Hợp tác “hai hành lang, một vành đai kinh tế” tác động đến quan hệ thương mại việt trung” - Pdf 10


1
Hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế”:
Tác động đến quan hệ thương mại Việt Trung”
Two corridors, one economic belt cooperation: its impact on the trade relationship
between Vietnam and China
NXB H. : ĐHKT, 2012 Số trang 120 tr. + Trịnh Thị Tuyết Mai Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại học kinh tế
Luận văn ThS ngành: Kinh tế thế giới & Quan hệ kinh tế quốc tế;
Mã số: 60.31.07
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Thái Quốc
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Phân tích cơ sở khoa học của hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt -
Trung”. Làm rõ nội dung của hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt -Trung”.
Đánh giá các tác động của hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế ” tới quan hệ
thương mại Việt – Trung. Đưa ra một số giải pháp kiến nghị nhằm thúc đẩy thương mại Việt
– Trung thông qua hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế”.

Keywords: Quan hệ thương mại; Thương mại quốc tế; Vành đai kinh tế; Việt Nam; Trung
quốc

Content.

MỞ ĐẦU

Quốc, nêu lên thực trạng và triển vọng phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc, đưa ra
những điều cần biết khi thâm nhập vào thị trường Trung Quốc, nhưng chưa đề cập sâu đến hợp tác
“Hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt - Trung”
2) Phát triển thương mại trên hành lang kinh tế (Sách) của tác giả PGS.TS Nguyễn Văn
Lịch do Nhà xuất bản Thống kê phát hành năm 2005. Công trình này phân tích thực trạng phát triển
thương mại trên hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng. Tuy nhiên do thời gian
nghiên cứu ngắn (2004-2005) sách mới tập trung làm rõ những luận cứ khoa học của việc xây dựng
hành lang kinh tế này chứ chưa phân tích sâu tác động của hành lang kinh tế này đối với quan hệ
thương mại Việt Trung.
3) Một số đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Viện Nghiên cứu Thương mại, trong đó
đáng chú ý là:
- Nghiên cứu phát triển thương mại khu vực hành lang kinh tế Hải Phòng – Lào Cai –
Côn Minh trong bối cảnh hình thành khu mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc, Đề tài cấp bộ
năm 2004 do PGS.TS. Nguyễn Văn Lịch chủ nhiệm.
- Các giải pháp để Việt Nam khai thác tối đa những lợi ích thương mại từ chương trình thu
hoạch sớm trong khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc, Đề tài cấp Bộ năm 2005 do ThS. Trịnh
Thị Thanh Thủy chủ nhiệm.

3
- Định hướng chiến lược phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc giai
đoạn tới 2015, Đề tài cấp bộ năm 2007 do PGS.TS Nguyễn Văn Lịch chủ nhiệm.
4) Các báo cáo tiêu biểu trong Hội thảo Phát triển Hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt
Nam – Trung Quốc trong khuôn khổ hợp tác ASEAN – Trung Quốc (do Viện Khoa học xã hội Việt
Nam phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng tổ chức tại Hải Phòng tháng 12 năm
2006) ; Hội thảo Hợp tác phát triển hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng và
vai trò của Lào Cai (do Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp cùng Ủy ban nhân dân tỉnh Lào
Cai tổ chức tại Lào Cai tháng 11 năm 2005), Hội thảo Việt Nam – Trung Quốc tăng cường hợp tác
cùng nhau phát triển hướng tới tương lai (Hà Nội, 2005).
5) Một số bài nghiên cứu trên tạp chí
- Hai hành lang và một vành đai kinh tế - từ ý tưởng đến hiện thực của PGS.TS. Nguyễn

thương mại Việt – Trung.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” tới
quan hệ thương mại Việt – Trung.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: từ năm 2000 tới nay (chủ yếu là từ 2004 – thời điểm hình thành ý tưởng hợp tác
“Hai hành lang, một vành đai kinh tế”).
Về không gian: luận văn tập trung vào các lĩnh vực hợp tác cơ bản giữa Việt Nam và miền
Nam Trung Quốc : Xây dựng cơ sở hạ tầng, công nghiệp, thương mại, du lịch và các địa phương chủ
chốt trong hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt -Trung”: Tỉnh Quảng Tây, Vân Nam
(Trung Quốc) và Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội (Việt Nam).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu
khoa học như:
- Phương pháp thu thập thông tin từ các nguồn tài liệu thứ cấp phục vụ cho việc nghiên cứu, phân
tích: Thu thập các tài liệu tổng quan về lĩnh vực quan hệ thương mại Việt – Trung và hợp tác “Hai hành lang,
một vành đai kinh tế”; thu thập thông tin về một số hoạt động và dự án đang triển khai trong khuôn khổ hợp
tác; thu thập tài liệu về đề xuất các giải pháp đối với việc thúc đẩy hợp tác này.
- Phương pháp thống kê, so sánh: Từ thống kê số liệu, tác giả đưa ra sự so sánh tương quan
hai quốc gia Việt Nam – Trung Quốc trong quan hệ thương mại, cũng như trong tiến độ triển khai
hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế”.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp logic, lịch sử.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Đề tài tổng hợp tư liệu, phân tích rõ cơ sở khoa học của hợp tác “Hai hành lang, một vành
đai kinh tế” giữa Việt Nam và Trung Quốc; qua đó góp phần làm rõ hơn sự cần thiết phải đẩy mạnh
triển khai hợp tác này.
- Khảo sát một cách có hệ thống những bài học kinh nghiệm về hình thức hợp tác tương tự ở các
quốc gia và khu vực trên thế giới (bao gồm cả những bài học thành công và chưa thành công). Qua đó rút ra
một số bài học có giá trị cho việc phát triển “Hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt – Trung”.

định.
Vành đai kinh tế là liên kết kinh tế theo hình vòng cung hoặc vòng tròn bao quanh một khu
vực, một vùng địa lý - lãnh thổ trên cơ sở nối liền các vùng lãnh thổ của một hay nhiều quốc gia với
mục đích liên kết, hỗ trợ lẫn nhau để khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh cúa các khu vực địa – kinh
tế nằm trên cùng một dải tạo thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa và liên kết kinh tế giữa các vùng
bên trong vành đai.
1.1.2 Hành lang kinh tế, vành đai kinh tế và tác động lan tỏa tới phát triển kinh tế

6
Hành lang kinh tế và vành đai kinh tế là biện pháp hợp tác mới để thúc đẩy hợp tác và phát
triển kinh tế của các quốc gia và lãnh thổ. Có thể hiểu rằng đó là cơ chế nhất thể hóa kinh tế khu vực
nhỏ lấy giao thông làm trục chính. Hành lang kinh tế thể hiện mối quan hệ tỉ lệ thuận giữa phát triển
hệ thống hạ tầng giao thông với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Hệ thống các tuyến đường giao
thông là tiền đề, là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế xã hội ở các vùng miền liền kề của
các trục tuyến giao thông đó.
Xây dựng vành đai kinh tế không những phát triển được kinh tế của những vùng nằm trên
vành đai mà còn góp phần phát triển cả những vùng xung quanh qua việc thúc đẩy lưu thông hàng
hóa và phát triển kết cấu hạ tầng giao thông. Trên cơ sở ưu tiên phát triển hạ tầng cơ sở như: giao
thông, năng lượng, thông tin và du lịch, hành lang kinh tế và vành đai kinh tế góp phần hình thành
một không gian địa lý mở để tối đa hóa các tác động đến phát triển kinh tế - xã hội và theo đó là tối
thiểu hóa về các phí tổn.
Hành lang kinh tế và vành đai kinh tế tháo bỏ sự cách biệt về địa lý lãnh thổ, tạo dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật, tạo sự liên kết bền chặt giữa các đối tác thương mại, góp phần làm giảm chi phí,
tăng sức cạnh tranh, thúc đẩy và mở rộng thương mại giữa các nước trong khu vực và với các khu
vực khác.
1.2 Một số hành lang kinh tế, vành đai kinh tế của các quốc gia và khu vực trên thế giới
Hành lang phát triển Maputo (MDC):
Hành lang Maputo là một trong các sáng kiến phát triển ở Châu Phi và thế giới. Cốt lõi của
MDC là một loạt các dự án nhằm nâng cấp kết cấu hạ tầng của tuyến đường vận tải từ tỉnh Wibank của
Nam Phi (kề sát Johanesburg) tới Maputo của Mozambich, bao gồm bốn thành phần chính: tuyến

đường sắt Nam Ninh - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
Vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ: là tuyến liên kết kinh tế giữa các tỉnh của Trung Quốc và các
tỉnh của Việt Nam nằm xung quanh vịnh Bắc Bộ.
Các địa phương được coi là nhân tố chủ chốt trong phát triển hợp tác “Hai hành lang, một
vành đai kinh tế”, là những tỉnh biên giới tiếp giáp trực tiếp và các tỉnh, thành phố có vị trí, vai trò
trọng yếu trên tuyến liên kết, cụ thể là 2 tỉnh Quảng Tây, Vân Nam phía Trung Quốc và 5 tỉnh thành
phố: Lạng Sơn, Lào Cai, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh phía Việt Nam.
Đặc điểm của các địa phƣơng chủ chốt nằm trong tuyến “Hai hành lang, một vành đai
kinh tế Việt -Trung
Điều kiện khí hậu giống nhau, thuộc loại hình khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới có tính biển. Các công trình
giao thông hàng hải ở vịnh Bắc Bộ tương đối tốt, việc xây dựng các bến tàu, hải cảng có quy mô và cơ sở
nhất định, thuận tiện cho việc vận chuyển một lượng lớn hàng hoá để xuất khẩu hoặc nhập khẩu, chuyển
hàng ra các nước trên thế giới, là điều kiện để giao lưu, hợp tác trên các mặt. Vịnh Bắc Bộ có tài nguyên
biển phong phú, tiềm năng phát triển lớn. Xét về vị trí địa lý, các tuyến liên kết này có ưu điểm lớn
nhờ nằm ở vùng giao giữa hai khu vực lớn là Trung Quốc và ASEAN, là cầu nối nối liền hai khu vực
lớn này, có thể lợi dụng một cách nhanh chóng thị trường và nguồn nhân lực của hai khu vực này để
sắp xếp hợp lý nguồn lực của mình, điều chỉnh và ưu hoá kết cấu kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của
kinh tế và xã hội.
8
2.2 Những nhân tố thúc đẩy hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt - Trung”
2.2.1 Nhân tố khách quan
2.2.1.1 Bối cảnh lịch sử giữa Việt Nam - Trung Quốc
 Về địa lý và biên giới, lãnh thổ
Việt Nam và Trung Quốc là 2 quốc gia láng giềng với đường biên giới trên đất liền dài khoảng
1.400km, tiếp giáp giữa 7 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và
Quảng Ninh của Việt Nam với 2 tỉnh Vân Nam và Quảng Tây của Trung Quốc. Trên biên giới chung
của hai nước có 15 cửa khẩu (5 cửa khẩu quốc gia và 10 cửa khẩu cấp tỉnh. Đến ngày 31/12/2008.

Khu vực “hai hành lang, một vành đai” có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, có tính bổ sung cho
nhau mạnh, có giá trị hợp tác khai thác phát triển rất lớn.
2.2.1.3 Bối cảnh chung của quốc tế
Hiện nay, toàn cầu hóa và liên kết kinh tế quốc tế là một xu hướng nổi trội. Đặc trưng chủ
yếu của toàn cầu hóa kinh tế và nhất thể hóa kinh tế khu vực là xây dựng các mô hình hợp tác kinh tế
khu vực ở các cấp độ khác nhau trên phạm vi toàn cầu, việc xây dựng rộng rãi khu mậu dịch tự do
hay các hợp tác kinh tế tiểu vùng là những mô hình tiêu biểu và chủ yếu
2.2.1.4 Các chương trình hợp tác đa phương hai nước cùng tham gia
Các chương trình hợp tác đa phương về thương mại đã có tác động mạnh đến quan hệ hai nước nói
chung và tiến trình hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” nói riêng, đó là: Tổ chức thương
mại thế giới (WTO), Khu mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN (ACFTA) và Hợp tác tiểu vùng
sông Mekong mở rộng. Mối quan hệ này giúp hai nước có những khung hợp tác bình đẳng, cơ bản để
từ đó tăng cường giao lưu thuận lợi, minh bạch, an toàn hơn.
2.2.2 Nhân tố chủ quan
2.2.2.1 Quan điểm của Trung Quốc về hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt –
Trung”
Đối với Trung Quốc, việc phát triển kinh tế miền Tây Nam là một trong những chủ trương lớn của
chính phủ Trung Quốc trong 3 thập kỷ gần đây. Mục tiêu của chủ trương là rút ngắn khoảng cách
phát triển của khu vực này với các khu vực khác trên cả nước; khai thông quan hệ thương mại, đầu
tư, du lịch của cả khu vực với Đông Nam Á và các khu vực khác. Chiến lược hợp tác tiểu vùng trên
biển Trung Quốc – ASEAN với mục đích phát triển kinh tế “hướng ra biển” cũng là một phần trong
chiến lược đại khai phát miền Tây của Trung Quốc, với mục tiêu đưa vùng Đại Tây Nam còn rất lạc
hậu tiến ra biển qua con đường hợp tác kinh tế vịnh Bắc bộ Quảng Tây. Hợp tác “Hai hành lang, một
vành đai kinh tế” Việt – Trung là phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội nói chung và định
hướng mở cửa kinh tế đối ngoại nói riêng của Trung Quốc với Đông Nam Á, làm lợi cho các tỉnh
Trung Quốc vì vừa có thể tiếp cận tài nguyên, lại vừa có thể sử dụng được đường vận chuyển và hải
cảng của Việt Nam để giao lưu kinh tế với khu vực Đông Nam Á. Bên cạnh đó, hợp tác này được
chính phủ Trung Quốc tích cực triển khai như là một phần quan trọng mang tính khởi đầu của ý
tưởng về mô hình chiến lược “một trục hai cánh”. Thông qua trục chính Nam Ninh – Singapore, cánh
trái xây dựng hợp tác kinh tế Bắc Bộ liên kết với các quốc gia ASEAN ở gần vùng vịnh Bắc Bộ,

2.3.2.3 Thương mại
2.3.2.4 Du lịch
2.3.3 Lộ trình
Giai đoạn 1 (từ 2005 đến 2010): bắt đầu từ giao thông vận tải, chế biến, điện lực, tiện lợi hoá
đầu tư thương mại nhằm hình thành một số lãnh thổ động lực; xây dựng một bước cơ bản hệ thống
kết cấu hạ tầng trong vành đai kinh tế; xúc tiến thu hút các dự án đầu tư trong và ngoài nước vào các
công trình trọng điểm, vùng động lực tạo điều kiện để phát triển nhanh trong giai đoạn sau.
Giai đoạn 2 (từ 2010 đến 2020) triển khai toàn diện, tiếp tục đầu tư phát triển đồng bộ và hiện
đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong vành đai kinh tế; hoàn tất xây dựng những hạng mục quan
trọng tại các khu kinh tế, khu công nghiệp; các khu du lịch, các trung tâm vui chơi giải trí cao cấp và

11
các công trình dịch vụ khác để phát triển tăng tốc trong giai đoạn sau năm 2020, thu hút sự tham
gia của nhiều nước ASEAN, đẩy mạnh hợp tác kinh tế Trung Quốc – ASEAN.
2.4 Các động thái chính thức
2.4.1 Các hoạt động, dự án đã triển khai
Về cơ chế phối hợp giữa hai bên:
Do đặc thù phát triển của mỗi nước về quản lý kinh tế, sự phối hợp của các Bộ ngành trung
ương đóng một vai trò quan trọng. Theo thỏa thuận bước đầu giữa hai bên, mỗi nước đã hình thành
một “Nhóm công tác hai hành lang, một vành đai kinh tế”, bao gồm chuyên viên các Bộ ngành quan
trọng đối với hợp tác này. Phía Việt Nam lấy Bộ Kế hoạch và đầu tư làm nòng cốt, phía Trung Quốc
lấy Bộ Thương mại làm nòng cốt. Nhiệm vụ hiện nay của các nhóm công tác là chuẩn bị nội dung
cho các cuộc gặp cấp Bộ trưởng hai nước. Các tỉnh biên giới của Việt Nam đã thiết lập được cơ chế
hợp tác với hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây từ cấp tỉnh, đến các ngành chức năng, huyện, thành phố
có chung biên giới.
Về xây dựng cơ sở hạ tầng:
Phía Trung Quốc, về đường bộ, từ năm 2004 đã thực hiện tuyến đường cao tốc 4 làn xe từ
Côn Minh – Cô Đầu và tuyến đường 8 làn xe Côn Minh – Thạch Lâm – Mông Tự. Tuyến Mông Tự -
Hà Khẩu với 6 làn xe được khởi công từ tháng 8/2004. Hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây đã hầu như
hoàn thành hai tuyến đường cao tốc chính (Côn Minh – Hà Khẩu và Nam Ninh – Bằng Tường).

hoạch nhằm khai thác và nắm bắt lợi thế do cơ hội phát triển do hành lang kinh tế mang lại.
2.4.2 Điều chỉnh chính sách
Hai chính phủ đã ra Tuyên bố thành lập tổ chuyên gia vào tháng 10/2004, dưới sự chỉ đạo của Ủy
ban Hợp tác Kinh tế Thương mại hai nước nhằm tích cực thảo luận về tính khả thi của việc xây dựng
hợp tác xây dựng hành lang, vành đai kinh tế này. Để tạo đà cho việc xây dựng hành lang, vành đai
kinh tế, lãnh đạo các tỉnh có liên quan trong hợp tác đã ký kết các văn bản hợp tác, phát triển kinh tế,
du lịch, xúc tiến thương mại và công nghệ thông tin. Chính phủ hai nước Việt Nam và Trung Quốc
đã thống nhất sửa đổi Hiệp định vận tải đường bộ giữa hai nước đã ký vào năm 1994. Gần đây, hai
nước đang đẩy mạnh việc nghiên cứu, xây dựng 3 khu hợp tác kinh tế biên giới: khu vực hợp tác
kinh tế xuyên quốc gia Đồng Đăng – Bằng Tường, khu hợp tác xuyên quốc gia Hà Khẩu – Lào Cai;
khu hợp tác xuyên quốc gia Đông Hưng – Móng Cái.
Một số bộ, ngành ở Trung ương và chính quyền địa phương của hai nước cũng đã ký nhiều văn bản
hợp tác kinh tế mậu dịch song phương. Chính sách quản lý và cơ chế điều hành hiện nay đã phân
định rõ giữa xuất nhập khẩu chính ngạch và hoạt động buôn bán qua biên giới với các văn bản pháp
quy. Trong lĩnh vực ngân hàng, hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam đã tích cực xúc tiến và
triển khai ký kết các Hiệp định hợp tác với các ngân hàng thương mại của Trung Quốc nhằm triển
khai có hiệu quả các điều khoản của Hiệp định thanh toán và hợp tác đã được ký kết giữa Ngân hàng
Trung ương hai nước, thiết lập và mở rộng quan hệ đại lý thanh toán tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp hai nước thực hiện thanh toán qua hệ thống ngân hàng. Về phía Trung Quốc, từ lâu, nước bạn
đã thực thi chính sách biên mậu với nhiều ưu đãi quan trọng dành cho doanh nhân bản xứ với một cơ
chế hết sức linh hoạt. Chính sách biên mậu Trung Quốc khuyến khích và tài trợ mạnh mẽ cho các
hoạt động xúc tiến thương mại như tổ chức hội chợ, triển lãm và giao lưu giữa địa phương và các
nước có đường biên.

13
Tại các địa phương vùng biên của Việt Nam nằm trực tiếp trong quy hoạch “Hai hành lang, một vành
đai kinh tế”, chính quyền các cấp cũng ban hành và thực hiện một số chính sách, giải pháp thương
mại nhằm cụ thể hóa các quy định của Trung ương. Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ tài chính cho các
doanh nghiệp Việt Nam còn nghèo nàn, chất lượng hạn chế.
Chƣơng 3


14
Bên cạnh những con số thống kê được, một số đặc điểm chính trong quan hệ thương mại
Việt - Trung giai đoạn này là :
- Khuôn khổ pháp lý cho trao đổi thương mại đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn còn một
số vấn đề vướng mắc.
- Kim ngạch xuất nhập khẩu vẫn chiếm tỷ trọng thấp trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
của mỗi nước.
- Việt Nam chưa khai thác tốt cơ hội thâm nhập thị trường Trung Quốc.
- Thương mại chưa thật sự gắn với đầu tư và chuyển giao công nghệ.
- Xét về phương thức giao dịch, thương mại Việt Nam - Trung Quốc giai đoạn từ 1991-2000
chủ yếu thực hiện qua đường tiểu ngạch. Tuy nhiên, từ 2001 đến nay, mậu dịch chính ngạch đã ngày
càng chiếm vị trí lớn trong tổng giá trị thương mại hai nước
3.2 Tác động của hợp tác “Hai hành lang, một vành đai” đến quan hệ thƣơng mại Việt Trung
3.2.1 Tác động tích cực
3.2.1.1 Gia tăng quy mô và khối lượng thương mại Việt Trung
Hành lang và vành đai kinh tế tạo điều kiện để các địa phương trong vùng mở rộng thị trường xuất
nhập khẩu, giảm chi phí trung gian do đó nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ trao đổi,
thúc đẩy nền kinh tế sản xuất hàng hóa, tạo ra sự phát triển ở các vùng để hình thành nên một khu
vực thị trường rộng lớn có khả năng thu hút và thâm nhập với các khu vực thị trường khác.
Bảng 3.1 Biểu thống kê tình hình thƣơng mại Việt Nam – Trung Quốc từ năm 2007 đến tháng 7
– 2012.
Đơn vị: triệu USD
Năm
Chỉ tiêu
2007
2008
2009
2010
2011


15
0,98% tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc. Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba
của Việt Nam (chiếm 11,3% tổng giá trị xuất khẩu) nhưng lại là thị trường nhập khẩu lớn nhất
(23,2% tổng giá trị nhập khẩu). Vượt qua khối ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, EU , 8 tháng đầu
năm 2012, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 18,2 tỷ
USD, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm 2011.
Nhìn chung, quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển. Việt
Nam hiện đang gặp bất lợi do nhập siêu từ Trung Quốc cao nên sẽ gặp khó khăn trong việc cân đối
ngoại tệ nhập khẩu, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn yếu trong cạnh tranh nên gặp khó
khăn trong việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.
Việc trao đổi hàng hóa giữa các tỉnh nằm trong hợp tác “hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt –
Trung” cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Kim ngạch xuất khẩu biên mậu Việt Nam – Trung Quốc
qua khu vực điểm đầu mối phía Trung Quốc là Vân Nam và Quảng Tây của Trung Quốc đã gia tăng
liên tục trong thời kỳ từ năm 2005 – 2010.
Việc khai thông các tuyến hành lang có tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu của các tỉnh
vùng biên và các tỉnh trên tuyến hành lang tăng lên, song tỷ trọng của chúng trong tổng kim ngạch
xuất khẩu Việt Nam – Trung Quốc lại có xu hướng giảm. Vì vậy, tác động của sự phát triển hợp tác
“hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt – Trung” chưa mang lại lợi ích đáng kể cho Việt Nam.
3.2.1.2 Khắc phục những tồn tại trong hoạt động mậu dịch biên giới
Với Việt Nam, mua bán tiểu ngạch với Trung Quốc không thuộc phạm vi điều chỉnh của ACFTA,
lại chiếm một tỷ trọng lớn trong quan hệ thương mại song phương. Biên mậu có vai trò quan trọng
trong việc tăng cường xuất khẩu nhiều mặt hàng, tháo gỡ khó khăn cho những mặt hàng mà Việt
Nam xuất khẩu nhưng chất lượng chưa cao. Tuy nhiên việc phát triển quá nhanh chóng, đặc biệt là
các cặp chợ đường biên, lối mòn, sự bất cập về cơ sở hạ tầng, phương tiện và biện pháp quản lý làm
nảy sinh vấn đề buôn lậu và gian lận thương mại ngày càng phức tạp và tinh vi. Phía Việt Nam đưa
ra và bước đầu triển khai nhiều biện pháp: Thoả thuận với phía Trung Quốc để từng bước áp dụng
các quy định, tiêu chuẩn thống nhất cho hàng hoá xuất nhập khẩu qua biên giới của hai nước nhằm
đưa hoạt động biên mậu vào nền nếp và ổn định, xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng thương mại tại
các tỉnh giáp biên giới Việt – Trung, xây dựng cơ chế điều tiết, quản lý biên mậu linh hoạt, hiệu quả từ

thương mại, mang lại lợi ích to lớn cho Việt Nam và Trung Quốc cũng như các nước trong toàn khu
vực, phù hợp với xu thế hội nhập hiện nay. Xây dựng hành lang kinh tế hình thành ưu thế mang tính
khu vực, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế, mở ra các tiềm năng và cơ hội, đặc biệt là khả năng
thúc đẩy mởi cửa đối ngoại và thu hút tập trung đầu tư.
3.2.2 Các mặt tồn tại
Hợp tác “hai hành lang, một vành đai kinh tế” hiện nay diễn ra chưa toàn diện và phát huy hiệu quả đúng
mức, đưa đến nguy cơ làm sâu sắc một số tồn tại trong thương mại Việt Trung nói riêng và quan hệ Việt
Trung nói chung.
3.2.2.1 Các dự án triển khai chậm và chưa đồng bộ
Việc triển khai hợp tác diễn ra chậm chạp và chưa đồng bộ, đặc biệt về phía Việt Nam. Đến cuối năm
2011, cả Việt Nam và Trung Quốc vẫn chưa cụ thể hóa hợp tác này thành các kế hoạch phát triển
trong từng giai đoạn cụ thể. Trung Quốc rất tích cực và lồng ghép chương trình hợp tác này với chiến
lược phát triển vùng và chiến lược phát triển quốc gia trở thành một thể thống nhất khá chặt chẽ và

17
nhất quán. Trong khi đó, Việt Nam mặc dù cũng đã cố gắng xây dựng các dự án về phát triển cơ sở
hạ tầng và các chính sách buôn bán biên mậu, song việc xây dựng còn chưa được đồng bộ hóa và gắn
kết với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam cũng như kế hoạch phát triển của các tỉnh
thuộc khu vực hai hành lang, một vành đai kinh tế. Sự hợp tác vẫn mang tính chất nhỏ lẻ giữa từng
tỉnh của Trung Quốc với từng tỉnh của Việt Nam, chủ yếu chỉ là sự kết nối mang tính cục bộ địa
phương.
3.2.2.2 Thâm hụt cán cân thương mại ngày càng rõ nét
- Nhập siêu từ thị trường Trung Quốc ngày càng lớn cả về giá trị và tỷ lệ tương đối.
- Tỷ lệ nhập siêu từ Trung Quốc luôn lớn hơn tỷ lệ nhập siêu của cả nước.
- Nhập siêu từ Trung Quốc chiếm phần lớn tổng nhập siêu của Việt Nam.
- Nhập siêu từ Trung Quốc rất khó thu hẹp.
3.2.2.3 Khó khăn trong công tác phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại biên mậu
Địa bàn biên giới Việt - Trung rộng trong khi lực lượng các ngành chức năng còn mỏng nên vẫn còn
nhiều hạn chế. Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu,
thường xuyên bị ách tắc hàng hóa gây khó khăn và thiệt hại lớn về kinh tế cho các doanh nghiệp Việt

Nam có thể lấy chính chiến lược “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” này làm bàn đạp để tạo một
xung lực mới cho phát triển kinh tế ở Việt Nam, đặc biệt là ở các vùng biên giới còn chậm phát triển.
Hơn nữa, khi tuyến “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” này đi vào hoạt động, Trung Quốc sẽ nhận
thấy rằng đây là một khâu không thể thiếu trong vận hành các hoạt động kinh tế liên vùng nội địa của
Trung Quốc cũng như cầu nối Trung Quốc với ASEAN, từ đó nâng cao được vị thế đàm phán của
Việt Nam trên mọi lĩnh vực trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc cũng như trên trường quốc tế.
Thiếu chiến lƣợc thu hút đầu tƣ tầm quốc gia và vùng, tính liên kết vùng yếu:
“Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ” chưa hoạt động và phát huy hiệu quả đúng nghĩa là “đầu tàu tăng
trưởng” của toàn bộ vùng phía Bắc. Ngoại trừ việc tạo lập thêm một số tuyến giao thông có tác dụng
kết nối phát triển một số tỉnh khá tốt (nhưng chưa có đoạn đường nào thực sự là đường cao tốc), quá
trình phát triển vùng vẫn theo kế hoạch phát triển quốc gia truyền thống, là tổng số “cộng” các
chương trình, dự án phát triển của các tỉnh chứ không phải là sự liên kết phát triển vùng thực sự. Cơ
cấu kinh tế và cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư của nhiều địa phương còn chưa thể hiện và chưa tạo nên
sự phân công lao động rõ rệt để làm cơ sở cho việc liên kết phát triển. Xét dưới góc độ về chuỗi giá
trị gia tăng của hàng hóa thì sản phẩm công nghiệp và dịch vụ của hầu hết các địa phương đều nằm ở
khâu giá trị thấp, chủ yếu là gia công hoặc sơ chế. Điều này cũng hạn chế sự hợp tác, liên kết trong
phát triển giữa các địa phương trong không gian kinh tế hai hành lang một vành đai kinh tế phía Việt
Nam.
Sự chênh lệch trình độ phát triển, điều kiện hạ tầng giữa các địa phƣơng nằm trên tuyến hai
hành lang, một vành đai kinh tế:

19
Trong không gian kinh tế của hai hành lang, một vành đai kinh tế, phía Việt Nam chỉ có 3 tỉnh và
thành phố (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh) có trình độ và quy mô phát triển tương đối khá, có
khoảng cách tương đối lớn về trình độ phát triển kinh tế, điều kiện hạ tầng so với các tỉnh còn lại.
Quy mô và độ mở của nền kinh tế các tỉnh, thành phố thuộc không gian kinh tế này còn nhỏ và
không đồng đều với nhau. Chính do sự chênh lệch về trình độ phát triển mà mức độ quan tâm đến sự
hình thành “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” của các địa phương nằm trên tuyến này cũng khác
nhau. Những địa phương chậm phát triển còn phải ưu tiên nguồn lực cho các dự án ngắn hạn phục vụ
cho kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và đời sống mưu sinh của nhân dân, trong điều kiện

- Bối cảnh khu vực và quốc tế có nhiều thuận lợi để hai nước tiến hành xây dựng hai hành
lang, một vành đai kinh tế.
- Hai nước đều đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế, vì vậy đều cần môi trường xung quanh
hòa bình, ổn định để có điều kiện tập trung mọi nguồn lực cho việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm.
- Hệ thống kết cấu hạ tầng của “hai hành lang, một vành đai kinh tế” về cơ bản đã được hình
thành. Tiềm năng phát triển các khu vực trên hành lang tương đối dồi dào và có thể bổ sung cho
nhau về tất cả các lĩnh vực, từ đó tạo tiền đề cho sự vận hành tuyến hành lang và vành đai kinh tế.
4.1.2 Thách thức
- Huy động vốn cho xây dựng và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, đặc biệt quan trọng là hệ
thống giao thông đường bộ, đường sắt gặp khó khăn.
- Vùng hành lang đi qua nhiều địa phương miền núi của hai nước mà trình độ phát triển còn
thấp
- Trong những trường hợp nhất định, mục đích khai thác hành lang chưa thực sự thống nhất
giữa hai nước sẽ dễ làm nảy sinh bất đồng về lợi ích.
- Hoạt động của hành lang kinh tế ngoài việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong vùng
còn kéo theo nhiều vấn đề phức tạp khác: tình trạng tội phạm, buôn lậu, ma túy, dịch bệnh, ô nhiễm
môi trường, an ninh quốc phòng.
4.2 Các bài học cho hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế”
Từ những kinh nghiệm phát triển Hành lang kinh tế chúng ta có thể rút ra bài học cho “Hai
hành lang, một vành đai kinh tế Việt Nam –Trung Quốc”:
- Việc xây dựng hành lang kinh tế gắn với lợi ích quốc gia, vì vậy về quan điểm nhận thức,
xây dựng hành lang kinh tế phải là vấn đề chiến lược.
- Phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thông suốt, đồng bộ là điều kiện tiên quyết để phát triển
hành lang kinh tế.
- Đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yêu cầu hết sức quan trọng để vận hành
tuyến hành lang kinh tế đạt hiệu quả cao.
- Các địa phương ở hành lang kinh tế cần phải chủ động nắm bắt cơ hội, đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế.
- Phải nhanh chóng nghiên cứu, kiện toàn các chính sách về pháp luật và cơ chế chính sách.
- Phát triển hành lang kinh tế phải gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc phòng.

khu vực. Tích cực chủ động thu hút đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nguồn nhân lực có chất
lượng nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển của hành lang và vành đai kinh tế, xây dựng cơ chế
chính sách khuyến khích đầu tư của mọi thành phần kinh tế vào các lĩnh vực dựa trên phát huy lợi
thế so sánh tĩnh và động do sự hình thành và phát triển hành lang và vành đai kinh tế đem lại, từng
bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tiếp
nhận sự lan tỏa của phát triển hành lang và vành đai kinh tế. Việc qui hoạch, thu hút đầu tư phát triển
ở các địa phương dọc tuyến hành lang và vành đai kinh tế phải có tính liên kết vùng cao, phục vụ cho
lợi ích chung của cả tuyến hành lang và vành đai kinh tế trên nguyên tắc phân công lao động quốc tế.
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam:

22
Doanh nghiệp Việt Nam cần phát triển mạnh loại hình buôn bán chính ngạch. Tích cực gặp
gỡ tiếp xúc để nghiên cứu đàm phán nhằm chuyển từ thương mại đơn thuần sang hợp tác sản xuất
những mặt hàng mà hai bên có tiềm năng và có nhu cầu bổ sung lẫn nhau. Phấn đấu thu hẹp chênh
lệch trong cán cân buôn bán để tạo thuận lợi phát triển thương mại. Đề xuất kiến nghị với các doanh
nghiệp Trung Quốc đề nghị phía nhà nước Trung Quốc tăng nhập khẩu từ Việt Nam một số mặt hàng
đang duy trì hạn ngạch như cao su, than đá, dầu thực vật, đường cũng như các mặt hàng không có
hạn ngạch mà Trung Quốc có nhu cầu nhập khẩu. Thoả thuận với các doanh nghiệp phía bạn cùng
nghiên cứu và có các giải pháp giải quyết những vướng mắc trong quan hệ biên mậu, trước hết là
những phương thức thanh toán tiền hàng trong buôn bán để hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro cho
doanh nghiệp cả hai bên bằng cách tăng cường vai trò của ngân hàng để phục vụ cho các hoạt động
buôn bán, đưa việc thanh toán qua ngân hàng đi vào nề nếp và ổn định lâu dài.
Các doanh nghiệp cần tăng cường công tác xúc tiến thương mại thông qua việc thường xuyên
tổ chức và tham gia các hội chợ triển lãm của cả hai nước, tăng cường các đoàn qua lại để gặp gỡ,
trao đổi đàm phán, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của Trung ương cũng như địa phương thường
xuyên trao đổi đoàn với nhau, giới thiệu cho nhau các đối tác kinh doanh có thực lực, có uy tín để
các doanh nghiệp trao đổi buôn bán; Tổ chức các cuộc hội thảo, các tuần lễ giao lưu thương mại Việt
– Trung.

KẾT LUẬN

chóng đưa hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Nam – Trung Quốc vào vận hành toàn diện là
một nhiệm vụ cấp thiết tầm chiến lược, ảnh hưởng to lớn đến lợi ích và vị thế quốc gia. Chính vì vậy,
cần có những giải pháp đồng bộ và khả thi ở cấp độ quốc gia, cấp độ địa phương và cả đối với các
doanh nghiệp Việt Nam đang tham gia thông thương trên thị trường tiềm năng này.
References.
Tiếng Việt
1. Nguyễn Minh Hằng (2001), Buôn bán qua biên giới Việt – Trung, lịch sử - hiện trạng –
triển vọng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
2. Doãn Công Khánh (2008), “Quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc: thực tiễn và
những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 4(83).
3. Nguyễn Văn Lịch (2007), Định hướng chiến lược phát triển quan hệ thương mại Việt Nam
– Trung Quốc giai đoạn tới 2015, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Bộ Thương mại.
4. Nguyễn Văn Lịch (2004), Nghiên cứu phát triển thương mại khu vực hành lang kinh tế
Hải phòng – Lào Cai – Côn Minh trong bối cảnh hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung
Quốc, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Bộ Thương mại.
5. Nguyễn Văn Lịch (2005), Phát triển hành lang thương mại trên hành lang kinh tế, Nxb
Thống kê, Hà Nội.
6. Phạm Thái Quốc (2005), “Vai trò của hành lang kinh tế Nam Ninh – Hà Nội – Hải
Phòng”, Tạp chí Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, (51).
7. Trịnh Thị Thanh Thủy (2005), Các giải pháp để Việt Nam khai thác tối đa những lợi ích thương
mại từ chương trình thu hoạch sớm trong khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc, Viện Nghiên cứu
Thương mại

24
8. Cổ Tiểu Tùng (2005) “Ý tưởng về xây dựng hai hành lang một vành đai kinh tế”, Tạp chí
Thương mại, (36).
9. UNDP (2002), Thúc đẩy kế hoạch 5 năm hợp tác kinh tế sông Lan Thương - tiểu vùng
sông Mekong, Báo cáo nghiên cứu dự án năm 2002.
10. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2006), Kỷ yếu hội thảo “Phát triển hai hành lang, một
vành đai kinh tế Việt Nam Trung Quốc trong khuôn khổ hợp tác ASEAN – Trung Quốc”, Hải Phòng.

hành lang Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh”, website Đảng Cộng sản Việt
Nam, www.dangcongsan.vn.
22. Phan Kim Nga (2010), “Đặc trưng của thương mại Trung - Việt và phân tích nguyên nhân
của nó”, Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác, Viện KHXH Trung Quốc,
www.vnics.org.vn/Default.aspx?ctl=Article&aID=201.
23. Đức Tuân (2008) “Quy hoạch Hai hành lang, một vành đai kinh tế”, Cổng thông tin điện
tử chính phủ, www.chinhphu.vn.
24. Josef T. Yap (2008), “Pan-Beibu Gulf Economic Cooperation Against the Backdrop of An
Unbalancedand Uncertain World Economy”, www.bbw.gov.cn/article.php?id=23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status