trình nhân giống in
vitro cây hoa Huệ Hương, góp phần giải quyết những khó khăn của thực tiễn sản
xuất hoa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Cây hoa Huệ Hương là đối tượng mới của sản xuất cây giống bằng phương
pháp nuôi cấy mô ở nước ta. Xuất phát từ yêu cầu khó khăn của thực tiễn, nhằm
khắc phục hiện tượng chai bông trên cây hoa Huệ Hương, một giống hoa Huệ quý
mang lại hiệu quả cao cho nông dân. Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu xây dựng quy
trình nhân giống in vitro cây hoa Huệ đã được tiến hành thử nghiệm.
đều có thể phát triển thành cơ thể hoàn chỉnh. Ông tiến hành thí nghiệm với tế bào
khí khổng và các tế bào đã được biệt hóa về chức năng khác nhưng không thành
công. Điều đó đã giảm sự tin tưởng của các nhà khoa học đối với phương pháp nuôi
cấy mô tế bào trong thời gian dài.
Đến năm 1922 học trò của Gottlibe Haberlandt là Kotte và Robbinss đã làm
lại thí nghiệm của ông. Họ đã lấy đỉnh sinh trưởng của rễ cây hòa thảo nuôi cấy
trong môi trường có khoáng, đường, đầu rễ đã sinh trưởng mạnh và tạo ra hệ rễ nhỏ
và cả rễ phụ. Tuy nhiên sự sinh trưởng chỉ tồn tại trong một thời gian mặc dù
chuyển sang môi trường mới.
Năm 1934, bắt đầu giai đoạn thứ 2 trong lịch sử nuôi cấy mô tế bào thực vật
khi White đã nuôi cấy thành công đầu tiên rễ cà chua trên môi trường lỏng có chứa
đường, muối khoáng, dịch chiết nấm men. Các thí nghiệm tiếp theo ông thay thế
3
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Lê Ngọc Mỹ
dịch chiết nấm men bằng hỗn hợp 3 vitamin nhóm B : thiamin (B1), nicotinic acid
(B3), pyridioxin (B6). Sau đó ít lâu Went và Thimann tìm ra chất kích thích sinh
trưởng đầu tiên là IAA.
Năm năm sau Gautheret đã thông báo về sự tái sinh của cây cà rốt, đây cũng
là lần đầu tiên sự phát triển của mô sẹo không bị giới hạn. Bằng cách thêm IAA vào
môi trường nuôi cấy, ông có thể kích thích sự phát triển của mô đã biệt hóa trên vết
cắt của bề mặt mẫu cấy vô trùng. Sau này người ta mới thấy rằng callus có thể trực
tiếp nuôi cấy vô thời hạn. Đến năm 1948, Steward xác nhận tác dụng của nước dừa
trên mô sẹo cà rốt. Trong thời gian này nhiều chất sinh trưởng thuộc nhóm auxin
được tổng hợp như naphthylacetiic acid (NAA), 2,4-Diclophenoxyacetic acid
(2,4D). Nhiều tác giả nhận thấy cùng với nước dừa, NAA và 2,4 D đã giúp tạo mô
sẹo gây phân chia tế bào thành công ở nhiều đối tượng thực vật trước đó khó nuôi
cấy.
Năm 1955, Miller và Skoog đã xác định vai trò của chất kích thích sinh
trưởng là 6-Furfuryl aminopurin (kinetin). Việc phát hiện ra chất kích thích sinh
trưởng, vitamin và nước dừa là những bước tiến quan trọng trong giai đoạn thứ 2.
nhân giống trên qui mô thương mại bằng cách nuôi cấy trong môi trường nhân tạo
vô trùng và tái sinh chúng thành cây với hệ số nhân giống vô cùng lớn (Murashige,
1980).
Quá trình phát sinh hình thái trong nuôi cấy in vitro thực vật thực chất là kết
quả của các quá trình phân hóa và phản phân hóa. Tất cả các tế bào trong các cơ
quan khác nhau của cơ thể thực vật đều bắt nguồn từ tế bào phôi sinh. Sự chuyển tế
bào phôi sinh thành các tế bào chuyên hóa để đảm nhiệm các chức năng khác nhau
được gọi là sự phân hóa tế bào. Còn quá trình phản phân hóa thì ngược lại với quá
trình phân hóa, có nghĩa là tế bào đã phân hóa thành mô chức năng không hoàn toàn
mất đi khả năng phân chia mà ở điều kiện thích hợp chúng có thể trở về dạng phôi
sinh và tái phân chia.
Bản chất của quá trình này là một quá trình hoạt hóa, ức chế các gen. Trong
quá trình phát triển cá thể, ở từng thời điểm nhất định đều có một số gen nhất định
được hoạt hóa cho ta tính trạng mới, một số gen khác lại bị đình chỉ hoạt động. Điều
5
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Lê Ngọc Mỹ
này xảy ra theo một chương trình đã được mã hóa trong cấu trúc phân tử DNA của
mỗi tế bào khiến quá trình sinh trưởng phát triển của cơ thể thực vật luôn được hài
hòa. Mặt khác, khi nằm trong khối mô bình thường, tế bào luôn bị chi phối bởi các
tế bào xung quanh. Khi tế bào được tách riêng rẽ, tác dụng ức chế của các tế bào
xung quanh không còn nữa thì các gen được hoạt hóa và quá trình phân hóa sẽ xảy
ra theo một quá trình định sẵn.
1.4. Ưu, nhược điểm của phương pháp nhân giống in vitro
Phương pháp nhân giống in vitro có khả năng khắc phục được nhiều trở ngại
mà những phương pháp nhân giống khác thường gặp. Sau đây là những ưu điểm
chính :
- Cây con được trẻ hóa và sạch bệnh, vì vậy có tiềm năng sinh trưởng, phát triển và
năng suất cao.
- Tạo cây con đồng nhất về mặt di truyền, bảo tồn được các tính trạng đã chọn lọc.
- Tạo được dòng thuần của các cây tạp giao.
nhân giống bằng phương pháp khác (Nickell, 1973). Ngoài ra, phương pháp này
còn có những bất lợi sau:
- Mặc dù số lượng cây giống thu được có thể rất cao nhưng cây con có kích thước
nhỏ, đòi hỏi phải có chế độ chăm sóc đặc biệt ở giai đoạn sau ống nghiệm.
- Cây có thể có những đặc tính không mong muốn.
- Khả năng tạo đột biến tăng.
- Khả năng tái sinh có thể bị mất đi do cấy truyền callus hay huyền phù tế bào nhiều
lần.
- Cây giống có thể bị nhiễm bệnh đồng loạt.
Tuy vậy phương pháp nhân giống in vitro ngày càng được sử dụng rộng rãi
để phục vụ cho những mục đích sau:
- Nhân nhanh và duy trì các cá thể đầu dòng tốt để cung cấp hạt giống các loại cây
trồng khác nhau như cây lương thực có củ, cây rau, cây hoa, cây cảnh và cây dược
liệu thuộc nhóm cây than thảo.
- Nhân nhanh và kinh tế các kiểu gen quí hiếm của giống cây lâm nghiệp và gốc
ghép trong nghề trồng cây ăn quả, cây cảnh thuộc nhóm than gỗ.
- Nhân nhanh ở điều kiện vô trùng và cách ly tái nhiễm kết hợp với làm sạch virus.
- Bảo quản và lưu giữ các tập đoàn giống nhân giống vô tính và các loài giao phấn
trong ngân hàng gen.
1.5. Kỹ thuật nuôi cấy in vitro
7
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Lê Ngọc Mỹ
Kỹ thuật nuôi cấy in vitro có thể chia thành các bước sau:
- Lựa chọn đối tượng (cây trồng, giống, bộ phận cây) thích hợp.
Nguyên liệu sử dụng cho nuôi cấy mô tế bào thực vật có thể là bất cứ bộ
phận nào của cây: các đoạn của rễ, thân, các phần của lá (cuống lá, phiến lá…), các
cấu trúc của phôi như lá mầm, trụ trên, trụ dưới lá mầm, hạt phấn, noãn… thậm chí
cả mẫu thân ngầm hay cơ quan dự trữ dưới mặt đất (củ, căn hành…) cũng được
dùng cho nuôi cấy.
- Khử trùng mẫu và tiến hành nuôi cấy.
Thành công của phương pháp nuôi cấy in vitro phụ thuộc rất nhiều vào điều
kiện nuôi cấy. Nhu cầu dinh dưỡng cho sự sinh trưởng và phát triển tối ưu của các
loài là không giống nhau, ngay cả giữa các bộ phận trong cùng một cơ thể cũng ít
nhiều khác nhau. Sự lựa chọn môi trường nuôi cấy bao gồm cả chất lượng và số
lượng hóa chất sử dụng đóng vai trò quyết định đối với bản thân sự phân hóa và
chiều hướng phân hóa của tế bào.
Cho đến nay, đã có nhiều loại môi trường dinh dưỡng được tìm ra : môi
trường Murashige và Skoog (1962), môi trường Linsmaer và Skoog (1963), môi
trường Gamborg (1968), môi trường Knop (1974)… Đây là những môi trường cơ
bản và sẽ được cải tiến thành nhiều loại môi trường khác nhau phù hợp với mỗi đối
tượng nghiên cứu và mục đích thí nghiệm. Trong số đó, môi trường MS (Murashige
và Skoog, 1962) được đánh giá là phù hợp nhất cho đa số các loài thực vật và chính
Murashige (1974) đã dung môi trường này để nuôi cấy nhiều loài cây trồng.
Thành phần chủ yếu của tất cả các loại môi trường gồm những nhóm chất
sau : muối khoáng đa lượng và vi lượng (muối chloride, nitrate, sulphate, chất tham
gia điều chỉnh sự phân hóa của rễ, chồi…
Các auxin đều có hiệu quả sinh lý ở nồng độ thấp, thường được sử dụng với
nồng độ từ 10
-1
M đến 10
-6
M tùy theo từng chất, mục đích và đối tượng nghiên cứu.
Auxin được thêm vào môi trường nuôi cấy sẽ kết hợp với auxin nội sinh để điều
khiển chiều hướng và cường độ các quá trình sinh trưởng. Hàm lượng auxin thấp sẽ
kích thích sự phân hóa rễ, ngược lại ở hàm lượng cao sẽ phát động sự tạo mô sẹo.
Các auxin thường được sử dụng trong nuôi cấy mô là IBA (indol butyric
acid), α-NAA (a-naphtylacetic acid), 2,4-D (2,4 diclorophenoxy acetic acid), IAA
(indool acetic acid).
9
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Lê Ngọc Mỹ
bào các đỉnh sinh trưởng đang ở trạng thái hoạt động (đỉnh ngọn, chóp rễ) và sau đó
là tế bào ở trạng thái ngủ nghỉ (chồi nách).
Trong nhân giống in vitro, cây non có thể được tái sinh từ các điểm sinh
trưởng có sẵn trong các bộ phận (phôi, đỉnh chồi, chồi nách) hoặc từ những mô có
khả năng hình thành điểm sinh trưởng phụ. Có hai phương pháp tái sinh cây con:
+ Tái sinh trực tiếp từ đỉnh sinh trưởng, phôi, ngọn, chồi hay chồi nách.
+ Tái sinh cây gián tiếp thông qua giai đoạn hình thành mô sẹo.
Tái sinh trực tiếp từ mẫu nuôi cấy là quá trình phát động những điểm sinh
trưởng đã tồn tại sẵn trong mô nuôi cấy phân chia và tái sinh thành cây. Các điểm
sinh trưởng này bao gồm các tế bào phôi sinh chứa 2n nhiễm sắc thể đặc trưng cho
loài. Cây con tạo ra theo con đường này hoàn toàn đồng nhất về mặt di truyền và
duy trì được những tính trạng của cây mẹ.
Trong hướng tái sinh gián tiếp, mẫu nuôi cấy không tái sinh thành cây ngay
mà phát triển thành khối mô sẹo (callus). Có thể thấy ngay là hệ số nhân của hướng
này vô cùng lớn. Từ một khối mô sẹo có thể tạo ra khối lượng lớn cây giống trong
một thời gian ngắn thong qua kỹ thuật tạo phôi soma hoặc chế ra hạt giống nhân
tạo. Nhiều cây tái sinh từ mô sẹo có thể rất khác với cây mẹ về mặt di truyền.
Nguyên nhân của hiện tượng này là do trong quá trình phát sinh và phát triển của
mô sẹo, thường xuất hiện những tế bào đột biến mang số nhiễm sắc thể không giống
với tế bào ban đầu hoặc chứa những đột biến gen do hiện tượng nội nguyên phân.
Nội nguyên phân là hiện tượng nhân đôi nhiễm sắc thể không kèm theo sự phân bào
trong thực tế và là hiện tượng tự nhiên trong cơ thể thực vật, nhưng tăng lên dưới
ảnh hưởng của các thành phần của môi trường dinh dưỡng và điều kiện cũng như
phướng pháp nuôi cấy, nhất là khi cấy chuyển nhiều lần. Đột biến tuy không có lợi
cho việc duy trì nguyên trạng những đặc tính di truyền trong quá trình tạo giống
nhưng lại chính là đối tượng tìm kiếm trong quá trình cải tạo giống. Ngoài việc
cung cấp những đột biến tự nhiên, mô sẹo còn là đối tượng lý tưởng để tạo ra những
đột biến nhân tạo bằng các tác nhân gây đột biến hoặc công nghệ gen.
11
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Lê Ngọc Mỹ
1.7.4. Tái sinh rễ
Khi chồi đạt đến một kích thước nhất định, mẫu được chuyển sang môi
trường tạo rễ. Môi trường này thường được bổ sung auxin (IBA, α-NAA, 2,4-D) ở
12
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Lê Ngọc Mỹ
liều lượng thích hợp. Tuy nhiên, ở một số cây như chuối thì sự hình thành rễ tốt hơn
ở môi trường không có chất điều hòa sinh trưởng.
1.7.5. Đưa cây in vitro ra vườn ươm
Ở giai đoạn này, cây được chuyển từ trạng thái dị dưỡng sang tự dưỡng. Vì
vậy cần phải huấn luyện cho cây thích nghi với sự biến đổi của môi trường, đồng
thời thay đổi những đặc điểm sinh lý và giải phẫu của cây con.
1.8. Sơ lược về đối tượng nghiên cứu
1.8.1. Nguồn gốc
Cây hoa Huệ Hương có tên khoa học là Polianthes tuberose L. Đây là loài
hoa cắt cành, thuộc nhóm cây thân thảo, cho hoa quanh năm, nở hoa vào ban đêm,
có nguồn gốc chủ yếu từ Mexico và hiện đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới.
Loài hoa này đã được du nhập vào nước ta từ rất lâu và được trồng phổ biến
tại một số tỉnh thuộc vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
1.8.2. Phân loại
Trong hệ thống phân loại thực vật học, cây
hoa Huệ Hương là cây thuộc:
- Ngành: Plantae (Thực vật)
- Lớp: Monocotyledonae (Một lá mầm)
- Bộ: Liliales (Hành)
- Họ: Amarylidaceae (Thủy Tiên)
- Chi: Polianthes
- Loài: Polianthes tuberose L.
Theo kết quả thống kê trên thế giới
thì hiện tại ở Mexico có khoảng 12 loài hoa
Huệ Hương.
Nhiệt độ là yếu tố vật lý có ảnh hưởng lớn đến thời gian sinh trưởng, phát
triển cũng như khả năng phân hóa hoa của cây hoa Huệ Hương.
Cây hoa Huệ Hương là cây ưa nhiệt độ mát mẻ (20 - 25
o
C), nhưng chịu nóng
tốt, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, cho hoa tốt vào mùa hè. Tuy
14
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Lê Ngọc Mỹ
vậy, khi nhiệt độ mùa hè quá cao kéo dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng
sinh trưởng của cây, chất lượng hoa và nhất là sâu bệnh phá hại mạnh.
Trước khi phân hóa hoa và lúc cây có 5 - 6 lá cần nhiệt độ mát mẻ (15 - 22
o
C) nếu
không tỷ lệ nở hoa sẽ rất thấp và chất lượng hoa kém.
1.8.4.2. Ánh sáng
Cây hoa Huệ Hương là cây ưa sáng mạnh. Giai đoạn đầu sau khi trồng, cây
sống chủ yếu nhờ vào nguồn dinh dưỡng từ củ. Khi cây ra lá, cây sử dụng chất dinh
dưỡng từ quá trình quang hợp. Trong thời kỳ phân hóa mầm hoa nếu không cung
cấp đủ ánh sáng thì tỷ lệ ra hoa thấp, hoa nhỏ.
Ngoài ra, nếu thiếu ánh sáng cây hoa Huệ Hương rất dễ bị nhiễm bệnh.
Trong điều kiện ngày ngắn, ánh sánh yếu thì ảnh hưởng mạnh đến sự sinh trưởng
phát triển của cây. Cường độ ánh sánh cũng là yếu tố ảnh hưởng tới sự sinh trưởng
và phân hóa mầm hoa. Nếu cường độ chiếu sáng dưới 3500 lux thì cường độ quang
hợp và sự thoát hơi nước giảm, cây mọc vống, cành lá yếu. Do đó khi trồng ở vụ
đông cần đảm bảo chế độ chiếu sáng phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phân
hóa mầm hoa, hoa tự dài đồng thời tăng chất lượng hoa. Số giờ chiếu sáng thích hợp
cho cây hoa huệ sinh trưởng và phát triển tốt từ 12 - 16 giờ và cường độ ánh sáng
khoảng 6000 lux.
1.8.4.3. Nước
Cây hoa Huệ Hương là cây rễ củ nên khi nảy mầm cũng như quá trình sinh
Trong thời gian bảo quản nên thường xuyên kiểm tra tránh hiện tượng củ bị thối.
Trong những năm gần đây, xuất hiện bệnh chai bông trên diện rộng, vì vậy
để phòng trừ bệnh chai bông trên cây hoa Huệ Hương cần tiến hành các bước sau:
- Không sử dụng củ bị nhiễm bệnh hoặc lấy củ từ những ruộng đã bị nhiễm bệnh
trước đó làm củ giống.
- Phơi củ trong vòng 1 - 1,5 tháng trước khi đem ra trồng.
- Nên thay đổi chân đất sau mỗi vụ trồng hoặc luân canh cây hoa Huệ Hương với
một loại cây trồng khác.
16
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Lê Ngọc Mỹ
- Khi phát hiện thấy có triệu chứng bệnh cần loại bỏ cây bệnh ra khỏi ruộng, phơi
khô và đốt bỏ. Khi không có củ giống sạch bệnh, có thể chọn củ ở cây không có
triệu chứng bệnh và tiến hành phơi nắng kĩ từ 1-1,5 tháng, sau đó xử lý củ với nước
nóng khoảng 56 - 57
o
C.
Quy trình xử lý củ Huệ Hương bằng nước nóng để phòng trừ bệnh chai bông
gồm các bước sau:
- Bước 1: Chuẩn bị củ Huệ Hương để xử lý.
Sau khi thu hoạch, đem phơi củ trong 1 - 1,5 tháng, chọn những củ có đường
kính từ 3 cm trở lên để xử lý.
- Bước 2: Xử lý củ Huệ Hương bằng nước nóng.
Đổ nước nóng và nước lạnh vào trong một thùng nhựa với tỷ lệ 6:5, rồi điều
chỉnh để nhiệt độ nước trong thùng khoảng 56 - 57
o
C thì bắt đầu cho củ vào nước.
Lượng nước xử lý cần gấp 6 - 7 lần lượng củ xử lý. Sau đó đậy nắp thùng khoảng
15 phút và lại chỉnh cho nước trở lại nhiệt độ 56 - 57
o
C bằng cách đổ thêm một ít
- Nhóm bệnh không truyền nhiễm, do ngoại cảnh không phù hợp thường gặp nhất là
thối xám, thối gốc, đốm lá, gỉ sắt… có thể phòng trị bằng các loại thuốc hóa học.
- Nhóm bệnh truyền nhiễm chủ yếu là do vi sinh vật ký sinh gây ra bao gồm : vi
khuẩn, xạ khuẩn, nấm, mycoplasma, virus,… thường rất khó trị, nhất là bệnh do
virus gây ra rất dễ lây lan và phát tán thành dịch, gây hại nghiêm trọng và truyền từ
đời này sang đời khác, đặc biệt là ở nhóm cây nhân giống vô sinh (bằng củ) như cây
huệ. Virus không thể phòng chống hay tiêu diệt bằng hóa chất như vi khuẩn, nấm,,
sâu bệnh, cách duy nhất để loại bỏ virus là phải tách chúng ra khỏi cây bị bệnh, trả
lại cho cây cuộc sống bình thường khỏe mạnh. Vì vậy, biện pháp làm sạch virus
phải luôn được kết hợp với biện pháp duy trì tính sạch bệnh.
Sau khi trồng khoảng 1 tháng, ở cây hoa Huệ Hương thường bị nhện đỏ phá
hại nặng trên lá, từ 3 - 4 tháng trở đi cây dễ bị rệp sáp phá hại nên có thể phòng trị
bằng các loại thuốc sau : Nissorun, Kelthan 20 EC, Comite, Basudin 10H. Khoảng
tháng 9 - 10, khi trời mưa kéo dài huệ dễ bị úng thối lá, thối củ thì có thể khắc phục
hiện tượng này bằng các loại thuốc như: Anuil, Topsin, Ridomol…
18
Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Lê Ngọc Mỹ
1.8.7. Giá trị kinh tế
Với đặc điểm sinh thái dễ thích nghi với vùng khí hậu nhiệt đới như ở nước
ta đồng thời yêu cầu trồng và chăm sóc không quá khắt khe nên Huệ Hương được
trồng khá phổ biến và đem lại thu nhập rất cao cho người dân.
Trong những năm gần đây, cây hoa Huệ Hương đem lại thu nhập cao cho
người dân các tỉnh phía Nam như Tiền Giang, Đồng Tháp… Đặc biệt, tại các tỉnh
Nam Trung Bộ như Bình Định, Khánh Hòa, từ khu người dân mở rộng diện tích và
nâng cao kỹ thuật canh tác, cây hoa huệ đã trở thành cây trồng chính, đem lại thu
nhập cao và trở thành cây xóa đói giảm nghèo. Hiện nay, thu nhập từ cây hoa Huệ
Hương ở đồng bằng song Cửu Long bình quân từ 150 - 200 triệu/ha và ở Nam
Trung Bộ là 80 - 150 triệu/ha.
Ngoài giá trị sử dụng thông thường như trên, gần đây người ta còn sử dụng
một số bộ phận của cây làm thuốc chữa bệnh và chế ra các loại dầu thơm.
Trong những năm gần đây, trên địa bàn các tỉnh vùng Nam Trung Bộ bắt đầu
đẩy mạnh canh tác cây hoa Huệ Hương, đặc biệt là ở Bình Định và Khánh Hòa. Ở
Bình Định, cây hoa Huệ Hương dần trở thành cây trồng chính. Theo đánh giá của
người dân nơi đây, trong điều kiện thuận lợi mỗi ha bình quân cho thu nhập trên 80
- 120 triệu đồng.
Mặc dù vậy, hiện nay việc canh tác cây huệ đang gặp nhiều khó khăn, do bị
sâu bệnh hại phá hoại nhiều, trong đó có một bệnh rất khó trị là bệnh chai bông.
Hiện nay bệnh phá hoại rất mạnh, có thể làm giảm đến 60% năng suất cây trồng.
Chính vì vậy, năng suất hoa Huệ Hương trên nhiều vùng có xu hướng không ổn
định và chất lượng hoa thì giảm đáng kể.
Hiện nay, bệnh chai bông đang là nguyên nhân chính làm cho giảm năng
suất và phẩm chất hoa trên các vùng chuyên canh, đặc biệt ở Nam Trung Bộ và
Nam Bộ. Triệu chứng bệnh thể hiện:
- Trên lá: trước khi ra hoa, trên lá của cây con bị nhiễm bệnh thường xuất hiện các
đường gân sọc màu nâu đỏ kéo dài từ bẹ lá đến chóp lá, lá có thể bị xoắn.
20