Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc
và những tác động đến quan hệ thương mại
Việt – Trung
Nguyễn Văn Thái Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS ngành: Kinh tế thế giới & Quan hệ KTQT; Mã số: 60 31 07
Người hướng dẫn: TS. Phạm Thái Quốc
Năm bảo vệ: 2008 Abstract: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành khu vực mậu dịch tự
do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA). Luận giải vai trò của ACFTA đối với quá trình phát
triển kinh tế của các nước trong khu vực. Tập trung nghiên cứu những tiến triển của
ACFTA và tác động của ACFTA, phân tích những cơ hội và thách thức do ACFTA đem
lại đối với quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc, kể từ khi bắt đầu có đàm phán
để ký kết Hiệp định khung ACFTA tháng 11/2002 – cuối năm 2007. Từ đó, đề xuất một
số kiến nghị về đối sách của Việt Nam trong quan hệ thương mại với Trung Quốc khi cả
hai nước cùng tham gia ACFTA, và các giải pháp về phía nhà nước, về phía doanh
nghiệp, nhằm cải thiện quan hệ thương mại Việt - Trung trong điều kiện thực hiện
ACFTA
Keywords: Khu vực mậu dịch tự do; Quan hệ kinh tế quốc tế; Thương mại; Trung Quốc;
ASEAN Content
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tháng 11 năm 2002, Hiệp định khung về khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc
một số kiến nghị chính sách của Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại Việt – Trung
trong bối cảnh thực hiện ACFTA.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ thực chất, nội dung của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc và những
tác động của nó đối với quan hệ thương mại Việt – Trung.
- Đề xuất một số kiến nghị chính sách nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại Việt – Trung
trong bối cảnh thực hiện ACFTA.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Luận giải vai trò của ACFTA đối với quá trình phát triển kinh tế của các nước trong khu
vực.
- Phân tích, đánh giá những cơ hội và thách thức do ACFTA đem lại đối với quan hệ
thương mại Việt Nam - Trung Quốc.
- Đề xuất một số kiến nghị về đối sách của Việt Nam trong quan hệ thương mại với Trung
Quốc khi cả hai cùng tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là mối liên hệ ACFTA và quan hệ thương mại Việt – Trung.
Phạm vi nghiên cứu là từ khi bắt đầu có đàm phán để ký kết Hiệp định khung ACFTA
(tháng 11 năm 2002) cho đến cuối năm 2007.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong đề tài là phân tích, tổng hợp, thống kê,
so sánh…kết hợp với thu thập và xử lý các thông tin, dữ liệu về khu vực mậu dịch tự do ASEAN
– Trung Quốc từ đó đánh giá các tác động đối với quan hệ thương mại Việt – Trung và kiến
nghị một số chính sách của Việt Nam nhằm cải thiện quan hệ thương mại Việt – Trung trong
điều kiện thực hiện ACFTA.
6. Những đóng góp của luận văn
Dự kiến luận văn có những đóng góp sau:
- Làm rõ quá trình hình thành và những tiến triển mới đây của Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN - Trung Quốc
- Đánh giá tác động của việc thành lập ACFTA đối với quan hệ thương mại Việt – Trung
Qua các mô hình thương mại quốc tế, có thể đi đến kết luận rằng các nước buôn bán với
nhau hoặc vì họ khác biệt về các nguồn lực, về công nghệ, hoặc vì họ khác biệt nhau về lợi thế
kinh tế nhờ qui mô, hoặc vì cả hai lý do đó. Thương mại luôn mang lại lợi ích cho các nước tham
gia và các lợi ích này là tiềm tàng.
1.1.1.3 Lý thuyết về chủ nghĩa khu vực mở
Từ những năm 1980 quá trình liên kết và hợp tác kinh tế ở các khu vực và trên phạm vi
toàn cầu phát triển mạnh, tự do hoá kinh tế, thương mại và đầu tư trở thành xu hướng bao trùm.
Lý thuyết Chủ nghĩa khu vực mở được APEC khởi xướng đã trở thành một trào lưu kinh tế được
rất nhiều nước thực hiện.
Tổ chức APEC ra đời như một đáp ứng đúng lúc đối với yêu cầu và lợi ích của của các nền kinh tế ở
Châu Á- Thái Bình Dương vốn đang ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau hơn. Không giống như các tổ chức khu
vực khác (đặc biệt là EU), ngay từ ban đầu, APEC không nhấn mạnh đến mục tiêu tạo lập hệ thống ưu đãi
thuế quan, liên minh thuế quan hay thị trường chung, mà nhấn mạnh tới việc tăng cường hệ thống thương
mại đa phương mở.
1.1.2 Khái niệm về khu vực mậu dịch tự do
1.1.2.1 Khu vực mậu dịch tự do
Khu vực mậu dịch tự do là một hình thức liên kết thương mại của hai nước hay nhiều nước
với nhau. Thông qua khu vực mậu dịch tự do, các nước mở rộng trao đổi buôn bán và mở rộng
các hình thức hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế. Ngày nay khái niệm thương mại có nội hàm rộng
hơn nhiều, không chỉ bó hẹp ở lĩnh vực thương mại hàng hoá, mà nó còn liên quan đến đầu tư,
dịch vụ, sở hữu trí tuệ, thậm chí đã mở rộng đến cả các vấn đề như: lao động, điều chỉnh việc
làm, vấn đề môi trường, thương mại điện tử. Nội hàm của thương mại quốc tế không chỉ được
mở rộng mà nội dung ngày càng sâu sắc thêm.
1.1.2.2 Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) là một hình thức liên kết thương mại của Hiệp
hội các quốc gia Đông Nam Á. Trước đây đàm phán, thoả thuận, thực hiện cắt giảm thuế quan,
hạ thấp và xoá bỏ hàng rào phi quan thuế là nội dung trọng tâm của AFTA. Nhưng từ cuối những
năm 1990, AFTA đã thể hiện rõ ràng xu hướng mở rộng nội dung sang các vấn đề lớn của quan
hệ kinh tế quốc tế như đầu tư, dịch vụ, sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại, thương mại điện
tử và những vấn đề khác.
Sự ra đời của AFTA là phù hợp với xu thế chung của nền kinh tế thế giới, phù hợp với diễn
biến tình hình chính trị và an ninh trong khu vực, đáp ứng những đòi hỏi của liên kết kinh tế khu
vực trong kỷ nguyên sau chiến tranh lạnh.
1.2.3 Những yêu cầu trong tiến trình phát triển của Trung Quốc
Đối với Trung Quốc, xét về góc độ kinh tế, ASEAN là thị trường cho các ngành công
nghiệp đang trỗi dậy của họ. Trong khi Trung Quốc tiến hành cơ cấu lại các ngành công nghiệp
của mình, một số cơ sở công nghiệp có thể được di chuyển sang các nước Đông Nam Á. Một vấn
đề mà Trung Quốc đang gặp khó khăn trên con đường phát triển là nguồn nguyên, nhiên liệu. Do
đó, hợp tác, liên kết kinh tế, thành lập Khu vực mậu dich tự do Trung Quốc – ASEAN sẽ là điều
kiện để Trung Quốc tiếp cận với nguồn nguyên liệu như dầu mỏ, gỗ, các sản phẩm nhiệt
đới vốn là thế mạnh của nhiều nưóc ASEAN. Đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp Trung
Quốc đẩy mạnh đầu tư, xuất khẩu, khai thác tiềm năng thị trường nguyên liệu và du lịch của
ASEAN.
1.2.4 Nhu cầu hợp tác kinh tế trong khu vực Đông Á
Ngày nay, Bắc Mỹ, Châu Âu và Đông Á đã trở thành ba trụ cột của nền kinh tế thế giới.
Nhưng trong đó Đông Á lại l à khu vực duy nhất còn lại trên thế giới mà chưa có một khối kinh
tế khu vực như EU hoặc NAFTA. Mức độ hợp tác kinh tế ở Đông Á lại bị xếp vào loại thấp nhất
so với EU và NAFTA. Vì vậy, gần đây nhu cầu hợp tác khu vực Đông Á đã được quan tâm. Nhu
cầu này được bắt nguồn từ sự phát triển của chủ nghĩa khu vực, từ cuộc khủng hoảng tài chính ở
Đông Á và xu hướng tăng cường các mối quan hệ cá nhân tại khu vực Đông Á. Hiện nay, nhiều
Hiệp định mậu dịch tự do giữa các nước trong khu vực đã được ký kết, qua đó có thể thấy việc
thành lập những khu vực mậu dịch tự do ở qui mô khu vực được các nước coi như một chính
sách thương mại mang tính chiến lược hơn là chính sách để đảm bảo an toàn trong trường hợp hệ
thống thương mại toàn cầu không phát huy được tác dụng. Sự tham gia tích cực vào khu vực
mậu dịch tự do của các nước cũng giúp các thành viên tích luỹ kinh nghiệm về toàn cầu hoá
thông qua hội nhập kinh tế.
1.2.5 Những lợi ích của ASEAN và Trung Quốc khi hình thành ACFTA
Việc thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc là một cột mốc quan trọng
trong lịch sử quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc, nó không chỉ đem lại nhiều lợi ích về mặt
kinh tế cho hai thực thể mà còn tạo điều kiện tăng cường quan hệ hợp tác trong các lĩnh vực
Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Trung Quốc ký ngày 4/11/2002 gồm
tổng cộng 16 điều và 4 phụ lục kèm theo. Nội dung chính của hiệp định được chia làm 2 phần: Phần 1 từ
điều 3 đến điều 6 đề cập đến thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư và EHP; Phần 2 là điều 7 đề
cập đến hợp tác kinh tế trên các lĩnh vực khác. Còn lại từ điều 8 đến điều 16 gồm các qui định khung về thời
gian của các chương trình hợp tác, về chế độ đãi ngộ MFN, các ngoại lệ chung, cơ chế giải quyết tranh
chấp, kế hoạch đàm phán và một số điều khoản khác liên quan đến sự sửa đổi, hiệu lực của Hiệp định
2.1.3 Những tiến triển của ACFTA
2.1.3.1 Ký hiệp định thƣơng mại hàng hóa
Ngày 29/11/2004, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Viêng Chăn, ASEAN và Trung
Quốc đã ký Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – Trung Quốc, có hiệu lực từ ngày
1/7/2005. Đây là bước tiến quan trọng thúc đẩy tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN và Trung
Quốc, bước đầu hiện thực hóa mục tiêu của các nhà lãnh đạo nêu lên trong Hiệp định khung hợp
tác kinh tế toàn diện Trung Quốc – ASEAN năm 2002. Theo đó, ngày 20/7/2005, hai bên khởi
động kế hoạch giảm thuế đồng loạt đối với trên 7000 loại hàng hóa. Trung Quốc và 6 nước thành
viên cũ sẽ giảm hầu hết thuế quan của các loại hàng hóa thuộc danh mục thông thường xuống
mức bằng 0 vào năm 2010, bốn nước thành viên mới được kéo dài thời gian giảm thuế đến năm
2015.
2.1.3.2 Ký Hiệp định về cơ chế giải quyết tranh chấp
Tháng 11 – 2004, Trung Quốc và ASEAN đã ký “Hiệp định về cơ chế giải quyết tranh
chấp”. Cơ chế này được ký kết tạo ra sự bảo đảm về mặt pháp luật cho ACFTA, nếu không có cơ
chế này, cả hai bên sẽ không thể giải quyết được mọi vấn đề phát sinh trong khi thực hiện “Hiệp
định khung”, và do vậy, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên sẽ không được phân chia rõ ràng và
có sự bảo đảm pháp luật, điều đó gây ảnh hưởng xấu tới quan hệ song phương trong tương lai.
Nguyên tắc cơ bản, phạm vi, trình tự… trong cơ chế giải quyết tranh chấp về cơ bản đều giống
với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, điều đó có ý nghĩa quan trọng trong việc thống nhất
và phù hợp với các qui định quốc tế, tạo ra khung pháp lý bảo đảm quan hệ thương mại giữa
Trung Quốc và ASEAN.
2.1.3.3 Ký Hiệp định thƣơng mại dịch vụ
Tại Hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc – ASEAN lần thứ 10 tổ chức tại Cebu tháng 1 –
2007, hai bên đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp định mậu dịch dịch vụ, hiệp định có hiệu lực từ
a. Mở rộng quy mô thị trường, thúc đẩy trao đổi thương mại hàng hóa và dịch vụ
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc hoàn thành sẽ tạo ra một khu vực thương
mại tự do lớn nhất thế giới. Một thị trường ASEAN - Trung Quốc thống nhất sẽ làm tăng khối
lượng trao đổi thương mại của các nước thành viên nhờ giảm được chi phí kinh doanh, tận dụng
được lợi thế nhờ quy mô, đồng thời phát huy được lợi thế tương đối do tính bổ sung lẫn nhau của
các sản phẩm xuất khẩu.
b. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu thương mại
Việc thành lập ACFTA cũng góp phần tạo động lực để chuyển đổi cơ cấu thương mại theo
hướng tập trung khai thác các mặt hàng có thế mạnh xuất khẩu. Khu vực mậu dịch tự do sẽ giúp
chuyên môn hoá hơn trong sản xuất dựa trên các lợi thế so sánh. Chuyên môn hoá xảy ra khi một
số sản phẩm nội địa của một thành viên của Khu vực mậu dịch tự do được thay thế bởi việc nhập
khẩu với giá thấp hơn từ thành viên khác. Vì thế mà thu nhập thực tế do nguồn tài nguyên được
tối ưu hoá trong phân phối có thể sẽ được tăng lên. Cạnh tranh khốc liệt sẽ đòi hỏi mức độ
chuyên môn hoá cao hơn, từ đó làm tăng hiệu quả cho nền kinh tế.
c. Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và nâng cao năng lực cạnh tranh
Một khu vực mậu dịch tự do thống nhất sẽ là môi trường thuận lợi cho các hoạt động
thương mại và đầu tư, mà ở đó các nước tham gia sẽ phát huy tối đa lợi thế tương đối của mình.
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc được hình thành về cơ bản dựa trên những
nguyên tắc của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), do vậy sẽ tạo ra một môi trường bình đẳng
cho các bên tham gia trao đổi thương mại. Mặc dù còn có nhiều sự khác biệt, nhưng các quốc gia
khu vực đang nỗ lực để tạo dựng một sân chơi mang lại lợi ích thương mại cho mỗi thành viên.
Chẳng hạn, các nước phát triển hơn trong khu vực đã dành cho các nước ASEAN - 4 những ưu
đãi đặc biệt và khác biệt trong quá trình thực hiện ACFTA như kéo dài thời hạn thực hiện cam
kết, hỗ trợ về kỹ thuật, thực hiện chương trình thu hoạch sớm
d. Xây dựng các cơ sở cho các quan hệ song phương và đa phương
Sự hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc không chỉ đem lại những lợi ích kinh tế mang tính
tình mà cả những lợi ích kinh tế mang tính động. Lý thuyết về hợp tác kinh tế khu vực cho thấy
một trong những động cơ chính của việc khởi xướng hợp tác kinh tế khu vực là nhằm tạo ảnh
hưởng đến việc xác lập các lợi ích mang tính chính trị, mà cụ thể ở đây là quyền đưa ra các quy
định kinh tế quốc tế. Thành viên của mọi tổ chức hợp tác kinh tế đều cần phải có quan điểm
và sản phẩm trong đó khả năng cạnh tranh quốc gia đóng vai trò trọng yếu. Nó được hiểu là việc
xây dựng môi trường cạnh tranh kinh tế chung để thu hút đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời
đảm bảo việc phân bổ các nguồn lực để nền kinh tế duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững, nâng
cao vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế. Môi trường cạnh tranh kinh tế chung do nhiều yếu tố
quyết định nhưng các yếu tố cơ bản là: môi trường pháp lý, thị trường, kết cấu cơ sở hạ tầng.
c. Làm nảy sinh nhiều vấn đề chính trị, xã hội phức tạp
Hoạt động của khu vực ACFTA sẽ tạo điều kiện để các nước hợp tác giải quyết các vấn đề
xã hội của khu vực như: bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước, rừng, ngăn chặn tình
trạng gây ô nhiễm môi trường qua biên giới, tăng cường hợp tác chống ma tuý, phá bỏ các đường
dây buôn bán ma tuý qua biên giới, hợp tác chống buôn lậu và gian lận thương mại, bảo vệ sức
khoẻ cộng đồng, ngăn ngừa các dịch bệnh lây lan qua biên giới.
2.2.2 Đánh giá tác động trên thực tế đến thƣơng mại Việt - Trung
2.2.2.1 Tác động tới thƣơng mại
Về mặt thực tiễn, thực hiện “Chương trình thu hoạch sớm”, từ ngày 1/1/2004. Trung Quốc
đã thực hiện cắt giảm dần 536 dòng thuế nhập khẩu từ Việt Nam xuống thuế suất 0% trước
1/1/2006. Ngày 25 tháng 2 năm 2004, Chính phủ Việt Nam cũng đã có Nghị định số
99/2004/NĐ-CP về ban hành Danh mục hàng hóa và thuế suất thuế nhập khẩu của Việt Nam cho
các năm 2004-2008 để thực hiện Chương trình thu hoạch sớm của Hiệp định khung về hợp tác
kinh tế toàn diện ASEAN – Trung Quốc với việc cắt giảm dần 484 dòng thuế nhập khẩu từ
Trung Quốc xuống mức bằng 0% trước 1/1/2008. Danh mục loại trừ giữa Việt Nam và Trung
Quốc có 26 mặt hàng như trứng, thịt gia cầm, hoa quả…
Ngày 12/6/2006, Bộ Tài chính cũng đã ban hành Quyết định 35/2006/QD-BTC và thông tư
52/2006/TT-BTC về danh mục hàng hóa và hướng dẫn thực hiện Hiệp định về Thương mại hàng
hóa ASEAN – Trung Quốc từ ngày 01/01/2006 đối với danh mục hàng hóa thông thường (các
mặt hàng từ chương 9 đến chương 24) gồm trên 7000 sản phẩm. Việt Nam đã bắt đầu xúc tiến
việc hoàn thuế nhập khẩu cho các lô hàng được nhập khẩu vào Việt Nam trong khuôn khổ
ACFTA từ 01/01/2006 và đề nghị Trung Quốc và các nước ASEAN khác cũng cho Việt Nam
hưởng ưu đãi ACFTA từ 01/01/2006.
Với việc thực hiện cắt giảm thuế, kim ngạch thương mại giữa hai nước đã tăng lên nhanh
7.391
12.502
Tổng
kim
ngạch
xuất
nhập
khẩu
3.023
3.677
5.022
7.494
9.087
10.421
15.859
Nếu năm 2001 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc là 3.023 triệu USD
thì năm 2003 đã tăng lên 5.022 triệu USD. Một năm sau khi thực hiện cắt giảm thuế theo
Chương trình thu hoạch sớm, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc đạt 7.494 triệu
USD. Con số này năm 2005 là 9.087 triệu USD và năm 2007 là 15.859 triệu USD, vượt mức 15
tỷ USD trước 3 năm so với dự kiến. Những con số trên cho thấy việc thực hiện Chương trình thu
hoạch sớm trong khuôn khổ ACFTA đã tác động lớn tới quan hệ thương mại Việt Nam – Trung
Quốc.
2.2.2.2 Tác động tới thu hút đầu tƣ của Trung Quốc vào Việt Nam
Trước kia, khi chưa có ACFTA các nhà đầu tư vẫn khao khát chiếm lĩnh thị trường Trung
Quốc và chỉ có đầu tư vào Trung Quốc mới có thể chiếm lĩnh được thị trường khổng lồ này. Tuy
nhiên, khi có ACFTA có nghĩa là không cần đầu tư vào Trung Quốc vẫn có thể chiếm lĩnh thị
trường Trung Quốc. Vì vậy khi thuế quan giữa Trung Quốc và Asean giảm, các nhà đầu tư nước
ngoài có thể tăng đầu tư vào Việt Nam hoặc Asean rồi tiêu thụ trên thị trường Trung Quốc. Đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam trong những năm qua tăng mạnh cũng một phần do có ACFTA.
năm 2005 đã vươn lên đứng thứ 4, sau Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan. Có nhiều nhân tố khác
dẫn tới hiện tượng này nhưng việc thực hiện ACFTA cũng đóng vai trò khá quan trọng. Khi
thâm nhập thị trường Trung Quốc thay vì Nhật Bản đầu tư tại nước sở tại thì họ có thể đầu tư vào
Việt Nam sau đó xuất khẩu hàng hóa sang thị trường 1,3 tỷ dân này. Hiện nay, các nhà đầu tư
Nhật Bản đang có xu hướng chuyển dần đầu tư sang Việt Nam thậm chí rút vốn chuyển từ Trung
Quốc để đầu tư sang Việt Nam, nơi có môi trường đầu tư ít rủi ro hơn, chi phí thấp hơn…
CHƢƠNG 3
NHỮNG GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT -
TRUNG TRONG BỐI CẢNH
THỰC HIỆN ACFTA
3.1 CÁC GIẢI PHÁP VỀ PHÍA NHÀ NƢỚC
3.1.1 Tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc
Vai trò của nhà nước trong thương mại quốc tế thể hiện trước hết ở việc tạo lập môi trường
pháp lý, chính sách kích thích sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường
quốc tế theo hướng vừa phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước, vừa phù hợp với luật chơi
quốc tế, với các hiệp ước, định chế quốc tế. Một môi trường pháp lý và chính sách thuận lợi sẽ
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường ra nước ngoài nhằm tăng qui
mô xuất khẩu và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, đồng thời bảo hộ hợp lý thị trường
trong nước trước sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của hàng hoá và dịch vụ nước ngoài. Một
chính sách kích thích sản xuất tốt không chỉ đóng vai trò thúc đẩy năng lực sản xuất, bảo đảm
đầu vào, đầu ra cho quá trình sản xuất mở rộng, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về hàng hoá của
xã hội mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác tiềm năng, thế mạnh và lợi thế so
sánh của đất nước, dẫn dắt sản xuất đi theo tín hiệu của thị trường để từ đó phân bổ nguồn lực
một cách hợp lý và hiệu quả, thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ để đẩy mạnh sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
3.1.2 Xây dựng chiến lƣợc phát triển quan hệ thƣơng mại Việt - Trung
Trong thời gian trước mắt, cần xây dựng chiến lược phát triển quan hệ kinh tế - thương mại
Việt - Trung cả tầm dài hạn và trung hạn để từ đó có sự chỉ đạo các chương trình hành động cụ
Quốc, đồng thời cũng là khâu then chốt trong chiến lược mở rộng ảnh hưởng, xác lập vị trí quyền
lực với Đông Nam Á của họ.
- Đưa ra các chính sách phát triển mậu dịch biên giới và xây dựng quy chế phối hợp trong
quản lý mậu dịch biên giới giữa các cơ quan chức năng trung ương và địa phương trong việc tổ
chức, quản lý, điều hành và nâng cao hiệu quả của hoạt động thương mại hàng hoá qua biên giới.
- Cần nhanh chóng xây dựng chiến lược buôn bán xuất nhập khẩu qua biên giới có tính lâu
dài, ổn định và thống nhất với chiến lược tổng thể. Trong đó xác định được chính sách mặt hàng,
cơ cấu xuất nhập khẩu phù hợp với từng tuyến biên giới.
3.1.5 Tăng cƣờng công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thƣơng mại
- Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước. Đây là giải pháp cơ bản để giải
quyết tệ nạn hàng hoá buôn lậu, trốn thuế, không kiểm soát được. Phát triển sản xuất, nâng cao
năng lực cạnh tranh của hàng hoá trong nước sẽ hạn chế nguồn hàng nhập lậu từ nước ngoài với
mục đích thu lợi nhuận cao.
- Xem xét lại hệ thống thuế và thủ tục Hải quan, tránh những bất hợp lý trong chính sách
thuế làm cho buôn lậu và gian lận thương mại xuất hiện.
- Hoàn thiện cơ chế quản lý ngoại hối. Việc quản lý ngoại hối lỏng lẻo để ngoại tệ, vàng
bạc đá quý trôi nổi đã cung cấp phương tiện thanh toán cho hoạt động buôn lậu. Người buôn lậu
hiếm khi thanh toán qua ngân hàng nên việc quản lý ngoại hối và việc kinh doanh ngoại tệ một
cách chặt chẽ sẽ tạo cơ sở để ngăn chặn buôn lậu.
- Tăng cường công tác phối hợp với các ngành chức năng trong tổ chức và quản lý xuất
nhập khẩu hàng hoá qua biên giới, quy định rõ phạm vi, thẩm quyền và trách nhiệm của từng
ngành, từng lực lượng chức năng trong đấu tranh chống buôn lậu. Nâng cao năng lực nghiệp vụ
cho lực lượng Hải quan và tạo điều kiện về phương tiện kỹ thuật để nâng cao hiệu quả của công
tác quản lý, giám sát hàng hoá xuất nhập khẩu qua biên giới, chống buôn lậu và gian lận thương
mại.
3.1.6 Giải pháp về chính sách thuế, tài chính, tín dụng
- Sử dụng hiệu quả quỹ hỗ trợ xuất khẩu để các doanh nghiệp được vay vốn với lãi suất
thấp, giải quyết được khó khăn về vốn lưu động và vốn đầu tư đổi mới trang thiết bị. Bảo lãnh tín
dụng xuất khẩu, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thâm nhập thị trường Trung Quốc.
- Đảm bảo sự bình đẳng thực sự trong quan hệ tín dụng ngân hàng trên cơ sở pháp luật giữa
3.2 CÁC GIẢI PHÁP VỀ PHÍA DOANH NGHIỆP
3.2.1 Nâng cao năng lực sản xuất - kinh doanh
Trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực theo hướng mở cửa và hội nhập thì các doanh
nghiệp ở mọi quốc gia cần phải nhanh chóng tỏ ra thích ứng với xu thế chung. Việc Trung Quốc
gia nhập ACFTA, các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc tiến hành hoạt động
mua bán hàng hoá và các hoạt động hợp tác đầu tư khác với các doanh nghiệp Trung Quốc
nhưng cũng phải vượt qua nhiều thách thức trước sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp nước
này.
3.2.2 Xây dựng chiến lƣợc “sản phẩm - thị trƣờng”
Thực tế đã chứng minh nếu không xác định được một chiến lược phát triển đúng, nhà
doanh nghiệp rất có thể tự mình lao vào những cạm bẫy không thể rút ra được, dẫn đến tình hình
kinh doanh sa sút và thậm chí phá sản. Doanh nghiệp có thể đặt mục tiêu và quyết định đầu tư
vào một lĩnh vực mới với hy vọng phát triển, nhưng không đánh giá được hết đối thủ cạnh tranh,
tiềm lực của mình mà có thể dẫn đến thua lỗ. Nguyên nhân dẫn đến việc doanh nghiệp ngày
càng sa sút có thể rất nhiều; có thể rõ ràng hoặc còn tiềm ẩn. Có thể do doanh nghiệp không có
một bộ máy tổ chức hợp lý, quản lý nhân sự chưa hiệu quả, chi phí quản lý quá cao, hoặc cũng
có thể do sản phẩm của doanh nghiệp không được đổi mới, thị phần ngày càng giảm, không sử
dụng đúng các chiến lược về giá, marketing
3.2.3 Tăng cƣờng hợp tác, liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp Việt Nam và Trung
Quốc
Để đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, liên kết khu vực và tự do hoá thương mại
giữa Việt Nam và ASEAN. nói chung và với Trung Quốc nói riêng, các doanh nghiệp Việt Nam
cần tăng cường hoạt động hợp tác, liên kết liên doanh với các doanh nghiệp và tập đoàn sản xuất
- kinh doanh Trung Quốc để sản xuất sản phẩm tại Việt Nam hoặc Trung Quốc nhưng được tiêu
thụ ở các thị trường khác trên thế giới kể cả các nước Châu Âu, Châu Mỹ như: các mặt hàng điện
tử, các mặt hàng máy móc thiết bị và sản phẩm cơ khí, đồ điện gia dụng, thức ăn gia súc, thực
phẩm, dược phẩm
3.2.4 Tăng cƣờng hoạt động xúc tiến thƣơng mại và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân
lực
Để tăng cường xuất nhập khẩu hàng hoá với Trung Quốc thông qua việc áp dụng công nghệ
tượng này nhưng việc thực hiện ACFTA cũng đóng vai trò khá quan trọng. Khi thâm nhập thị
trường Trung Quốc thay vì Nhật Bản đầu tư tại nước sở tại thì họ có thể đầu tư vào Việt Nam sau
đó xuất khẩu hàng hóa sang thị trường 1,3 tỷ dân này. Hiện nay, các nhà đầu tư Nhật Bản đang
có xu hướng chuyển dần đầu tư sang Việt Nam thậm chí rút vốn chuyển từ Trung Quốc để đầu tư
sang Việt Nam, nơi có môi trường đầu tư ít rủi ro hơn, chi phí thấp hơn…
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, quan hệ thương mại Việt – Trung vẫn còn một số
vấn đề nổi cộm cần giải quyết, trong đó nổi bật như thâm hụt thương mại, Việt Nam nhập siêu
nhiều từ Trung Quốc, hoạt động buôn lậu hàng hóa gia tăng, nạn hàng giả, tiền giả ngày càng
nhiều…
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số các giải pháp nhằm thúc
đẩy phát triển quan hệ thương mại Việt – Trung trong bối cảnh thực hiện ACFTA. Đặc biệt, nhấn
mạnh một số giải pháp như: Xây dựng chiến lược phát triển quan hệ thương mại Việt – Trung;
thúc đảy hoạt động thương mại khu vực biên giới Việt – Trung; Tăng cường công tác đấu tranh
chống buôn lậu, gian lận thương mại; Đẩy nhanh tiến độ xây dựng “Hai hành lang, một vành đai
kinh tế”; tăng cường xuất khẩu để giảm nhập siêu; nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh. References
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
1 . Bộ Công nghiệp (2004), “Tham gia ACFTA là chuẩn bị cho gia nhập WTO”, Tạp chí
Công nghiệp, (16), tr. 48-50.
2. Bộ Kế hoạch và đầu tư (2007), “Kim ngạch thương mại ASEAN – Trung Quốc tăng
mạnh”, = 4& ma_tin van= 10190.
3 . Bộ Kế hoạch và đầu tư (2007), “Đón đầu cơ hội lớn”, Báo Đầu tư,
4. Bộ Khoa học công nghệ (2005), “Quan hệ ASEAN – Trung Quốc và sự phát triển của
thương mại Việt Nam”, Tạp chí Hoạt động Khoa học, (12).
5. Bộ Tài chính (2006), “Kim ngạch thương mại Trung Quốc – ASEAN đạt 130,4 tỷ
USD”, Thời báo tài chính, (10).
nhập của thương mại Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và quốc tế Đại học Ngoại Thương, Hà
Nội.
20. Lê Quang Lân (2005), “Gợi ý một số giải pháp của Việt Nam với tư cách thành viên
ASEAN thúc đẩy quan hệ ASEAN – Trung Quốc”, Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế,
Hà Nội.
21. Lê Quang Lân (2005), “Một số giải pháp tận dụng lợi thế cửa ngõ của ASEAN trong
việc phát huy lợi ích của khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc của Việt Nam”, Uỷ ban
quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Hà Nội.
22. Nguyễn Văn Lịch (2004), Nghiên cứu phát triển thương mại khu vực hành lang kinh
tế Hải Phòng – Lào Cai – Côn Minh trong bối cảnh hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN –
Trung Quốc (ACFTA), Bộ Thương mại, Hà Nội.
23. Việt Linh (2005), “Cái giá của mậu dịch tự do”, Tin nhanh Việt Nam.
24. Võ Đại Lược, Đỗ Hoài Nam (2004), Hướng tới Cộng đồng kinh tế Đông Á, Nxb Thế
giới, Hà Nội.
25. Nguyễn Văn Nam (2004), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ
nhằm chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta”, Viện nghiên cứu thương mại.
26. NXB Thống kê (2004), Niên giám Thống kê 2003, Hà Nội.
27. Hoàng Tích Phúc (2005), “Việt Nam Hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia các Khu
vực mậu dịch tự do AFTA và ACFTA”, Bài giảng, Hà Nội.
28. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương các số năm 2007, 2008.
29. Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc các số năm 2007, 2008.
30. Tỉnh Lạng Sơn (2004), “Tác động của việc cắt giảm thuế theo CEFT/AFTA và đàm
phán khu vực thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), một số liên hệ đối với tình
hình Lạng Sơn”, Bài báo cáo tại tỉnh Lạng Sơn.
31. Lương Văn Tự (2004), “Đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế: vấn đề và giải
pháp”, Tạp chí Thương mại, (11).
32. Thuỳ Trang (2005), “Hiệp định thương mại ASEAN – Trung Quốc: Cần biết mình,
biết người”, Báo điện tử - Thời báo kinh tế Việt Nam,
33. Lê Đình Trường (2004), “Chiến lược “Sản phẩm – Thị trường” ở tầm vĩ mô để phát
People’s Daily, China.