Ôn tập môn Ngữ văn 12(Tập 2) - Pdf 15

Rằng ĐỀ CƯƠNG ƠN TẬP Phải
Ta Làm
Đây MƠN Gì
Đã Cho
Sống NGỮ VĂN 12 Xứng
Trong Với
Trời HỌC KÌ II Non
Đất Sơng

Lê văn Thức:12C1
Trường THPT Quang Trung-Sơn Hà-Quảng Ngãi
ĐC:
PHẦN LÍ THUYẾT
VỢ NHẶT
Kim Lân
Câu 1: Nêu vài nét về tác giả Kim Lân?
- Kim Lân ( 1920-2007), tên thật là Nguyễn Văn Tài
- Q: Phù Lưu – Tân Hồng – Từ Sơn – Bắc Ninh.
- Giải thưởng HCM về văn học nghệ thuật năm 2001.
- Tác phẩm chính : “Nên vợ nên chồng”, “Con chó xấu xí”
- Kim Lân là cây bút truyện ngắn. Thế giới nghệ thuật của ơng thường là khung cảnh nơng thơn, hình tượng
người nơng dân. Đặc biệt ơng có những trang viết về phong tục và đời sống thơn q. Kim Lân là nhà văn
một lòng một dạ đi về với đất, với người với thuần hậu ngun thủy của cuộc sống nơng thơn.
Câu 2 : Nêu hồn cảnh sáng tác tác phẩm “Vợ nhặt” (Kim Lân)
Truyện ngắn “Vợ nhặt” có tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”. Tác phẩm được viết ngay sau
khi Cách mạng tháng Tám thành công nhưng còn dang dở và mất bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại
(1954) Kim Lân dựa vào một phần cốt truyện cũ và viết truyện ngắn này.
Câu 3:. Giải thích ý nghĩa nhan đề truyện “Vợ nhặt” (Kim Lân)?

- Cái đói đã bóp méo cả nhân cách con người.
- Giá trị con người bị phủ nhận khi chỉ vì cùng đường đói khát mà phải trở nên trơ trẽn, liều lĩnh.
Giá trị nhân đạo:
- Đề cao tình người, lòng nhân ái, cưu mang đùm bọc nhau, khát vọng hướng tới sự sống và hạnh phúc.
- Đặc biệt, sự cưu mang đùm bọc của những con người nghèo đói là sức mạnh để họ vượt lên cái chết.
Giá trị nghệ thuật:
Tình huống truyện khiến diễn biến phát triển dễ dàng và làm nổi bật được những cảnh đời, những
thân phận đồng thời nổi bật chủ đề tư tưởng tác phẩm.
Câu 6: Trình bày giá trị bao trùm của tác phẩm “Vợ nhặt” (Kim Lân):
- Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân khơng chỉ miêu tả tình cảm thê thảm của người nơng dân trước nạn
đói khủng khiếp năm 1945 mà còn thể hiện bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ: ngay bên bờ vực
của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khao khát hạnh phúc gia đình, u thương đùm bọc lẫn nhau.
- Nội dung nhân đạo sâu sắc và cảm động đó được thể hiện qua một tình huống truyện độc đáo, cách kể
chuyện hấp dẫn, miêu tả tâm lí khá tinh tế, dựng đối thoại sinh động.
VỢ CHỒNG A PHỦ
Tơ Hồi
2
Câu 1: Nêu vài nét về tác giả Tơ Hồi?
- Tơ Hồi tên thật là Nguyễn Sen, sinh năm 1920 tại Hà Đơng, nay là Hà Nội.
- Là nhà văn trước CMT8.
- Năm 1943 gia nhập hội văn hóa cứu quốc.
- Sở trường: Viết về lồi vật, dân tộc ít người, q hương.
- Tác phẩm tiêu biểu:
+ Trước CM: “Dế mèn phiêu lưu kí”, “O chuột”…
+ Sau CM: “Truyện Tây Bắc”, “Miền Tây”…
- Ơng được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996
Câu 2: Trình bày hồn cảnh sáng tác tác phẩm “ Vợ chồng A Phủ” của Tơ Hồi?
- “Vợ chồng A Phủ”, trích trong tập “Truyện Tây Bắc”, là kết quả chuyến đi thực tế của Tơ Hồi cùng bộ
đội vào giải phóng Tây Bắc (1952). Thời gian này nhà văn đã sống gắn bó nghĩa tình với đồng bào các dân
tộc miền núi và chính họ đã khơi nguồn cảm hứng cho nhà văn.

tả một hình ảnh có giá trị tượng trưng cho số phận bi thảm của Mị? Đó là hình ảnh nào? Cảm nhận
của anh (chị) về chi tiết nghệ thuật độc đáo đó?
- Chi tiết nghệ thuật độc đáo: “Ở buồng Mò nằm kín mít, có một chiếc cửa sổ, một lỗ vuông bằng bàn tay.
Lúc nào trông ra chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay nắng. Mò nghó rằng mình cứ ngồi trong
cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi”
- Thông qua chi tiết cái cửa sổ, Tô Hoài gợi ám ảnh về một nhà tù rùng rợn mà ở đó Mò là một tù nhân
đáng thương, có số phận bi thảm. Bố con nhà thống lí không chỉ bóc lột sức lao động, hành hạ về thể
xác mà còn hủy hoại cuộc sống tinh thần, ngăn cấm, dập tắt mọi suy nghó cũng như nguyện vọng nhỏ
nhoi của Mò. Qua nhân vật Mò, tác giả tố cáo chế độ phong kiến miền núi tàn nhẫn, vô nhân đạo, khinh
rẻ con người, đẩy con người tới kiếp ngựa trâu.
Câu 6: Nêu ngắn gọn giá trò nội dung và giá trò nghệ thuật của tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”?
- “Vợ chồng A Phủ” là câu chuyện về những người dân lao động vùng cao Tây Bắc không cam chòu
ách áp bức, bóc lột của bọn thực dân, chúa đất. Họ đã vùng lên phản kháng, tìm cuộc sống tự do.
- Tác phẩm khắc họa chân thực những nét riêng biệt về phong tục, tập quán, tính cách và tâm hồn
người các dân tộc thiểu số bằng một giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế, đượm màu sắc và phong vò dân tộc,
vừa giàu tính tạo hình vừa giàu chất thơ.
RỪNG XÀ NU
Nguyễn Trung Thành
Câu 1: Nêu vài nét về tác giả Nguyễn trung Thành?
- Tên khai sinh: Nguyễn văn Báu, sinh năm 1932, q ở Thăng Bình, Quảng Nam.
- Bút danh Ngun Ngọc dùng trong thời gian hoạt động ở chiến trường miền Nam thời chống Mĩ.
- Năm 1950, ơng vào bộ đội sau đó làm phóng viên báo qn đội nhân dân liên khu V. Năm 1962, ơng tình
nguyện trở về chiến trường miền Nam, lấy bút danh là Nguyễn Trung Thành.
- Ơng là nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp với tiểu thuyết nổi tiếng “Đất nước đứng
lên”. Ngun Ngọc là cây bút gắn bó với mảnh đất Tây Ngun, có nhiều thành tựu nhất khi viết về Tây
Ngun
- Tác phẩm: “Đất nước đứng lên, “Mạch nước ngầm”, “Trên q hương những anh hùng Điện Ngọc”
- Năm 2000, ơng được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
Câu 2: Nêu hồn cảnh sáng tác và giải thích ý nghĩa nhan đề “Rừng xà nu” - Nguyễn Trung Thành?
a. Hồn cảnh sáng tác :

Nguyễn trung Thành?
- Một trong những hình ảnh giàu tính nghệ thụât, tạo sức ám ảnh cho người đọc là hình ảnh đơi bàn tay
Tnú: Lúc nhỏ bàn tay tình nghĩa, thủy chung; lúc vượt ngục bàn tay nắm chặt tay Mai nóng bỏng u
thương; khi bị giặc bắt tra tấn, 10 ngón tay bị đốt bằng nhựa xà nu trở thành biểu tượng của sự kiên cường,
anh dũng, bất khuất.
- Đơi bàn tay mỗi ngón cụt một đốt vẫn cầm súng chiến đấu bảo vệ q hương, đất nước.
-> Đơi bàn tay là biểu tượng cho lòng kiên trung, sự gan dạ, bền bỉ và sức dẻo dai của Tnú. Đơi bàn tay là
chứng tích đau thương mà Tnú mang theo suốt cả cuộc đời.
- Cuối tác phẩm đơi bàn ấy lại xuất hiện, đã bóp chết tên chỉ huy đồn giặc ngay trong hầm cố thủ của nó.
=> Hình ảnh Tnú và bàn tay của anh là hình ảnh của Tây Ngun đau thương, bất khuất. Cuộc đời Tnú tiêu
biểu cho nỗi đau của dân làng Xơ - man, mối thù chung của Tây Ngun của đất nước cũng là mối thù của
gia đình anh.Tnú tiêu biểu cho cuộc đời và con đường đi của dân làng Xơ – man, con đường hướng về cách
mạng.
Câu 5: Nêu giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm “Rừng xà nu” ?
- “Rừng xà nu” là một thiên truyện mang ý nghĩa và vẻ đẹp của một khúc sử thi trong văn xi hiện đại.
Với lời văn chau chuốt, giàu hình ảnh, tác phẩm đã tái hiện được vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng của núi rừng,
của con người và của truyền thống văn hóa Tây Ngun.
- Thơng qua câu chuyện về những con người ở một bản làng hẻo lánh, bên những cánh rừng xà nu bạt
ngàn, xanh bất tận, Nguyễn Trung Thành đặt ra một vấn đề có ý nghĩa lớn lao của dân tộc và thời đại: Để
cho sự sống của đất nước và của nhân dân mãi mãi trường tồn, khơng có cách nào khác là phải cùng nhau
đứng lên, cầm vũ khí chống lại kẻ thù tàn ác.
Câu 6: Tìm một chi tiết nghệ thuật gây ấn tượng mạnh mẽ đối với anh (chị) và bộc lộ sâu sắc chủ đề
của truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn trung Thành?
5
- Chi tiết gây ấn tượng sâu sắc với người đọc là hình ảnh rừng xà nu hồi sinh mạnh mẽ dưới bom đạn của
kẻ thù: “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn cây xanh rờn, hình nhọn
mũi tên lao thẳng lên bầu trời”
- Hình ảnh đó gợi lên sức sống bất diệt của rừng xà nu, bất chấp sự tàn phá, hủy diệt tàn bạo của kẻ thù:
Một cây ngã xuống, bốn năm cây con tiếp tục mọc lên. Đó cũng chính là hình ảnh những thế hệ người Tây
Nguyên nối tiếp nhau trưởng thành trong chiến tranh: anh Quyết ngã xuống có Tnú thay thế, Mai ngã

đến má, nhớ đến câu chuyện má kể về cái chết của ba, nhớ cảnh má che chở cho đàn con của mình…; Lần
thứ ba, tiếng dế gáy u u đánh thức Việt, hình ảnh má vẫn còn trong đầu, Việt nhớ lại ngày hai chị em đăng
kí tòng quân với ý chí quyết tâm trả thù cho má, cảnh hai chị em khiêng chiếc bàn thờ ba – má sang gửi
chú Năm… Đến ngày thứ ba, anh Tánh dẫn tiểu đội đi tìm, mấy lần đụng nhau với địch và cuối cùng gặp
được Việt trong bụi rậm. Việt được đưa về điều trị ở một bệnh xá dã chiến.
Câu 3: Nêu giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” ( Nguyễn
Thi)?
- Truyện kể về những người con trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù
giặc, thủy chung son sắt với quê hương, cách mạng. Chính sự gắn bó sâu nặng giữa tình cảm gia đình với
6
tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn của con
người VN, dân tộc VN trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
- Tác phẩm thể hiện những đặc sắc về nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Thi: trần thuật qua dòng hồi
tưởng của nhân vật, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí sắc sảo; ngôn ngữ phong phú, góc cạnh và đậm
chất Nam Bộ.

Câu 4: Những biểu hiện của khuynh hướng sử thi qua truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”
( Nguyễn Thi)?
- Chất sử thi của thiên truyện được thể hiện qua cuốn sổ của gia đình với truyền thống yêu nước, căm thù
giặc, thủy chung son sắt với quê hương.
- Cuốn sổ là lịch sử gia đình mà qua đó thấy lịch sử của một đất nước, một dân tộc trong cuộc chiến chống
Mĩ.
- Số phận của những đứa con, những thành viên trong gia đình cũng là số phận của nhân dân miền Nam
trong cuộc kháng chiến chống Mĩ khốc liệt.
- Truyện của một gia đình dài như dòng sông còn nối tiếp: "Trăm dòng sông đổ vào một biển, con sông của
gia đình ta cũng chảy về biển, mà biển thì rộng lắm…, rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả nước ta…".
Truyện kể về một dòng sông nhưng nhà văn muốn ta nghĩ đến biển cả. Truyện về một gia đình nhưng ta lại
cảm nhận được cả một Tổ quốc đang hào hùng chiến đấu bằng sức mạnh sinh ra từ những đau thương.
- Mỗi nhân vật trong truyện đều tiêu biểu cho truyền thống, đều gánh vác trên vai trách nhiệm với gia đình,
với Tổ quốc trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại.

thuật trên đại dương cuộc sống, đơn độc của con người trong cuộc đời. Chính sự thiếu gần gũi, chia sẻ
ấy là nguyên nhân sự bế tắc và lầm lạc. Phùng đã chụp được cảnh chiếc thuyền ngoài xa trong sương
sớm – một vẻ đẹp toàn mó. Chiếc thuyền là biểu tượng của sự toàn bích mà chiêm ngưỡng nó, anh thấy
tâm hồn mình trong ngần. Nhưng khi chiếc thuyền đâm thẳûng vào bờ, chứng kiến cảnh đánh đập vợ
của người đàn ông kia, anh nhận ra rằng cái đẹp ngoài xa cũng ẩn chứa nhiều ngang trái và nghòch lí.
Nếu không lại gần anh chẳng thể phát hiện ra. Xa và gần, bên ngoài và sâu thẳm … đó cũng là cách
nhìn, tiếp cận nghệ thuật chân chính.
Câu 3:Tóm tắt truyện:
- Phùng là một nghệ sĩ, anh đến ven biển miền Trung - nơi anh đã từng chiến đấu để chụp ảnh lịch. Sau
nhiều ngày anh đã chụp được một “ cảnh đắt trời cho”: cảnh một chiếc thuyền ngồi xa đang ẩn hiện trong
biển sớm mờ sương.
- Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, anh hết sức ngạc nhiên: Từ chính trong chiếc thuyền, một gã đàn ơng vũ
phu đã đánh đập người vợ hết sức dã man, đứa con trai xơng vào đánh lại bố.
- Đẩu, bạn chiến đấu của Phùng, nay là Chánh án tòa án huyện và Phùng khun người đàn bà bỏ người
chồng vũ phu độc ác đó.
- Nhưng bất ngờ, người phụ nữ đã từ chối lời khun cùng giải pháp của Đẩu và Phùng, nhất quyết khơng
bỏ lão chồng vũ phu.
- Nhận thức mới bừng sáng trong Đẩu và Phùng sau câu chuyện. Cách nhìn bức ảnh “ chiếc thuyền ngồi
xa” của Phùng sau chuyến cơng tác.
Câu 4: Nêu giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm “Chiếc thuyền ngồi xa” - Nguyễn Minh
Châu?
- Từ câu chuyện về một bức ảnh nghệ thuật và sự thật cuộc đời sau bức ảnh, truyện ngắn “Chiếc thuyền
ngồi xa” mang đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: một cách nhìn đa
diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất sự thật sau vẻ đẹp bên ngồi của hiện tượng.
- Cách khắc họa nhân vật, xây dựng cốt truyện, sử dụng ngơn ngữ rất linh hoạt, sáng tạo đã góp phần làm
nổi bật chủ đề, tư tưởng của tác phẩm.
Câu 5: Nhận xét cách xây dựng cốt truyện độc đáo của Nguyễn Mịnh Châu trong tác phẩm “Chiếc
thuyền ngồi xa” ?
- Trong tác phẩm, đó là sự kiện Phùng chứng kiến lão đàn ơng đánh vợ một cách tàn bạo. Trước đó, anh
nhìn đời bằng con mắt của người nghệ sĩ rung động, say mê trước vẻ đẹp huyền ảo, thơ mộng của thuyền

- Đoạn trích là phần lớn cảnh VII. Đây cũng là đoạn kết của vở kịch, đúng vào lúc xung đột trung tâm của
vở kịch lên đến đỉnh điểm. Sau mấy tháng sống trong tình trạng "bên trong một đằng, bên ngồi một nẻo",
nhân vật Hồn Trương Ba ngày càng trở nên xa lạ với bạn bè, người thân trong gia đình và tự chán ghét
chính mình, muốn thốt ra khỏi nghịch cảnh trớ trêu.
Câu 3: Đoạn hội thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thòt thể hiện ý nghóa gì ?
- Với những lí lẽ, cám dỗ của nhân vật xác hàng thòt, hồn Trương Ba đã có những lúc xao động, rồi kế
đó là những nỗi dằn vặt, trăn trở về cuộc sống ngang trái của mình. Mọi thứ như nghẹn lại, đẩy hồn
Trương Ba vào bế tắc hoặc sống mà chòu sự giỡn đùa của tạo hoá hoặc chết để được là chính bản thân
mình.
- Đoạn hội thoại khẳng đònh ý nghóa của sự thống nhất giữa linh hồn và thể xác, giữa tính cách và
ngoại hình. Đây là một vấn đề có tính chất khái quát cao, bao trùm nhiều mặt của đời sống và xã hội .
Câu 4: Đoạn trích vở kòch “Hồn Trương Ba, da hàng thòt” gửi gắm thông điệp gì?
Qua đoạn trích vở kòch “Hồn Trương Ba, da hàng thòt”, Lưu Quang Vũ muốn gửi gắm tới người đọc
thông điệp: Được sống làm người quý giá thật, nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn những giá
trò mình có và đeo đuổi còn quý giá hơn nhiều. Sự sống chỉ thực sự có ý nghóa khi con người được sống
tự nhiên với sự hài hòa giữa thể xác và tâm hồn. Con người phải luôn biết đấu tranh với nghòch cảnh,
với chính bản thân, chống lại sự dung tục, để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trò tinh thần
cao quý.
NHÌN VỀ VỐN VĂN HĨA DÂN TỘC
Trần Đình Hượu
Câu 1: Nêu ngắn gọn những hiểu biết của anh (chị) về tác giả và xuất xứ đoạn trích “Nhìn về vốn văn
hóa của dân tộc”?
a. Tác giả:
9
- Trần Đình Hượu (1926- 1995) quê ở xã Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Từ năm 1963 đến 1993, giảng
dạy tại Trường Đại học Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ông là một chuyên gia về các vấn
đề văn hóa, tư tưởng Việt Nam.
- Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, tư tưởng có giá trị: “Đến hiện đại từ truyền thống”,
“Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại”, “Các bài giảng về tư tưởng phương Đông”,…
b. Xuất xứ:

Câu 3 : Tóm tắt truyện “Thuốc” – Lỗ Tấn.
- “Thuốc” được đăng trên tạp chí Tân Thanh Niên số tháng 5 – 1919, sau đó in trong tập “Gào thét” xuất
bản 1923 .
- Tóm tắt: Vợ chồng lão Hoa Thuyên – chủ quán trà có con trai bị bệnh lao (căn bệnh nan y thời bấy giờ).
Nhờ người giúp, lão Hoa Thuyên mua chiếc bánh bao tẩm máu người tử tù về cho con ăn, vì tin rằng ăn
10
bánh bao tẩm máu nguời sẽ khỏi bệnh. Sáng hơm sau, trong qn trà mọi người bàn tán về cái chết của
người tử tù vừa bị chém sáng nay. Đó là Hạ Du, một nhà cách mạng kiên cường, nhưng chẳng ai hiểu gì về
anh. Thế nhưng, thằng Thun cũng chết vì chiếc bánh bao ấy khơng trị được bệnh lao. Năm sau vào tiết
Thanh minh, mẹ Hạ Du và bà Hoa Thun đến bãi tha ma viếng mộ con. Gặp nhau, hai người mẹ đau khổ
có sự đồng cảm với nhau. Họ rất ngạc nhiên khi thấy trên mộ Hạ Du xuất hiện vòng hoa trắng, hồng xen
lẫn nhau. Đây điểm sáng để kết thúc câu chuyện bi thảm, bày tỏ quyết tâm tiếp bước người đã khuất. Tác
phẩm phản ánh sự u mê của nhân dân Trung Quốc trước cách mạng Tân Hợi, sự lạc hậu về chính trị của
quần chúng đối với người làm cách mạng và bi kịch của người cách mạng tiên phong Hạ Du.
Câu 4 : Giải thích ý nghĩa nhan đề truyện ngắn “Thuốc” của Lỗ Tấn:
- Vạch trần sự u mê, lạc hậu, mê tín của người dân Trung Quốc tin rằng chiếc bánh bao tẩm máu người là
một phương thuốc chữa được bệnh lao .
- Thuốc còn là phương thuật giác ngộ quần chúng đấu tranh tự giải thốt khỏi hàng nghìn năm phong kiến
đã đè nặng lên đời sống người dân Trung Quốc.
Câu 5 :Ý nghĩa bao trùm tác phẩm “ Thuốc” – Lỗ Tấn:
- Truyện phê phán tập qn chữa bệnh phản khoa học. Hình ảnh lão Hoa Thun “vội vàng móc gói bạc
trong túi ra mua chiếc bánh bao nhuốm máu đỏ tươi,máu còn nhỏ từng giọt, ” cho thấy sự mê tín của
quần chúng và dã tâm của bọn đồ tể bán máu người.
- Hạ Du là người chiến sĩ cách mạng đã hi sinh: Tác phẩm phê phán sự lạc hậu về chính trị của quần chúng
“ Cái thằng nhãi con ấy khơng muốn sống nữa nằm trong tù mà còn dám rủ lão đề lao làm giặc ( )
hắn điên thật rồi !”
Câu 6: Ý nghóa hình tượng Hạ Du và ý nghóa vòng hoa trên mộ Hạï Du ?
- Hạ Du là người giác ngộ cách mạng sớm, là người dũng cảm, hiên ngang. Nhưng anh lâm vào một bi
kòch không ai hiểu được việc làm của anh, ngay cả người thân (Thể hiện qua câu hỏi cuối truyện). Tác
giả muốn nhắc nhở người đọc suy ngẫm để hiểu ý nghóa cái chết cuả Hạ Du, đồng thời ông muốn gửi

Va - ni - a. Cả bố mẹ em đều bị bắn chết trong chiến tranh, chú bé phải sống bơ vơ không nơi nương tựa.
Anh nhận Va - ni - a làm con nuôi và yêu thương, chăm sóc chú bé thật chu đáo và coi đó là một nguồn vui
lớn.
- Tuy vậy, Xô - cô – lôp vẫn bị ám ảnh bởi những nỗi đau buồn vì mất vợ, mất con “nhiều đêm thức giấc
gối ướt đẫm nước mắt”, anh thường thay đổi chỗ ở, nhưng anh vẫn cố giấu không cho bé Va - ni - a biết
nỗi khổ của mình.
-> Nội dung tác phẩm ‘’Số phận con người’’: Số phận con người nhỏ bé trước hiện thực tàn khốc của
chiến tranh, vẻ đẹp tính cách Nga kiên cường nhân hậu.
Câu 4: Ý nghĩa bao trùm tác phẩm “Số phận con người”:
* Nhân vật chính trong tác phẩm là Xô - cô - lôp có cuộc đời gặp nhiều bất hạnh. Nhưng anh vẫn thể hiện
được nét tính cách Nga kiên cường và nhân hậu :
- Tính cách kiên cường :
+ Trong chiến tranh, anh chịu quá nhiều bất hạnh. Sau chiến tranh, anh lại sống trong cô đơn, đau khổ,
phiêu bạt nhiều nơi để kiếm sống. Nhưng anh vẫn không thốt một lời than vãn, không suy sụp tinh thần,
không sa ngã, không rơi vào bế tắc, tuyệt vọng.
+ Với bản lĩnh cao đẹp, với tấm lòng nhân hậu, anh trở thành chỗ dựa vững chắc cho bé Va - ni - a (bố mẹ
đã chết trong chiến tranh).
- Tấm lòng nhân hậu:
+ Xô - cô - lôp nhận nuôi bé Va - ni - a từ tính thương “với niềm vui không lời tả xiết” không tính toán,
vụ lợi .
+ Yêu thương, chăm sóc chu đáo cho Va - ni - a hơn cả người cha đối với con.
+ Những mất mát, đau thương, anh âm thầm chịu đựng “nhiều đêm thức giấc thì gối ướt đẫm nước mắt”,
không cho bé Va - ni - a biết, vì sợ em buồn.
* Hai số phận bất hạnh đặt cạnh nhau, đã kết hợp với nhau, biết nương tựa vào nhau để vươn lên và không
ngừng hi vọng vào cuộc sống là phẩm chất tuyệt vời của những con người chân chính.
ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ
(Trích)
Hê-minh-uê
Câu 1: Trình bày vắn tắt cuộc đời và sự nghiệp H ê-minh-uê?
a. Cuộc đời :

b. Nguyên lý tảng băng trôi qua tác phẩm :
- Phần nổi : hành trình theo đuổi, chiến đấu để bắt được con cá kiếm của ông lão Xantiagô
- Phần chìm của tảng băng :
+ Hành trình theo đuổi và thực hiện ước mơ giản dò mà lớn lao của con người
+ Hành trình khám phá vẻ đẹp và chinh phục thiên nhiên
+ Hành trình vượt qua thử thách dẫn đến thành công. Những điều mà con người đạt được luôn là kết
quả của sự cố gắng, bền bỉ không ngừng nghỉ.
+ Cần chinh phục thiên nhiên, nhưng không được coi thường thiên nhiên. Thiên nhiên là kẻ thù số một
nhưng đồng thời nó là người bạn thân.
+ Niềm tin vào chiến thắng và tin vào bản thân.
Câu 4: Nội dung tư tưởng của đoạn trích?
Hình tượng con cá kiếm được phát biểu trực tiếp qua ngơn từ của người kể chuyện, đặc biệt là qua
những lời trò chuyện của ơng lão với con cá ta thấy ơng lão coi nó như một con người. Chính thái độ đặc
biệt, khác thường này đã biến con cá thành “nhân vật” chính thứ hai bên cạnh ơng lão. Con cá kiếm mang ý
nghĩa biểu tượng. Nó là đại diện cho hình ảnh thiên nhiên, tiêu biểu cho vẻ đẹp, tính chất kiên hùng vĩ đại
của thiên nhiên. Trong mối quan hệ phức tạp của thiên nhiên với con người khơng phải lúc nào thiên nhiên
cũng là kẻ thù. Con người và thiên nhiên có thể vừa là bạn vừa là đối thủ. Con cá kiếm là biểu tượng của
ước mơ vừa bình thường giản dị nhưng đồng thời cũng rất khác thường, cao cả mà con người ít nhất từng
theo đuổi một lần trong đời. Hình ảnh ơng lão đánh cá đơn độc, dũng cảm săn đuổi con cá kiếm lớn nhất
đời là một biểu tượng về ước mơ và hành trình gian khổ của con người để biến ước mơ thành hiện thực.
“Ơng già và biển cả” là bài ca cảm động về sức lao động bền bỉ và kì diệu của những con người lao động
bình thường.
13
PHẦN LÀM VĂN
VỢ NHẶT
Kim Lân
Đề 1: Phân tích giá trò nhân đạo của tác phẩm “Vợ nhặt” (Kim Lân)
DÀN BÀI
A. Mở bài:
- Kim Lân viết không nhiều, nhưng được coi là một cây bút viết truyện ngắn tài năng của văn học Việt

quẩn, bế tắc, loạn ly. Tác giả vừa thể hiện niềm cảm thông sâu sắc với nỗi khổ của người nông dân
vừa lên án tội ác dã man, chính sách vô nhân đạo của bọn thực dân - phát xít.
2. Ngợi ca những con người biết cưu mang, đùm bọc nhau trong lúc khốn cùng; sống khát khao
hạnh phúc với niềm tin yêu mãnh liệt (Giá trò nhân đạo)
a. Nhân vật Tràng:
* Hoàn cảnh sống:
- Làm nghề kéo xe bò chở thóc cho Liên đoàn.
- Là dân ngụ cư.
- Ngôi nhà của Tràng “vắng teo", “đứng rúm ró” với tấm “phên rách”
→ Tràng là một anh nông dân làm thuê làm mướn với thân phận bò coi khinh, ruồng bỏ.
* Ngoại hình:
- Khuôn mặt: “Hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra”
- Thân hình “to lớn”, “vập vạp”, “lưng to rộng như lưng gấu”.
- Bước đi ngật ngưỡng, vừa đi vừa nói.
→ Một con người mang vẻ hoang sơ, xấu trai, cục mịch, thô kệch; tâm tính có phần không bình thường.
* Tâm hồn:
- Nhân hậu, thương người: thấy người đàn bà đói xin ăn, anh sẵn sàng cho chò ăn. Anh không hề tính
toán, so đo, vụ lợi, dù anh và mẹ anh cũng đang cùng quẫn, đói khổ (ăn cháo cám) đang bò cái chết rình
rập.
- Khát khao hạnh phúc:
+ Chỉ vì một câu nói đùa của anh (Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về)
mà người đàn bà theo anh về làm vợ.
+ Mới đầu anh cũng lo nhưng sau đó thì “chậc, kệ!” – nghóa là anh không nghó xa xôi nữa, chấp nhận
cưu mang thêm một người nghèo khổ rồi cuộc sống có ra sao thì ra. Đó là cái chậc lưỡi tưởng như nông
nổi của một người cạn nghó, nhưng nó lại có ý nghóa sâu sắc: Tràng đánh cuộc với cái đói để sống cuộc
sống như một con người bình thường _ có một mái ấm gia đình.
- Tâm lý của Tràng khi có vợ:
+ Trên đường về nhà:
. “Mặt hắn phớn phở khác thường”, “hai mắt sáng lên lấp lánh”. Nỗi sung sướng, hạnh phúc thể hiện
ngay ở cái nhìn, nét mặt, khác với khuôn mặt lo lắng, mệt mỏi thường ngày.

tuổi lập gia đình.
- Khi hiểu ra người đàn bà ấy là vợ của con trai, bà “cúi đầu nín lặng”. Bà xót xa cho số kiếp con trai
mình: người ta được “ cưới vợ” còn con bà thì “vợ theo”. Rồi bà tủi cho thân phận mình: “…người ta
dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi (…) còn mình thì …” Bà day dứt vì mình chưa
làm tròn trách nhiệm của một người mẹ.
- Bà lo lắng cho hạnh phúc của con: “Biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này
không”.
- Nhìn người đàn bà rồi bà nghó: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con
mình. Mà con mình mới có vợ được …”. Bà cảm thông và thầm cảm ơn người đàn bà đã đồng ý làm vợ
con mình.
- Bà mừng hạnh phúc của con: “Các con phải duyên kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”, rồi bà khuyên
nhủ các con: “Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông giời cho khá … có ra
thì con cái chúng mày về sau”. Trong cảnh khốn cùng bà vẫn khuyên các con những lời chí nghóa chí
tình, hướng đến sự sống tương lai.
- “Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại”, nhưng “bà nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về
sau này”: nào là mua đôi gà rồi chẳng mấy chốc sẽ có đàn gà, nào là “chè khoán ngon đáo để”. Niềm
vui, niềm lạc quan sống thật đáng khâm phục ở bà lão “thất thập cổ lai hy" này.
16
⇒ Tác giả rất thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật bà cụ Tứ ở nhiều cung bậc, mức độ khác
nhau. Qua đó, ta thấy được những phẩm chất đáng quý của người mẹ Việt Nam nhân hậu, bao dung, độ
lượng, thương con tha thiết và dù trong hoàn cảnh nào cũng vươn lên hướng tới tương lai.
c. Người vợ nhặt.
- Cuộc sống nghèo khổ, làm thuê làm mướn và trở thành người vợ nhặt.
- Trong nạn đói, chò vẫn nghó về sự sống và hướng tới sự sống.
- Chò đã theo không về làm vợ Tràng. Việc theo không này, trong hoàn cảnh đói kém lúc bấy giờ,
mang ý nghóa hướng về sự sống rất rõ: vừa là sự sống theo ý nghóa chống cái đói, vừa là sự sống trong
hạnh phúc gia đình.
- Sau khi thành nàng dâu mới, chò như đổi khác. Chò dậy sớm, cùng mẹ chồng dọn dẹp, thu xếp lại nhà
cửa cho quang quẻ hơn (“rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát, chỏng
lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”).

Mảng tối của bức tranh hiện thực buồn đau là phép đòn bẩy cho mảng sáng của tình người tỏa ra ánh sáng
hào quang đặc biệt của chủ nghĩa nhân văn tha thiết cảm động.
- Bà cụ Tứ khơng phải là nhân vật chính của thiên truyện, bà chỉ xuất hiện ở nửa cuối của tác phẩm nhưng
là điểm sáng của lòng nhân ái, của tình người thật cảm động, thiết tha.
II. Phân tích :
1. Ngoại hình:
- Dễ thấy ngay rằng nhân vật bà cụ Tứ khơng mang nhiều nét hài hước như vợ chồng Tràng, bà xuất hiện
qua một vài nét phác họa đơn giản : chưa thấy người đã thấy tiếng khúng khắng ho, dáng lọng khọng, đơi
mắt nhn hấp háy…. Đó là hình ảnh quen thuộc của những bà lão nơng dân trải hết cuộc đời mình trong
lam lũ, nghèo khó, nhọc nhằn.
- Kim Lân gọi Tràng là “hắn”, gọi người vợ là “thị”, nhưng với bà mẹ, nhà văn dành một cách gọi trân
trọng, trìu mến : “bà cụ, bà lão, người mẹ nghèo khổ” → nhà văn kính trọng bà mẹ, kính trọng tuổi già,
kính trọng nỗi khổ đau suốt một đời đã đè nặng lên vai của con người → Chính thái độ này khiến Kim Lân
như nhập thân vào bà cụ Tứ, nhìn sự việc, kể lại theo con mắt và tâm trạng của bà.
2. Diễn biến tâm lí:
Q trình tâm lí của bà cụ Tứ phức tạp hơn nhân vật Tràng. Nếu ở Tràng, niềm vui làm chủ, tâm lí
phát triển theo chiều thẳng đứng, phù hợp với trạng thái tâm lí của một chàng trai vừa có vợ, đang tràn trề
cảm xúc hạnh phúc thì ở bà mẹ, tâm lí vận động theo kiểu gấp khúc, hợp với nỗi niềm trắc ẩn trong chiều
sâu riêng của người già từng trải, đơn hậu.
- Ngỡ ngàng:
+ Khởi đầu tâm lí bà cụ Tứ là sự ngỡ ngàng (Tràng ngỡ ngàng trước một cái đã biết, còn bà mẹ ngỡ ngàng
trước một sự việc dường như khơng hiểu nổi – Bà cụ Tứ hiểu rõ tình cảnh của con người hơn ai hết nên
càng khó tin Tràng có vợ). Trạng thái ngỡ ngàng của bà được khơi sâu bằng một loạt câu hỏi: “Qi sao
lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ở ngay đầu giường con trai mình thế
kia? Sao lại chào mình bằng u? Khơng phải con cái Đục mà. Ai thế nhỉ ?” ->Trái tim người mẹ có con trai
lớn rất nhạy cảm khi thấy xuất hiện một người phụ nữ bên cạnh con trai mình, nhưng ở đây Kim Lân cứ để
bà mẹ ngơ ngác, lẩn thẩn. Đó là nỗi đau của người viết: sự cùng quẩn của hồn cảnh đã đánh mất ở người
mẹ sự nhạy cảm vốn có.
+ Cơ dâu mới chào mẹ đến hai lần nhưng bà vẫn ngồi im, Tràng tưởng mẹ chưa nghe lời chào của cơ chưa
biết có sự hiện diện của con dâu… nhưng thực tế bà đã thấy, đã nghe, đã biết, đã hiểu nhưng khơng thể -

ngăn riêng chỗ của vợ chồng Tràng, chuyện “khi nào có tiền mua lấy đôi gà …”, đến những ước mơ xa vời
hơn mà cũng đớn đau hơn về một ngày mai “rồi may mà ông giời cho khá … “ → Bà lão lọng khọng này
không ao ước cho riêng mình. Người mẹ ấy sống vì con, hi vọng cho lớp cháu con, tìm thấy ý nghĩa đời
mình trong sự chăm lo, vun nén cho con, mơ ước cho con. Nhờ đó mà người đọc nhìn thấy những năm
tháng cuối cùng của đời bà, niềm hi vọng tỉ lệ nghịch với tuổi tác và nghèo đói.
+ Trên ngổn ngang những buồn lo, niềm vui của người mẹ vẫn cố ánh lên. Kim Lân đã để cái ánh sáng kì
diệu ấy tỏa ra từ nồi cháo cám trong bữa cơm đầu tiên của đôi vợ chồng mới. Bà mẹ nói : “Chè đây – chè
khoán đây, ngon đáo để” → chữ “ngon” ở đây không phải là xúc cảm về vật chất mà là xúc cảm về tinh
thần: Ở người mẹ niềm tin về hạnh phúc của con biến đắng chát thành ngọt ngào. Chọn hình ảnh nồi cháo
cám Kim Lân muốn chứng minh cho cái chất người: trong bất kì hòan cảnh nào, tình nghĩa và hi vọng vẫn
không thể bị tiêu diệt, con người vẫn muốn sống cho ra sống và chất người thể hiện trong cách sống tình
nghĩa và hi vọng (Nhưng Kim Lân không phải là nhà văn lãng mạn. Niềm vui của bà cụ Tứ vẫn cứ là niềm
vui tội nghiệp, bởi thực tại vẫn nghiệt ngã với miếng cháo cám “đắng chát và nghẹn bứ”).
=> Thành công của nhà văn là đã thấu hiểu và phát triển được những trạng thái tâm lí khá tin tế của con
người trong một hòan cảnh đặc biệt. Biết vượt lên hòan cảnh vẫn là một vẻ đẹp tinh thần của những người
nghèo khổ - đó chính là nội dung nhân đạo sâu sắc của tác phẩm nói chung và bà cụ Tứ nói riêng.
Đề 3 : Phân tích nhân vật người vợ nhặt trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân.
GÔÏI YÙ
1. Chân dung :
- Người vợ nhặt trong tác phẩm là con số không tròn trĩnh: không tên tuổi, không quê hương, không quá
khứ. Từ đầu đến cuối tác phẩm cô chỉ được gọi là: cô ả, thị, người đàn bà … Quá khứ mà chị ta có cũng chỉ
là một lần chọc ghẹo với Tràng và “thị liếc mắt cười tít”.
- Chân dung chị hiện ra ngay từ đầu là những nét không mấy dễ nhìn: “gầy vêu vao”, “ngực gầy lép”,
“khuôn mặt lưỡi cày xám xịt”, “quần áo thì rách như tổ đỉa”
- Điệu bộ : “sầm sập chạy tới”, “sưng sỉa nói”, “đứng cong cớn trước mặt hắn”, ăn nói chỏng lỏn, ghê
gớm: “bỏ bố”, “sợ gì”….
- Là một người đói, đói đến mức quên cả ý tứ, sĩ diện tối thiểu của một con người. Người Việt rất coi trọng
tình nghĩa, nhưng để có tình nghĩa người ta cần có thời gian để thấu hiểu nhau. Trong hoàn cảnh khốn
cùng, cái đói đã đẩy người đàn bà đến chỗ theo không một người đàn ông về làm vợ → Tràng, một người
đàn ông xa lạ bỗng dưng trở thành cái phao cuối cùng, là tất cả hi vọng của người đàn bà tội nghiệp này.

=> Người vợ nhặt vơ danh nhưng khơng vơ nghĩa. Bóng dáng của chi hiện lên gợi lên một sự ấm áp. Chị
mang đến một làn gió tươi mát cho cuộc sống tối tăm bên bờ cõi chết.
VỢ CHỒNG A PHỦ
Tơ Hồi
Đề 1: Phân tích giá trò nhân đạo của tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài.
DÀN BÀI
A. Mở bài:
- “Vợ chồng A Phủ” là truyện ngắn hay nhất trong tập “Truyện Tây Bắc”, tiêu biểu cho phong cách của
Tô Hoài sau Cách mạng Tháng 8.
- Hiện thực và nhân đạo là nội dung nổi bật của thiên truyện này. Thông qua số phận bất hạnh và sức
sống tiềm tàng của hai nhân vật Mò và A Phủ, nhà văn đã phản ánh cuộc sống bò đè nén, áp bức nặng
20
nề của người dân Tây Bắc dưới chế độ thực dân phong kiến miền núi; đồng thời cảm thông với những
khổ đau và lòng khao khát tự do của người dân miền núi.
B. Thân bài:
I. Khái quát:
- Nêu xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm.
- Tóm tắt tác phẩm.
- “Vợ chồng A Phủ” như tên gọi của thiên truyện, viết về cuộc đời của một đôi vợ chồng người Mèo ở
vùng núi cao Tây Bắc trước và sau khi đến với cách mạng. Truyện ngắn nhằm làm nổi bật lên số phận
khốn khổ, tủi nhục của người nông dân miền núi dưới ách thống nhất trò của bọn chúa đất và thực dân,
đồng thời ca ngợi cuộc đổi đời của họ nhờ cách mạng. Như vậy bản thân đề tài và chủ đề của tác phẩm
đã mang nội dung nhân đạo sâu sắc.
- Sức nặng tố cáo và cảm hứng nhân đạo chủ yếu được thể hiện ở phần II (cuộc sống nô lệ, tăm tối của
Mò và A Phủ ở Hồng Ngài).
II. Phân tích:
1. Nhân vật Mò:
a. Là cô gái trẻ đẹp, tài hoa, hiếu thảo:
- Mò trẻ đẹp:
+ “Có biết bao người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mò hết núi này sang núi khác”

c. Sức sống tiềm ẩn mãnh liệt của Mò:
* Lần thứ nhất: Mò đònh ăn lá ngón để tự tử. Đây là hành động tiêu cực nhưng thể hiện sự phản kháng
của Mò: không chấp nhận thực tại với số kiếp tôi đòi ngựa trâu.
* Lần thứ hai:
- Ngoại cảnh tác động vào mọi giác quan của Mò: “gió và rét dữ dội”, “những chiếc váy hoa phơi trên
mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ”õ, “đám trẻ chơi quay cười ầm trước hiên nhà”ø. Những hình ảnh của
thò giác, thính giác, xúc giác đã tập trung vào để đánh thức Mò. Mò bắt đầu có cảm xúc chứ không tê
liệt như trước nữa.
- Tiếng sáo và men say đã khơi gợi tâm hồn Mò:
+ Tiếng sáo gọi bạn ở đầu núi khiến Mò rạo rực bồi hồi, “nhẩm thầm theo bài hát của người đang thổi”.
Tâm hồn Mò bắt đầu xao xuyến, thiết tha.
+ Mò uống rượu và “uống ừng ực từng bát” như uống mọi căm hận, khát khao vào lòng.
+ Men say và tiếng sáo gọi bạn ở đầu làng làm Mò sống lại thời con gái (Mò nhớ lại ngày trước Mò thổi
sáo giỏi, thổi lá cũng hay như thổi sáo). “Mò thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên thấy vui sướng
như những đêm Tết ngày trước. Mò trẻ lắm. Mò vẫn còn trẻ. Mò muốn đi chơi” -> Ý thức về quyền sống
và quyền được hưởng hạnh phúc của một con người đã sống lại trong Mò.
+ Tiếng sáo lơ lửng bay ngoài đường: “Mò xắn một miếng mỡ bỏ vào đóa đèn cho sáng”. Đây là hành
động có ý nghóa thức tỉnh: Mòâ muốn không gian quanh mình sáng hơn, hay Mò muốn thắp sáng niềm tin,
giã từ tăm tối?
+ Tiếng sáo rập rờn trong đầu Mò: Mò quấn lại tóc, với tay lấy chiếc váy hoa. Mò chuẩn bò đi chơi. Đây
là một hành động táo bạo. Mò đang trở về với bản chất của cô Mò thû chưa lấy chồng với những khát
khao, hạnh phúc.
- A Sử chặn đứng mọi ước mơ của Mò. Hắn trói Mò vào cột nhà bằng một thúng dây đay. Nhưng Mò
không biết gì về thảm cảnh của mình, bởi cô vẫn nghe tiếng sáo như đang vào đưa cô vào những cuộc
chơi, đám chơi. Mò vùng bước theo tiếng sáo nhưng dây trói thít vào da thòt đã đưa cô trở về với thực
tại, với cảnh ngộ của mình. Cả đêm ấy, Mò lúc mê, lúc tỉnh, lúc khóc vì đau, lúc lại nồng nàn tha thiết
nhớ. Đây là cuộc vượt ngục tinh thần vô cùng có ý nghóa cho sự giải thoát bản thân sau này:
+ Chi tiết “vùng bước đi” thật quyết liệt: khát vọng sống vẫn trào ra ngồi dây trói.
+ Dây trói là hiện thân hung tợn của một kiểu áp bức đầy tính dã man. Điều kì diệu là tuy Mị bị trói nhưng
tiếng sáo vẫn trỗi dậy, lặp đi lặp lại như một ám ảnh da diết, như một bài ca về sức sống bất diệt của con

miền núi.
⇒ Việc Mò và A Phủ chạy đến Phiềng Sa, nên duyên chồng vợ và được cán bộ cách mạng A Châu giác
ngộ, đi theo du kích đánh Pháp, làm lại cuộc đời vừa phản ánh hiện thực, vừa thể hiện ước mơ của
đồng bào Tây Bắc khi ánh sáng cách mạng soi thấu cuộc đời tăm tối của họ. Đó cũng là khía cạnh mới
của chủ nghóa nhân đạo trong văn học Việt Nam sau Cách mạng Tháng 8: nhà văn không chỉ giải thích
hiện thực mà còn góp phần cải tạo hiện thực, chỉ ra con đường giải phóng cho nhân loại cần lao.
C. Kết luận
- Văn học Việt Nam vốn là một nền văn học giàu truyền thống nhân đạo. Nền văn học ấy như một tấm
gương phản chiếu tâm hồn con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam – một dân tộc nặng nghóa, nặng
tình, giàu lòng nhân ái, vò tha.
- Góp phần làm giàu thêm truyền thống nhân đạo ấy là nhiệm vụ cao cả và thiêng liêng của mỗi nhà
văn chân chính. “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài là một đóng góp đáng trân trọng vào truyền thống ấy.
Đề 2: Trong bài “Cảm nghó về truyện Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài viết: "Nhưng điều kỳ diệu là dẫu
trong cùng cực đến thế mọi thế lực của tội ác cũng không giết được sức sống con người. Lay lắt
đói khổ, nhục nhã, Mò vẫn sống, âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt."
23
Phân tích nhân vật Mò trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” (đoạn trích được học) của Tô Hoài
để làm sáng tỏ nhận xét trên.
GI Ý
1. Mò - Con người tốt đẹp bò đày đọa:
a. Mò có phẩm chất tốt đẹp:
- Mò là một thiếu nữ xinh đẹp, tài hoa, hồn nhiên, yêu đời. Cô không những chăm chỉ làm ăn mà còn
yêu tự do, ý thức được quyền sống của mình.
- Phẩm chất tốt đẹp nhất của Mò là giàu lòng vò tha, đức hy sinh: Mò thà chết còn hơn sống khổ nhục,
nhưng rồi Mò chấp nhận sống khổ nhục còn hơn là bất hiếu, còn hơn thấy cha mình già yếu vẫn phải
chòu bao nhục nhã, khổ đau.
b. Mò bò đày đọa cả về thể xác lẫn tinh thần:
- Mang danh là con dâu thống lý, vợ của con quan nhưng Mò lại bò đối xử như một nô lệ.
- Mò ở nhà chồng mà như ở đòa ngục với công việc triền miên. Mò sống khổ nhục hơn cả súc vật,
thường xuyên bò A Sử đánh đập tàn nhẫn. Mò sống như một tù nhân trong căn buồng chật hẹp, tối tăm.

hứng của nhà văn về một Tây Nguyên anh hùng được thể hiện qua hình tượng cây xà nu.
B. Thân bài:
I. Khái quát:
- “Rừng xà nu” được viết vào mùa hè năm 1965, khi Mĩ đổ quân ào ạt vào miền Nam nước ta, bắt đầu
cuộc chiến tranh cục bộ của Mĩ ở miền Nam Việt Nam.
- Tháng 5/1962, trên đường hành quân từ miền Bắc vào chiến trường Nam Bộ, N.T.T đã đi qua những cánh
rừng xà nu bát ngát. Nhà văn yêu say mê cây rừng xà nu từ ngày đó. “Ấy là một loại cây hùng vĩ và cao
thượng, man dại và trong sạch, mỗi cây cao vút, ứa nhựa, tán vừa thanh nhã, vừa rắn rỏi mênh mông
tưởng như đã sống tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau, từng cây, hàng vạn, hàng triệu cây vô tận…”
(Nguyễn Trung Thành)
- Với ấn tượng mạnh mẽ ấy, khi bắt tay viết một truyện ngắn về đề tài Tây Nguyên, hình ảnh rừng xà nu lại
ùa hiện về trong cảm xúc của nhà văn. Tác phẩm đã mở đầu bằng một rừng xà nu, kết thúc cũng bằng hình
ảnh một rừng xà nu chạy tít tắp tới tận chân trời. Ngay từ đầu tác phẩm, “Rừng xà nu” đã khắc họa một thế
giới đối đầu bi tráng giửa sự sống và các chết, giữa sinh tồn và hủy diệt.
II. Phân tích:
1. Ý nghĩa tả thực:
- Xà nu là một loại cây thuộc họ thông, mọc rất nhiều ở Tây Nguyên. Đây là thứ cây khỏe, giàu sức sống,
sinh sôi rất nhanh và ham ánh mặt trời.
- Xà nu không chỉ có mặt ở phần đầu và phần cuối tác phẩm mà nó hiện diện trong suốt câu chuyện về Tnú
và dân làng Xô man:
+ Xà nu gắn bó với cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày, với từng bản làng, từng đời người Tây Nguyên: ngọn
lửa xà nu nấu ăn trong bếp, đuốc xà nu soi đường rừng đêm, lửa xà nu cháy bập bùng trong đống lửa ở nhà
ưng tập hợp dân làng, khói xà nu đen nhẻm thân mình lũ trẻ…
+ Xà nu tham gia vào những sự kiện quan trọng của cuộc sống làng Xô man: ngọn đuốc xà nu cháy sáng
trong tay cụ Mết và cả dân làng vào rừng sâu lấy giáo mác chuẩn bị cho cuộc nổi dậy; đêm đêm cả làng
thức mài vũ khí dưới đuốc xà nu; giặc đốt mười đầu ngón tay của Tnú bằng nhựa xà nu; ngọn lửa đuốc xà
nu soi sáng cả làng trong đêm nổi dậy, soi rõ xác giặc nằm ngổn ngang…
2. Ý nghĩa tượng trưng: Cây xà nu mang ý nghĩa biểu tượng nên khi miêu tả về loài cây ấy N.T.T luôn đặt
trong sự ứng chiếu với con người, gợi ra những liên tưởng về dân làng Xô man nói riêng, con người Tây
Nguyên nói chung.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status