Ảnh hưởng của Phật giáo ở Việt Nam hiện nay - Pdf 29

Website: Email : Tel : 0918.775.368
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Triết học Ấn Độ ra đời khá sớm và là một nền triết học chịu ảnh
hưởng lớn của tư tưởng tôn giáo. “Triết học Ấn Độ tập trung lý giải và thực
hành những vấn đề nhân sinh quan dưới góc độ tâm linh tôn giáo nhằm đạt
tới sự “giải thoát” tức là đạt tới sự đồng nhất tinh thần cá nhân với tinh thần
vũ trụ”[1 ; 27]. Đạo Phật ra đời vào thế kỷ VI trước công nguyên và được
xây dựng trên một niềm tin từ đức Phật, tức từ biển lớn trí tuệ và từ bi của
Siddharta. “Phật giáo nhìn nhận thế giới tự nhiên cũng như nhân sinh bằng
sự phân tích nhân-quả. Theo Phật giáo nhân-quả là một chuỗi liên tục
không gián đoạn và không hỗn loạn, có nghĩa là nhân nào quả ấy. Mối quan
hệ nhân-quả này phật giáo thường gọi là nhân duyên với ý nghĩa là một kết
quả của nguyên nhân nào đó sẽ là nguyên nhân của một kết quả khác”[1 ;
29]. Trong Phật giáo cũng có những giá trị và hạn chế nhất định. Phật giáo
hướng chúng sinh tới sự giải thoát có giá trị thiết thực và nhân bản sâu sắc.
Phật dạy con người phải sống với hiện tại, nhận ra sự khổ đau để đối mặt
vượt qua. Tuy nhiên, Phật giáo lại soi xét vấn đề ở góc độ duy tâm. Nhiều
kẻ xấu lợi dụng vấn đề đó để tạo dựng những điều ma quái đặc biệt là mê
tín dị đoan làm ảnh hưởng tới đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân.
Phật giáo không ít thì nhiều đều ảnh hưởng hầu hết đến các nước phương
Đông về nhiều mặt. Trong đó, Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu sắc tư
tưởng Phật giáo cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực. Để làm rõ những giá trị,
hạn chế của Phật giáo và ảnh hưởng của nó tới Việt Nam hiện nay chúng ta
nghiên cứu đề tài này, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm để áp dụng vào
thực tại.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
B. NỘI DUNG
1.Giá trị và hạn chế của Phật giáo
1.1 Giá trị của Phật giáo
Đặc điểm nổi bật của giáo lý đạo Phật là chân thực, gần gũi phù hợp

một hoàn cảnh đối tượng nào, không bị dục vọng, tham ái chi phối. Vì sao
vậy? Tham dục là nguồn gốc của mọi vô minh, ngu muội, là tập khởi của
khổ đau; đừng lầm tưởng rằng đạt được thỏa mãn trong tham dục là hạnh
phúc. Hạnh phúc ấy chỉ là sự tập khởi của khổ đau, đã ngầm chứa khổ đau.
Cho nên giáo dục Phật giáo dạy cho chúng ta nhận ra được một nguồn hạnh
phúc chân thật, là nếp sống đạo đức bằng sự tự chủ: “Hãy là nơi nương tựa
của chính mình”, đó là giá trị giáo dục nhân bản rất nhân bản.
Đạo Phật đến với con người qua những lời dạy thiết thực gắn liền với
những hành vi cử chỉ của mỗi người, những mối quan hệ giữa con người
với con người và giữa con người với xã hội. Nhưng trong bất cứ tình huống
nào thì con người cũng phải “làm chủ”, không bị nô lệ bất cứ một đối
tượng nào hay một sự vật nào cả. Trong bất cứ tình huống nào con người
cũng phải làm chủ nghĩa là tự mình làm chủ mình trước mọi hoàn cảnh,
trước những đột biến của nội tâm và ngoại cảnh. Đạo Phật muốn con người
tự làm chủ mình, tự tại, không nô lệ vào bất cứ đối tượng nào; bằng trí tuệ,
bằng kiến thức, bằng quan điểm đúng đắn, bằng cái nhìn chân thật, con
người tự định hướng cho chính mình, tự mình đi ra khỏi khổ đau. Cái giá
trị lớn lao là đánh giá trong thực tại cuộc sống của con người, hướng con
người đến chỗ an lạc, chỉ có con người xác quyết một niềm tin chân chánh,
tin tưởng chính mình, mình chính là hòn đảo không bị chìm đắm trong đại
dương phiền muộn của dục vọng, không bị chôn vùi trong hiện tại. Sống
với hiện tại là cách sống tốt nhất, thiết thực nhất đối với vấn đề đoạn tận
khổ đau, xây dựng đời sống hạnh phúc.
Đạo Phật đã ra đời trong một thực tại đa diện, phồn tạp của nền văn
minh Ấn Độ, xuất hiện để dung hòa các trào lưu tư tưởng đối nghịch, để
san bằng những ngăn cách xã hội giữa các đẳng cấp. Phật Giáo kêu gọi mọi
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
người hãy dứt các việc làm ác mà hãy hành thiện, khuyên con người dang
rộng vòng tay ôm vũ trụ vào lòng và đừng bao giờ khép kín tâm tư lại. Hãy

ngàn thứ người bệnh vì khổ với sự sống” [4 ; 380]. Một trong những nguồn
gốc dẫn đến tôn giáo là do đặc điểm của quá trình nhận thức của con người
đi từ trực quan cảm tính đến tư duy trừu tượng. Khi tư duy con người trong
quá trình nhận thức sáng tạo đó tạo ra những khả năng xuất hiện các quan
niệm duy tâm siêu hình, xa rời cơ sở hiện thực. Đấy chính là quá trình tuyệt
đối hóa, cường điệu hóa mặt chủ thể của con người hay hình thức chủ quan
của nó, biến nó thành quan niệm trừu tượng thuần túy không còn dính với
nội dung khách quan, không còn nội dung hiện thực, rời khỏi cơ sở thế
gian. Ông đứng vững trên quan điểm khách quan khoa học của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để vạch ra được ranh giới
giữa cái hợp lý và cái sai lầm trong nội dung giáo lý căn bản của Phật giáo,
chỉ ra một trong những nguồn gốc nhận thức sai lầm hình thành nên Phật
giáo chính là các quan điểm bản thể luận, nhận thức luận duy tâm. Ông chỉ
ra vì Phật giáo là duy tâm nên phương pháp của Đức Phật không thể cứu
khổ cho con người
Trên cơ sở phân tích khái niệm “vô ngã” nhà nghiên cứu Hà Thúc
Minh đã tiến hành phê phán toàn diện giải thoát luận Phật giáo. Theo ông
Phật giáo không chủ trương cải tạo bởi vì cải tạo là hướng tới, là làm cho
nó khác trước. Phật giáo chủ trương trả lại chứ không cải tạo. Hạn chế của
Phật giáo chính là ở chỗ không thấy được bản chất xã hội nơi con người.
Thực ra nói đi nói lại, cái tâm vẫn là cái không làm sao bỏ được. Như vậy
nói chung phương Đông đề cao con người ở lĩnh vực tinh thần chứ không
phải ở thể xác. Cho nên đời sống vật chất trở thành cái không quan trọng so
với đời sống tinh thần. Phật giáo xem xét bản chất con người trên bình diện
tâm lý chứ không phải trên bình diện kinh tế xã hội. Phật giáo nhìn theo
quan điểm của Hà Thúc Minh có một hạn chế quan trọng chính là không
thấy được con người xã hội, do đó không chủ trương cải tạo bản thân hay
xã hội. Vì trọng tâm lý giáo giải thoát của Phật giáo do quá chú trọng cái
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status