Quan hệ thương mại Nhật Bản-Việt Nam , Thực trạng và giải pháp - Pdf 23

Khoá Luận tốt nghiệp
Lời nói đầu
vào những năm đầu những năm của thập kỷ 90 trở lại đây, việc mở rộng hội
nhập và hợp tác kinh tế đã và đang trở thành một xu thế tất yếu của quá trình
phát triển nền kinh tế. Những lợi ích kinh tế của việc hội nhập kinh tế quốc tế
đã mang lại cho mỗi thành viên tham gia, những lợi ích kinh tế mà không
một quốc gia nào có thể phủ nhận. Việt Nam cũng vậy, để đẩy mạnh quá trình
Công nghiệp hoá Hiện đại hoá, Đảng và nhà nớc ta đã và đang thực hiện chính
sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá và đa phơng hóa quan hệ kinh tế quốc
tế, lấy mục tiêu vì hoà bình và phát triển làm tiêu chuẩn cho mọi hoạt động
đối ngoại. Đồng thời, trong bối cảnh phân công lao động quốc tế đang diễn ra
mạnh mẽ, việc hợp tác kinh tế quốc tế đã và đang trở thành cách tốt nhất để
các quốc gia phát huy đợc tối đa lợi thế của mình, cũng nh khai thác triệt để
những lợi ích của các quốc gia khác để phục vụ cho nớc mình.
Không nằm ngoài xu thế trên, cả Việt Nam và Nhật Bản đều đã tìm
thấy ở nhau những điều kiện thuận lợi, cũng nh lợi ích kinh tế của bản thân
mỗi nớc khi xây dựng, phát triển và củng cố mối quan hệ hợp tác song phơng
giữa hai nớc. Bên cạnh những kết quả khả quan đã đạt đợc, trong quan hệ
buôn bán giữa Việt Nam - Nhật Bản còn có một số hạn chế cần đợc khắc
phục, loại bỏ nhằm phát triển hơn nữa cho xứng với tiềm năng của hai nớc, đa
mối quan hệ này lên tầm cao mới. Việc nghiên cứu những thành tựu và những
mặt tồn tại đó là rất cần thiết. Vì vậy em đã chọn đề tài: Quan hệ Th ơng
mai giữa Việt Nam và Nhật Bản thực trạng và giải pháp.
Với yêu cầu của khoá luận về mặt kiến thức tổng hợp, kiến thức am
hiểu sâu rộng về thực tế chính sách là rất cao. Nhng do sự hạn chế về mặt thời
gian, tài liệu cũng nh năng lực nghiên cứu của mình nên trong đề tài em chỉ
tập trung vào lĩnh vực (quan hệ Thơng mại giữa Việt Nam Nhật Bản giai
Phạm Quang Ninh - K45 - KTĐN
-1-
Khoá Luận tốt nghiệp
đoạn từ năm 1992 trở lại đây). và em rất mong đợc sự đóng góp ý kiến của

Ngày nay, xu thế này đã trở thành một yêu cầu khách quan của nền
kinh tế thế giới. Thêm vào đó là, sự bùng nổ của cách mạng khoa học kỹ thuật
công nghệ, đã mở ra một kỷ nguyên mới cho sự phát triển, cạnh tranh và
Phạm Quang Ninh - K45 - KTĐN
-3-
Khoá Luận tốt nghiệp
hợp tác giữa các nớc trên thế giới mà nổi bật là vấn đề toàn cầu hoá. Vậy toàn
cầu hoá là gì?
Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu đã đợc dự đoán từ lâu. Về logic, xu hớng
này bắt nguồn từ bản chất của hệ thống kinh tế thị trờng là hệ thống mở
không bị giới hạn bởi các đờng biên giới quốc gia. Đây là kết quả của quá
trình phân công lao động quốc tế, đợc đẩy nhanh trong mấy thập niên thập
niên gần đây. Phân công lao động quốc tế đã đạt đến trình độ, không chỉ
chuyên môn hoá chi tiết sản phẩm cho nhà máy, từng vùng mà còn đến từng
quốc gia, khu vực. Trên cơ sở đó, xuất hiện hình thái quan hệ hợp tác, ràng
buộc và phụ thuộc lẫn nhau trong phân công lao động giữa các nớc trong khu
vực và trên thế giới.
Hiện nay, sản xuất của một nớc phụ thuộc rất nhiều vào lao động của
một nớc khác, bất kể nớc đó phát triển hay kém phát triển. Không còn tình
trạng, chỉ có nớc nhỏ, nớc kém phát triển phụ thuộc một chiều, phụ thuộc
tuyệt đối vào các nớc lớn, nớc phát triển mà đã xuất hiện và gia tăng xu hớng
ngợc lại: các nớc lớn, nớc phát triển cũng phụ thuộc vào nớc nhỏ, nớc lạc hậu.
Quá trình toàn cầu hoá, đã thúc đẩy nền kinh tế thế giới phát triển theo
một chiều hớng mới. Với lực lợng sản xuất phát triển nh vũ bão cha từng có,
trên cơ sở của nền công nghệ mới hiện đại đợc thể hiện ở một số mặt sau:
Thứ nhất, có thể nói, xu hớng toàn cầu hoá các hoạt động kinh tế là
nhân tố đầu tiên tác động đến việc thiết lập các chiến lợc kinh tế đối ngoại của
các nớc. Nhằm thích ứng với một môi trờng kinh tế quốc tế mới, đã và đang
thay đổi. Mục tiêu cuối cùng của các nhà kinh doanh là lợi nhuận, thị phần và
những ảnh hởng quốc tế ngày càng sâu rộng của mình tới thị trờng các nớc.

mẽ và sâu sắc hơn.
Nh vậy toàn cầu hoá là một xu hớng khách quan và xu hớng này đang
trong quá trình vận động không ngừng, tạo những cơ hội và cả những thách
thức cho tất cả các quốc gia. Vì vậy, các quốc gia cần phải biết khai thác
những u thế và hạn chế những thách thức của toàn cầu hoá kinh tế quốc tế, từ
Phạm Quang Ninh - K45 - KTĐN
-5-
Khoá Luận tốt nghiệp
đó tạo ra cơ hội để tham gia ngày càng có hiệu quả hơn vào quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế.
Cùng với quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá cũng đang diễn ra đặc
biệt mạnh mẽ. Xu hớng tự do hoá thơng mại và đầu t đợc thúc đẩy bởi sự gia
tăng mạnh mẽ các hoạt động của các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực hiện
có cũng nh đang hình thành. Các khối, tổ chức kinh tế ngày càng đóng vai trò
quan trọng trong những cuộc thơng lợng, sắp xếp và giải quyết các vấn đề khu
vực và quốc tế, đặc biệt là trong việc thúc đẩy tự do hoá thơng mại và giao lu
kinh tế quốc tế. Bất kỳ một nớc nào muốn phát triển đợc trong tơng lai thì đều
phải tìm cách trở thành thành viên của ít nhất một trong những tổ chức kiểu
nh vậy. Quá trình toàn cầu hoá đã dẫn đến việc hình thành các khối kinh tế
mậu dịch tự do trong khu vực. Hiện nay, nền kinh tế thế giới có rất nhiều khối
liên minh, liên kết kinh tế hoặc mậu dịch tự do. Ví dụ nh, liên minh Châu Âu
(EU): đợc coi là một tổ chức liên kết khu vực rất điển hình, đờng biên giới
giữa các quốc gia đã bị xóa bỏ không còn hàng rào thuế quan. Mặc dù tiến
trình này, diễn ra không hoàn toàn suôn sẻ nh mong muốn, song việc hình
thành một thị trờng thống nhất đang ngày đợc hoàn thiện hơn. Mục tiêu của
toàn cầu hoá kinh tế đó là, lu thông tự do hàng hoá; các yếu tố - công nghệ
sản xuất cả những kinh nghiệm, kỹ năng quản lý trên phạm vi toàn cầu. Nh -
ng trong tơng lai gần, mục tiêu này cha thể thực hiện đợc. Chính vì vậy, việc
từng nhóm nớc liên kết lại với nhau, cùng đa ra những u đãi cho nhau cao hơn
những u huệ quốc tế hiện hành nh: loại bỏ những hàng rào ngăn cách, lu

của APEC. Do đó, các quan hệ kinh tế song phơng giữa hai nớc cũng chịu sự
ràng buộc, chi phối của những nguyên tắc mà tổ chức này đã đề ra.
Cùng với APEC, tổ chức kinh tế khu vực thứ hai có vai trò quan trọng,
ảnh hởng trực tiếp đến các quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam và Nhật
Bản là hiệp hội các nớc Đông Nam á (ASEAN).
ASEAN đợc thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967, lúc đầu thành lập mới
có 5 nớc thành viên. Hiện nay, đã phát triển và mở rộng ra toàn bộ các nớc
Đông Nam á. Bao gồm 11 nớc, trong đó có Việt Nam. Ngay trong ngày đầu
thành lập, ASEAN đã long trọng tuyên bố mục tiêu hàng đầu của hiệp hội là:
Phạm Quang Ninh - K45 - KTĐN
-7-
Khoá Luận tốt nghiệp
thúc đẩy sự tăng trởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong
khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng, hợp tác nhằm
tăng cờng cơ sở vật chất cho một cộng đồng các nớc Đông Nam á hoà bình,
hợp tác và thịnh vợng. Kể từ đó cho đến nay, các nớc này luôn coi hợp tác
kinh tế là một trong những nội dung chủ yếu trong các hoạt động của mình.
Là một nớc thành viên của ASEAN, các quan hệ kinh tế của Việt Nam với
Nhật Bản, nhất là trong quan hệ của ASEAN cộng 3 gồm (Trung Quốc; Nhật
Bản; Hàn Quốc) vừa chịu sự chi phối của những nguyên tắc chung trong hợp
tác kinh tế của hiệp hội với các nớc trong khu vực và các khu vực khác, vừa
nằm trong bối cảnh chung quốc tế, chịu sự chi phối của các chính sách kinh tế
đối ngoại của Nhật Bản với các nớc trong khu vực này.
Mặc dù có sự thành công không giống nhau, song thực tiễn hoạt động
của các hình thức liên kết khu vực nh trên cho thấy, quá trình khu vực hoá
giúp các quốc gia trong khu vực có cùng những điều kiện nhất định hỗ trợ
nhau cùng phát triển, tạo ra lợi thế cạnh tranh chung (lợi thế so sánh khu vực)
trên pham vi toàn cầu. Đồng thời, tạo điều kiện để có đợc quan hệ giao lu kinh
tế phát triển rộng rãi, không chỉ giữa các quốc gia trong khu vực với nhau mà
giữa khu vực với khu vực và giữa các quốc gia trong khu vực với các quốc gia

định chính sách kinh tế Nhật Bản đã xây dựng chiến lợc kinh tế, với mục tiêu
vơn lên trở thành một cờng quốc cả về kinh tế lẫn chính trị.
Mục tiêu của Nhật Bản trong những năm tiếp tới đây là, vơn lên vị trí
trở thành một cờng quốc chính trị, kinh tế. Mục tiêu này đợc thể hiện rất rõ
trong chiến lợc kinh tế nói chung và trong chiến lợc kinh tế đối ngoại nói
riêng của Nhật Bản. Nhật Bản từng bớc giảm dần sự phụ thuộc vào Mỹ, vơn
lên vị trí ngang hàng với Mỹ (Nhật Bản có thể trả lời không trong đàm phán
với Mỹ). Để thực hiện đợc chiến lợc đó, Nhật Bản ra sức phát triển quan hệ
với các khu vực kinh tế thông qua hoạt động thơng mại, đầu t trực tiếp và các
khoản viện trợ cho các nớc. Bên cạnh đó, trớc sự tăng trởng kinh tế mạnh mẽ
của các quốc gia khu vực Châu á trong vài thập kỷ qua và với những lợi thế
gần gũi về mặt địa lý, văn hoá xã hội, Nhật Bản đã xây dựng đợc mối quan hệ
Phạm Quang Ninh - K45 - KTĐN
-9-
Khoá Luận tốt nghiệp
tốt đẹp với các nớc. Họ đã có một chiến lợc kinh tế đối với các khu vực Châu
á. Đây đợc coi là chiến lợc trọng tâm để phát triển chiến lợc kinh tế đối ngoại
của Chính phủ Nhật Bản trong thời gian tới.
Thay đổi chiến lợc của Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh lạnh là, chú
trọng vào khu vực Châu á - Thái Bình Dơng, phát triển các quan hệ phụ thuộc
lẫn nhau cùng nhau phát triển trong khu vực; phát huy vai trò toàn diện của
các tổ chức hợp tác khu vực. Hợp tác với các tổ chức quốc tế nh Liên Hợp
Quốc và tổ chức mậu dịch thế giới... Điều này, thể hiện trong chính sách áp
dụng vào Châu á của Nhật Bản, nhằm phát huy tối đa vai trò của mình ở
Châu á và sử dụng Châu á làm căn cứ để Nhật Bản vơn lên trở thành một c-
ờng quốc. Nhật Bản tranh thủ sự phát triển kinh tế của ở Đông á để đối phó
với những chính sách bảo hộ mậu dịch của Mỹ và bảo vệ lợi ích của Nhật Bản
ở Châu á - Thái Bình Dơng bằng các cơ chế kinh tế. đồng thời đóng vai trò
chủ đạo trong công cuộc xây dựng trật tự mới ở Châu á. Thông qua cuộc họp
thợng đỉnh APEC ở Seattle, Nhật Bản cảm thấy Mỹ đang chuyển chính sách

* Ngoài ra, sự tác động xu hớng toàn cầu hoá và khu vực hoá đợc coi là
yếu tố quan trọng thúc đẩy sự thay đổi trong chính sách đối ngoại, đẩy mạnh
bành chớng kinh tế ra bên ngoài của Nhật trong những năm 1990, đặc biệt là
vào các nớc ở khu vựoc Châu á.
* Sau chiến tranh lạnh, Nhật Bản nhận thức đợc rằng, tình hình phát
triển ở khu vực Châu á sẽ tiến triển theo chiều hớng tích cực. ở đó, ngời ta
tìm thấy sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia, nhằm tận dụng những lợi thế
so sánh để tiếp tục duy trì sự phát triển đó cũng là giải pháp tốt để các quốc
gia trong khu vực này vợt qua, khắc phục đợc cuộc khủng hoảng kinh tế trong
khu vực. Dờng nh, các đối tác đều nhận thức đợc tầm quan trọng của mối liên
kết toàn diện. sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế và an ninh ngày càng phát
triển, bất chấp sự khác biệt về chế độ chính trị. Đây là nét mới về chất trong
Phạm Quang Ninh - K45 - KTĐN
-11-
Khoá Luận tốt nghiệp
quan hệ kinh tế quốc tế và khu vực những năm đầu thập kỷ 90. Nếu trớc đây,
sự khác biệt về chế độ chính trị là một trở ngại trong việc xác lập các quan hệ
quốc tế, tin cậy lẫn nhau mà ngời ta cố gắng vợt lên, song đã không thành
công thì ngày nay tình hình đã đổi khác.
Chính bối cảnh này, tình hình khu vực đã tạo tiền đề cho Nhật Bản thực
thi tốt chính sách mở rộng hợp tác kinh tế, chính trị và văn hoá với các nớc
ASEAN, trong đó có Việt Nam.
Trên cơ sở đó có thể thấy rằng, vào đầu thập kỷ 90, quan hệ hai nớc
Việt Nam - Nhật Bản đã phát triển nhanh chóng cả về bề rộng lẫn chiều sâu.
tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển ổn định trong thế kỷ XXI. Trong giai
đoạn quá độ của quá trình toàn cầu hoá, việc cơ cấu lại tơng quan lực lợng
trong khu vực và trên thế giới, làm cho quan hệ Việt Nhật có điều kiện
phát triển thuận lợi hơn so với các nớc khác, do hai nớc có những lợi ích tơng
đồng là cùng ở Châu á; cùng có nhu cầu hoà bình và ổn định để phát triển; có
tiềm năng kinh tế cần bổ sung cho nhau và cần có sự ủng hộ lẫn nhau trong

cả về kinh tế và xã hội. Thời kỳ từ năm 1991 1995, GDP tăng bình quân
hằng năm xấp xỉ 8,2 %; thời kỳ từ năm 1996 2000, mặc dù chịu ảnh hởng
bất lợi của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực nhng mức tăng trởng GBP vẫn
đạt mức bình quân xấp xỉ 7 %. Nhờ vậy, tổng thu nhập trong 10 năm đã qua
tăng hơn 2 lần, cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển tích cực theo hớng CNH
HĐH (công nghiệp hoá - hiện đại hoá), tạo tiền đề cho những thay đổi sâu
sắc cho nền kinh tế Việt Nam phát triển và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Với phơng châm muốn làm bạn với tất cả các nớc, Việt Nam đã thực
hiện một chính sách đối ngoại rộng mở. Tính đến nay, Việt Nam đã là thành
viên chính thức của hai tổ chức kinh tế khu vực là ASEAN, APEC và đang
tích cực chuẩn bị gia nhập WTO. Ngoài ra, Việt Nam có quan hệ thơng mại
với gần 170 nớc và vùng lãnh thổ, ký hiệp ớc thơng mại với hơn 60 nớc và
nhận đợc u đãi tối huệ quốc của 68 nớc.
Nhật Bản, với t cách là một nớc có tiềm năng về kinh tế, có vai trò ổn
định và hỗ trợ phát triển trong khu vực đã trở thành một đối tác đang là h -
Phạm Quang Ninh - K45 - KTĐN
-13-
Khoá Luận tốt nghiệp
ớng u tiên để Việt Nam thiết lập quan hệ lâu dài. điều này, không chỉ nhằm
mục đích duy trì môi trờng ổn định xung quanh, mà Việt Nam còn mong
muốn nhận đợc sự giúp đỡ từ phía Nhật Bản. Hơn thế nữa, Nhật Bản cũng đã
bắt đầu thể hiện vai trò của mình bằng các sáng kiến trong hành động cụ thể
của mình, đặc biệt trong quan hệ với các nớc Đông Nam á. Vì thế, những
thắc mắc trở ngại trong quan hệ giũa hai nớc dễ dàng đợc tháo gỡ, nhanh
chóng tìm kiếm các biện pháp để thúc đẩy các mối quan hệ ảnh hởng này. Khi
Việt Nam mở cửa hội nhập, chính thức trở thành viên chính thức của Hiệp hội
các nớc Đông Nam á (ASEAN). cũng nh trong quan hệ với Việt Nam chắc
chắn Nhật Bản sẽ có điều kiện mở rộng ảnh hởng của mình. Điều này, không
chỉ tạo ra sự cân bằng trong quan hệ với các nớc, mà còn là dấu hiệu về tính
chủ động và độc lập trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản nhằm nâng cao

những khó khăn lớn nh:
+ Thiếu hụt vốn.
+ Thiếu công nghệ hiện đại.
+ Thiếu kinh nghiệm quản lý cả về vĩ mô cũng nh là vi mô.
+ Sự cách biệt thu nhập ngày càng gia tăng tạo nên hố ngăn cách, phân
hoá giữa giầu và nghèo. Những tiêu cực trong phát triển nền kinh tế thị trờng
nh: tham nhũng, buôn lậu và sự sa sút môi trờng
Những khó khăn trên đây, không thể vợt qua đợc nếu chỉ dựa vào
những nỗ lực của bản thân Chính phủ và nhân dân Việt Nam. Thực hiện chính
sách đối ngoại theo hớng đổi mới, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hữu nghị với
tất cả các nớc trong khu vực, lần đầu tiên trong lịch sử có quan hệ ngoại giao
với tất cả các nớc t bản lớn. Việt Nam cũng có quan hệ thân thiện với các nớc
Tây Bắc âu; duy trì quan hệ truyền thống với các nớc Đông Âu và các quốc
gia thuộc Liên Xô cũ; có uy tín trong các nớc đang phát triển và phong trào
không liên kết. Vai trò và uy tín quốc tế của Việt Nam sẽ tăng lên gấp bội,
Phạm Quang Ninh - K45 - KTĐN
-15-
Khoá Luận tốt nghiệp
khi Việt Nam đủ điều kiện cất cánh về kinh tế. Với điều kiện địa lý tự nhiên
thuận lợi, cộng với sự tơng đồng về văn hoá, phong tục tập quán giữa hai dân
tộc Việt Nam Nhật Bản tạo thêm nhiều thuận lợi để phát triển mối quan hệ
kinh tế thơng mại ngày càng tốt đẹp hơn, mang lại nhiều lợi ích hơn nữa
cho cả hai bên. Nhận thức đợc điều này, trong những năm qua, với sự cố gắng
nỗ lực của cả hai bên đã làm cho quan hệ giữa hai nớc đã đợc thiết lập và
mang lại những thành công đáng kể cho cả hai bên.
Trớc hết đối với Việt Nam, việc phát triển quan hệ kinh tế thơng mại sẽ
đem lại nhiều thuận lợi cho quốc gia trong lĩnh vực ngoại thơng. Nhật Bản, có
một thị trờng tiêu thụ rộng lớn cho các sản phẩm của Việt Nam nh: dầu thô,
hàng dệt may, giầy dép da, than, Cafe và các hàng nông sản khác. Nhờ
đó, tích luỹ đợc một nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nớc, góp phần đáng kể

lạc hậu, h hỏng và xuống cấp nghiêm trọng. với các dự án xây dựng, tu sửa đ-
ờng xá, cẩu cống, xây dựng hệ thống thông tin liện lạc, khai thác nguồn năng
lợng làm thay đổi bộ mặt của đất n ớc, đồng thời làm tăng sức hấp dẫn đối
với các nhà đầu t nớc ngoài.
Trong quan hệ kinh tế thơng mại giữa Việt Nam Nhật bản, không
chỉ mang lại nhiều thuận lợi cho Việt Nam mà về phía Nhật Bản cũng có
nhiều lợi ích, góp phần vào mục tiêu kinh tế chính trị của họ. Về mặt kinh
tế, Việt Nam là một thị trờng rộng lớn của các doanh nghiệp Nhật Bản, đặc
biệt là các mặt hàng nh đồ điện tử, điện lạnh. xe máy, ô tô .
Ngoài ra, Việt Nam còn là một quốc gia có nguồn tài nguyên tơng đối
đa dạng và phong phú. Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới, thuận lợi cho việc
phát triển nông nghiệp và các cây công nghiệp. Bờ biển từ Bắc xuống Nam
của Việt Nam chuyển hớng, uốn khúc theo hình chữ S, kéo dài trên 15 vĩ
độ. Bờ biển dài trên 3000 km là điểm thuận lợi để Việt Nam phát triển các
ngành thuỷ hải sản, cảng biển vận tải biển, du lịch, giao thông. Bên cạnh đó,
vùng Biển Việt Nam có thềm lục địa mở rộng hứa hẹn nhiều tài nguyên
khoáng sản đặc biệt là các kim loại quí hiếm và dầu mỏ. Mặt khác, cùng với
sự gia tăng đầu t sang Việt Nam, một thị trờng lao động rẻ, trẻ, có trình độ
văn hoá khá các doanh nghiệp Nhật Bản cũng tiết kiệm đợc chi phí sản
Phạm Quang Ninh - K45 - KTĐN
-17-
Khoá Luận tốt nghiệp
xuất, cạnh tranh tốt hơn trong xuất khẩu, gia tăng hiệu quả của nền sản xuất
nói chung.
Ngoài những lợi ích về kinh tế, Nhật Bản còn đạt đợc những mục tiêu
chính trị của mình. Có thể nhận thấy rằng, từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN
vào năm 1995, bình thờng hoá quan hệ với Mỹ, đợc xét kết nạp vào diễn đàn
APEC, cùng với những hoạt động tại liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế
khác, tiếng nói của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế và khu vực đợc các n-
ớc khác coi trọng. Với uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng tăng, quan hệ

tác động đến chiến lợc an ninh của Nhật Bản. Nhật Bản muốn bảo vệ đợc vận
tải biển qua biển Đông, cũng nh bảo đảm an ninh ở phía Tây Nam thì, không
thể không tính tới nhân tố này. An ninh kinh tế cũng nh an ninh quốc phòng
của Nhật Bản phụ thuộc nhiều vào khu vực biển Đông, nơi mà Việt Nam là
một trong những đối tác chính.
Phạm Quang Ninh - K45 - KTĐN
-19-
Khoá Luận tốt nghiệp
Ch ơng 2
Thực trạng quan hệ thơng mại việt nam -
nhật bản từ năm 1992 đến nay
Sau hơn 30 năm (1973 2004) thiết lập quan hệ ngoại giao chính
thức, quan hệ kinh tế thơng mại giữa Việt Nam - Nhật Bản trong mối quan hệ
mới không ngừng đợc củng cố và hoàn thiện. Trên cơ sở lợi ích riêng của hai
nớc, mặc dù có sự khác biệt về chính trị, nhng hai nớc đã có nhiều cố gắng
duy trì và phát triển mối quan hệ này. Đặc biệt từ năm 1992 đến nay, do đã
có các bớc tiến triển khả quan với nhiều sự kiện lớn trong quan hệ chính trị,
ngoại giao, kinh tế giữa hai nớc khiến cho các hoạt động xuất nhập khẩu đã
diễn ra với tốc độ và quy mô ngày càng mạnh mẽ, sôi động hơn hẳn so với
giai đoạn từ năm 1986 đến 1991. Trớc khi đề cập đến quan hệ giữa hai bên từ
năm 1992 đến nay, chúng ta cần có cái nhìn tổng quan nhất về động thái phát
triển kinh tế thơng mại giữa hai nớc giai đoạn trớc năm 1992.
2.1 Sự tiến triển của quan hệ thơng mại giữa Việt Nam Nhật Bản
từ năm 1973 đến năm 1991
Sau khi hiệp định Pari, về việc chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam đ-
ợc ký kết, ngày 21/9/1973 Việt Nam và Nhật Bản đã chính thức thiết lập quan
hệ ngoại giao giữa hai nớc. Hai năm sau, vào tháng 10 năm 1975, cả hai bên
đã cùng mở đại sứ quán ở thủ đô của nhau. đã mở ra, một thời kỳ mới trong
quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nớc. cũng từ đó, quan hệ hai nớc bớc sang
một trang mới.

Nguồn: Nguyễn Trần Quế - Kinh tế đối ngoại Việt Nam thực tiễn
và chính sách. Viện kinh tế thế giới, Hà Nội, 1992
Trong ba năm liền từ năm 1976 - 1978, quan hệ mậu dịch của hai nớc
tiếp tục phát triển, với tổng kim ngạch hàng năm tơng ứng khoảng 159 triệu
USD, 247 triệu USD và 268 triệu USD. Nh vậy, có sự gia tăng quá nhanh về
quy mô và giá trị.
Bớc sang năm 1979, do nhiều yếu tố phi kinh tế tác động nên mậu dịch
song phơng của hai nớc có sự giảm sút. Kim ngạch xuất khẩu chỉ còn 50 triệu
USD, nhiều hợp đồng làm ăn bị hoãn lại. Lý do cơ bản là vì các năm này,
Nhật bản không vợt ra khỏi áp lực chính trị vì ảnh hởng d luận phản đối của
các nớc t bản chủ nghĩa trên thế giới mà đứng đầu không phải ai khác là Mỹ.
Phạm Quang Ninh - K45 - KTĐN
-21-
Khoá Luận tốt nghiệp
Về thực trạng diễn biến quân sự, chính trị giữa Việt Nam và Trung Quốc qua
cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, cuộc dẹp bỏ chế độ Pôn-Pốt của Việt
Nam ở Campuchia phía Tây Nam, cộng thêm một số vấn đề khác nữa đã
dẫn đến quyết định tối cao của Bộ ngoại giao Nhật Bản ngày 8/1/1987, là sẽ
hoãn viện trợ cho Việt Nam cho đến khi nào các vấn đề trên đợc giải quyết ổn
thoả. Tuy nhiên, Nhật Bản chỉ đình chỉ mọi cuộc tiếp xúc ngoại giao hoặc tài
trợ nhân đạo. Nói cách khác, đồng thời với việc đình chỉ tài trợ kinh tế, Nhật
Bản vẫn tiếp tục duy trì sự giúp đỡ nhân đạo cho việt Nam trong suốt thời
gian từ năm 1979 đến trớc khi nối lại tài trợ ODA toàn diện cho Việt Nam
năm 1992.
Bảng 3: Tài trợ của Nhật Bản và các nớc thuộc tổ chức DAC cho
Việt Nam thời kỳ 1979 1991
(đơn vị: triệu đô la Mỹ)
Năm Từ Nhật Bản Từ DAC Năm Từ Nhật Bản Từ DAC
1979 38,7 229,6 1986 1,5 54,2
1980 3,7 158,4 1987 0,3 90,0

1976 39.906 8.795 158.701
1977 71.848 174.669 246.517
1978 50.834 216.820 267.654
1979 48.228 117.734 165.692
1980 48.627 113.090 161.717
1981 37.334 109.449 146.793
1982 36.018 92.339 128.357
1983 37.625 119.221 156.846
1984 51.206 119.221 170.224
1985 65.027 148.036 213.863
1986 82.923 189.187 272.110
Nguồn; Bộ công nghiệp và mậu dịch quốc tế Nhật Bản
(Ghi chú: Từ năm 1973 1975, chỉ tính kim ngạch buôn bán với Bắc Việt Nam)
Giữa những năm 1980, nớc ta rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm
trọng do lạm phát ba con số (lạm phát phi mã) gây nên. đời sống của nhân
dân rất khó khăn. Bên cạnh đó, Mỹ lại thực hiện chính sách bao vây, cấm vận,
ngừng viện trợ và đầu t, kể cả các khoản đã cam kết với chính phủ Việt Nam.
Trớc tình hình đó năm 1986, nớc ta đã thực hiện một bớc chuyển đổi cơ bản,
từ chỗ nền kinh tế đóng sang mở cửa nền kinh tế. Việc chuyển đổi này, đã
giúp Việt Nam gặt hái đợc nhiều thành công trong thơng mại quốc tế. Đợc sự
ủng hộ và quan tâm hợp tác phát triển kinh tế của nhiều quốc gia, trong đó có
Nhật Bản. chỉ riêng trong lĩnh vực ngoại thơng, các hoạt động xuất nhập khẩu
đều có sự tăng trởng và phát triển khả quan. Thực tiễn phát triển đã cho thấy,
kể từ năm 1989 trở đi, cùng với các sự kiện Việt Nam rút hết quân ra khỏi
Campuchia, hoà bình dợc thiết lập lại ở Đông Dơng. Kinh tế xã hội Việt
Phạm Quang Ninh - K45 - KTĐN
-23-
Khoá Luận tốt nghiệp
Nam sau một số năm thực hiện đổi mới, đã ngày càng ổn định hơn tạo ra
những tiền đề kinh tế - chính trị cần thiết đó, cũng là những động lực thúc đẩy

Nhật đợc tái lập lại và thúc đẩy mạnh hơn.
- Nếu chúng ta coi bối cảnh quốc tế và khu vực là yếu tố tác động bề
ngoài, thì yếu tố Việt Nam sự tiếp tục đổi mới kinh tế, những lợi thế và
nhu cầu lợi ích là những yếu tố bên trong quan trọng thúc đẩy sự tái lập
và phát triển quan hệ kinh tế với Nhật Bản. Cả hai yếu tố này đều không thế
thiếu, trong việc tạo ra cơ sở để cho quan hệ giữa Việt Nhật đợc phát triển.
- Yếu tố Nhật Bản, cũng là yếu tố bên trong không kém phần quan
trọng trong việc thúc đẩy quan hệ của hai nớc. Nói khác đi, chính tiếm lực
kinh tế, chính sách kinh tế đối ngoại hớng về Châu á và lợi ích của Nhật Bản
trong quan hệ với Việt Nam đã tạo ra cơ sở cho quan hệ song phơng Việt Nam
Nhật Bản đợc phát triển.
Phạm Quang Ninh - K45 - KTĐN
-25-

Trích đoạn Đánh giá quan hệ thơng mại Việt Nam Nhật Bản Những định hớng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thơng mại giữa Việt Nam Nhật Bản Triển vọng mối quan hệ thơng mại Việt Nam Nhật Bản – Những giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa Việt Nam Nhật Bản.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status