Báo cáo tham luận sơ kết học kỳ của Hiệu trưởng - Pdf 15

BÁO CÁO THAM LUẬN
Kính thưa: - Quý lãnh đạo Đảng - Chính quyền và quý lãnh đạo ngành các cấp.
- Quý vò đại biểu, cùng toàn thể các thầy cô giáo.
Trước tiên tôi xin có lời cám ơn Ban Tổ Chức. Mặc dù trường của chúng tôi là một
trường nhỏ, cách xa trung tâm Xã, Huyện, về thành tích so với các trường khác trong
Huyện thì trường chúng tôi còn phải cố gắng nhiều. Nhưng chung tôi rất vinh hạnh được
Ban Tổ Chức cho phép có bài báo cáo tham luận nhân hội nghò sơ kết năm học hôm nay.
Kính thưa hội nghò ! tôi xin phép được báo cáo 2 vấn đề:
Vấn đề 1: Báo cáo về tình hình thực hiện đổi mới chương trình giáo dục - phổ thông (GD-
PT) ở trường và những thành quả đạt được.
Vấn đề 2: Báo cáo về tình hình thực hiện phổ cập THCS năm 2004.
Kính thưa hội nghò !
Ngày 11/06/2001 Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thò số: 14/2001/CT.TTg về việc
đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo Nghò quyết số: 40/2000/QH10 của Quốc hội.
Nắm rõ thông tư số: 14 năm 2002 của Bộ GD-ĐT, chỉ thò số: 11 của UBND tỉnh Bạc Liêu
và các văn bản chỉ đạo khác của UBND huyện, Phòng GD-ĐT huyện Đông Hải, về việc
đổi mới chương trình giáo dục phổ thông trong trường học.
Đổi mới CT GD PT là đổi mới về chương trình, SGK, phương pháp dạy và học. Đổi mới
về cơ bản phương pháp đánh giá, thi cử, đổi mới đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GV; đổi
mới công tác quản lý giáo dục, nâng cấp cơ sở vật chất của nhà trường theo hướng chuẩn
hoá, đảm bảo thiết bò và ĐDDH. Với lượng thời gian không nhiều, tôi xin phép chỉ báo cáo
2 nội dung trong việc đổi mới CT GD PT mà trường chúng tôi đã thực hiện và thấy từng
bước có sự chuyển biến và phát triển tốt. Đó là: Việc tăng cường về CSVC, trang thiết bò,
ĐDDH và sự phát triển của đội ngũ GV.
Việc tổ chức triển khai học đại trà chương trình thay SGK, đổi mới phương pháp dạy học
được Tỉnh ta thực hiện từ năm học: 2002 - 2003 đến nay. Trước năm học này, nhìn lại khi
trường mới thành lập ( năm 1996): về CSVC trường chỉ có 02 phòng học cây dầu lợp tol
vách lá, 01 phòng làm việc và cũng là nơi sinh hoạt, nghó ngơi của CB-GV trường. Với
tổng số 05 lớp, để đảm bảùo cho việc dạy và học, trường phải mượn tạm phòng học ở
trường tiểu học kế bên và sắp xếp dạy 3 ca/ ngày. Về trang thiết bò và ĐDDH để phục vụ
cho công tác giảng dạy, nói chung là thiếu thốn rất nhiều nên việc dạy "chay", học "chay"

hơn, góp phần nâng cao chất lượng GD-ĐT cho trường.
* Về thiết bò và ĐDDH: ngoài việc được ngành đầu tư, trường còn được dự án Phát Triển
THCS trang bò thêm các trang thiết bò và ĐDDH cụ thể như:
- Cung cấp các phương tiện nghe nhìn như: máy Casset, ti vi, đầu đóa, hệ thống máy vi
tính gồm 09 máy. Các dụng cụ thực hành - thí nghiệm, mô hình, tranh ảnh, bản đồ, SGK,
sách tham khảo và các loại sách báo khác được cung cấp từ khối 6 đến khối 8 đầy đủ.
- Mặc dù có khó khăn về phòng óc để quản lý, trưng bày và sử dụng. Chúng tôi cố gắng
sắp xếp 03 phòng ( 01 phòng đựng thiết bò, 01 phòng thực hành - thí nghiệm, 01 phòng vi
tính), mỗi phòng đều có bố trí GV trong coi, quản lý theo dõi ghi chép cập nhật hàng ngày
việc sử dụng và bảo quản của GV.
- Với số máy vi tính được cấp về ( ngày 23/12/2004) , chúng tôi có gặp khó khăn về bàn
ghế và phòng học vi tính. Không để lãng phí về thời gian và tiền của mà cấp trên đầu tư
chúng tôi mạnh dạng xin ý kiến với lãnh đạo PGD và tham mưu với hội PHHS để xin nâng
cấp, sửa chữa phòng học lại thành phòng vi tính, bàn ghế chuyên dụng học vi tính chưa có
chúng tôi tạm mượn bàn ghế HS để kê máy, sắp xếp gọn gàng cho các em học. Cho đến
nay chúng tôi đã mở được 02 lớp học vi tính, 01 lớp mở cho đối tượng HS lớp 9 học nghề
gồm 50 em HS, 01 lớp tin học chứng chỉ A mở cho đối tượng là CB-GV-NV của trường và
các trường TH lân cận gồm 18 thầy cô.
- Việc sử dụng và bảo quản thiết bò -ĐDDH: đầu năm chúng tôi tổ chức cho các tổ trưởng
và GV bộ môn kết hợp với GV quản lý thiết bò để kiểm tra sắp xếp, lau chùi bảo quản các
trang thiết bò, dụng cụ thực hành thí nghiệm và ĐDDH. Mục đích nhằm giúp cho GV biết
được trong kho có phương tiện nào, khi dạy biết mà sử dụng. Chúng tôi chỉ đạo cho tổ
chuyên môn căn cứ danh mục của thiết bò và ĐDDH, phân phối chương trình ở từng bài để
lập bảng thống kê các bài, các tiết có ĐDDH hoặc có thực hành thí nghiệm. Trên cơ sở đó
hàng tuần tổ chuyên môn hoặc BGH tổ chức kiểm tra và tiện theo dõi nhắc nhở. Hàng
tháng có cơ sở đánh giá, chấm điểm xếp loại thi đua GV.
* Về tình hình đội ngũ CB-GV -NV trường: tổng số gồm: 26/13 nữ. Trình độ CM đạt chuẩn
và trên chuẩn: 21/26 chiếm 88,5%. Số lượng, chất lượng đội ngũ tăng và tiến bộ theo từng
năm. Trong những năm học trước các bộ môn Nhạc, Hoạ, TD, Công nghệ không có GV
chuyên ngành giảng dạy nên chất lượng đạt không cao và không thu hút HS. Cho đến năm

GD - ĐT quan tâm hổ trợ cho người dạy và người học, cho việc tổ chức đưa HS đi thi tốt
nghiệp
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, trong thời gian thực hiện nhiệm vụ về công tác phổ
cập, trường chúng tôi cũng gặp không ít khó khăn như:
- Còn một số ít cán bộ và ban ngành đoàn thể ấp chưa thực sự quan tâm đến công tác PC -
GD của ấp mình. Phần lớn phó thác cho nhà trường từ khâu tổ chức điều tra đến khâu vận
động HS ra lớp.
- Giữa BGH nhà trường cùng với đòa phương ấp chưa có sự thống nhất và chưa có sự chủ
động phối kết hợp để thực hiện nhiệm vụ. Khi thực hiện còn mang tính đơn phương riêng
lẽ dẫn đến hiệu quả chưa cao.
- Ý thức của người dân về công tác xã hội hoá GD chưa cao. Phần lớn khoán trắng cho nhà
trường trong công tác giảng dạy và GD con em của mình. Đôi khi cũng gây áp lực khó
khăn cho trường trong công tác thu học phí - xây dựng.
- Việc huy động HS ra lớp học cũng gặp khó khăn. Số đối tượng cần huy động đa số là con
nhà nghèo và là lao động chính trong gia đình, một số đi làm xa, đã lập gia đình nên
việc sắp xếp thời gian và đòa điểm học rất khó khăn(chúng tôi phải bố trí dạy ba nơi: trung
tâm ấp Phước Điền, mượn phòng học ở tiểu học tại ấp Châu Điền và ở Hoà Đông. Thời
gian học từ 10h 30 đến 13h 30).
Với những thuận lợi và khó khăn ấy, chúng tôi đã hợïp lại đề ra một số giải pháp khắc
phục khó khăn và phát huy những thuận lợi như sau:
1/ Tiếp tục tranh thủ sự quan tâm, chỉ đạo, sự ủng hộ của các cấp lãnh đạo, các ban ngành
đoàn thể và phát huy những thuận lợi cơ bản đã có để thực hiện tốt công tác PC THCS
trong năm 2004 này.
2/ Cần thường xuyên tổ chức cập nhật thông tin kòp thời, thông báo qua lại về tình hình
giảng dạy - giáo dục ở nhà trường và điềøu kiện, hoàn cảnh từng gia đình ở đòa phương để
đòa phương và nhà trường cùng biết, từ đó có kế hoạch phối hợp tổ chức vận động duy trì
được tốt hơn.
3/ Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
của xã, ấp. Kòp thời biểu dương những tấm gương tốt của các bậc cha mẹ có trách nhiệm
với con cái, biết quan tâm đến nền giáo dục của đòa phương. Giải quyết các chế độ ưu tiên

số HS bỏ học nhằm hoàn thành một bước của tiêu chuẩn công nhận đạt chuẩn PC THCS
và cũng là cơ sở để rà soát, đánh giá so sánh mức chuẩn PC THCS.
- Giai đoạn 2: từ ngày 01/04 đến 30/10/ 2004. " Tổ chức vận động mở lớp và duy trì só số"
+ Căn cứ kết quả điều tra vừa rồi và sự phân công đòa bàn quản lý. Chúng tôi giao chỉ tiêu
vận động và duy trì só số cho từng GV. Phân công từng tổ nhóm GV đến kết hợp với đòa
phương để vận động mở lớp.
+ Tháng 6/2004 tranh thủ những hoạt động, các chiến dòch trong hè như: " chiến dòch
ASVH hè", " Mùa hè tình nguyện" của Đoàn thanh niên tổ chức. Chúng tôi kết hợp cùng
với lực lượng thanh niên tình nguyện, sinh viên trường CĐSP BL để tổ chức vận động mở
lớp học PC ở hầu hết các ấp trong xã và đạt được kết quả rất khả quan.
+ Đầu năm học 2004 - 2005 tranh thủ ngày hội toàn dân đưa trẻ đến trường, chúng tôi đã
tổ chức tuyên truyền, vận động phát loa, gởi thông báo đến từng hộ gia đình để kêu gọi
các em còn đang học và đã nghỉ học đến trường học nhằm để củng cố lại số lượng và nâng
cao tỉ lệ đạt chuẩn.
+ Hàng tháng có tổ chức kiểm tra, đánh giá công tác PC ở trường. Kòp thời chỉ đạo cho GV
đến từng nhà HS bỏ học để tìm hiểu và vận động các em trở lại học nhằm duy trì tốt só số
HS.
- Giai đoạn 3: từ ngày 01/11 đến ngày 31/12/2004. " Tham dự thi TN PC THCS lần 2 và
hoàn thành hồ sơ đạt chuẩn PC THCS".
Trên kế hoạch đã vạch ra sau 01 năm chúng tôi thực hiện và đạt được những kết quả
như sau:
- Trước và trong chiến dòch ASVH hè trường mở được: 03 lớp PCTHCS ở 03 điểm ấp, chủ
yếu là HS lớp 09 với tổng số : 58 HS.
- Ngày 25,26/05/2004 và tháng 07/2004: dự thi TN PC THCS lấn có 34 em, đậu 34 em đạt
tỉ lệ: 100%.
- Ngày 18,19/12 /2004: dự thi TN PC THCS lần 2 có 15 em đăng ký dự thi, đậu TN 12 em,
đạt tỉ lệ: 80%.
- Tỉ lệ HS đậu TN THCS hệ phổ thông: 100%.
- Tỉ lệ bỏ học giảm dưới 3%. Không có HS lưu ban.
- Về công tác PC THCS:


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status