Các phương pháp gia công tiên tiến
I. SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
I. 1 . Giới thiệu:
Việc chế tạo máy tính, nổi bật là máy tính cá nhân (PC) và máy tính mini đã làm thay
đổi các phương thức làm việc ở xí nghiệp. Đặc biệt là máy tính đã được ứng dụng trong
nhiều lĩnh vực như: thiết kế (CAD-Computer Aided Design) ,chế tạo (CAM- Computer
Aided Manufacturing), gia công điều khiển số nhờ máy tính (CNC- Computer Numerical
Control). Và hệ thống tạo mẫu nhanh ra đời với sự tạo mẫu trên môi trường CAD. Bảng 1
dưới đây chỉ ra lịch sử của nhiều công nghệ khác nhau từ việc đánh giá bắt đầu các giai
đoạn.
Bảng 1
I. 2. Khái niệm chung về tạo mẫu nhanh:
Tạo mẫu nhanh (Rapid Prototyping –RP) là công nghệ thiết kế mẫu tự động nhờ quá
trình CAD (thiết kế với sự trợ giúp của máy tính). Với những máy in ba chiều cho phép
người thiết kế tạo ra những mấu hữu hình, truyền ý tưởng thiết kế của họ đến công nhân
Công nghệ tạo mẫu nhanh
Năm Công nghệ
1770
1946
1952
1960
1961
1963
1988
Cơ giới hoá
Máy tính đầu tiên
Máy gia công điều khiển kỹ thuật số tự động
Đầu tiên thương mại hoá thiết bị laser
Đầu tiên thương mại hoá robot
Hệ thống sơ đồ tác động tự động
Hệ thống tạo mẫu nhanh tự động
-Mẫu được làm theo truyền thống
và làm bằng tay.
-Dùng vật liệu truyền thống để tạo
ra mẩu.
• Công nghệ tạo mâu rất tự
nhiên.
Thời kỳ 2: mô hình mặt và đường cong
3D.
• Giữa thập niên 70.
• Gia tăng mức độ phức tạp.
• Thể hiện nhiều thong tin cấp độ
chính xác về tạo dáng, kích
thước và đường viền bề mặt
của từng chi tiết.
Thời kỳ 2: phần mềm hay quá trình tạo
mẫu ảo.
• Giữa thập niên 70.
• Gia tăng mức độ phức tạp.
• Phần mềm có thể cung cấp ứng
suất, có thể mô phỏng và kiểm
tra vớ các thiết bị chính xác và
các tính chất đặc trưng khác.
Thời kỳ 3: mô hình dạng khối.
• Từ những năm đầu của thập
niên 80.
• Các góc, các bề mặt, lỗ được
lien kết với nhau tạo thành chi
tiết.
• Từ bên ngoài máy tính có thể
Thời kỳ 3: tạo mẫu nhanh.
hoạ trên máy vi tính những suy tưởng , ý tưởng mới.các mẫu này như là một mô hình vật
lý: được kiểm tra, phân tích cũng như đo ứng suất và sẽ được hiệu chỉnh cho phù hợp nếu
chúng chưa đạt yêu cầu. Thí dụ nhu phân tích ứng suất và sức căng bề mặt chất lỏng có
thể dự đoán bởi vì có thể xác định chính xác các thuộc tính và tính chất của vật liệu.
Các mẫu trong thời kỳ này trở nên phức tạp hơn rất nhiều so với thời kỳ đầu khoảng trên
2 lần, tức khuynh hướng cho việc tạo mẫu tăng lên khoảng 16 tuần.Việc vận dụng tốt hơn
các máy gia công chính xác đã cải thiện tốt hơn các tính chất vật lý của mẫu.
Sự tiến bộ trong lĩnh vực tạo mẫu nhanh trong thời kỳ 3 có sự trợ giúp rất lớn của quá
trình tạo mẫu ảo nhưng vẫn còn những giới hạn tồn tại so với công nghệ tạo mẫu nhanh.
Các vấn đề đó bao gồm:
Sự giới hạn về vật liệu (bởi vì các chi phí và cách sử dụng cho từng vật liệu không
giống nhau để tạo chi tiết).
Không có khả năng thực hiện quá tình như những gì ghi trên bản thảo.
Có thể độ tin cậy dữ liệu thấp hay không có.
Những vấn đề này được tập hợp từ qui trình công nghệ tạo mẫu nhanh đến quá trình phân
tích giới hạn các bộ phận cấu tạo.trong ứng dụng phân tích động học và động lực học, phần
mềm sẽ phân tích các tính chất vật lý của nhiều oại vật liệu khác nhau như: thép, nước đá,
nhựa, đất sét, hay một số vật liệu truyền thống khác. Phần mềm sẽ tính toán như là trên một
mô hình thật sự, điều này có ý nghĩa rất lớn cho quá trình sản xuất- hạn chế phế phẩm.
I.3. c :Thời kỳ 3: quá trình tạo mẫu nhanh:
Quá trình tạo mẫu rỗng thích hợp cho việc sản xuất trên bàn nâng hay công nghệ
sản xuất lớp, công nghệ này thể hiện quá trình phát triển tạo mẫu trong thời kỳ thứ 3.
Việc phát minh ra các thiết bị tạo mẫu nhanh là một phát minh quan trọng, đã đáp
ứng yêu cầu của giới kinh doanh trong thời kỳ này: giảm thời gian sản xuất, độ phức tạp của
mẫu tăng, giảm chi phí. Mức độ phức tạp của chi tiết tăng lên gấp ba lần mức độ phức tạp
Công nghệ tạo mẫu nhanh
3
Các phương pháp gia công tiên tiến
mà các chi tiết đã được làm vào những năm của thập niên 70 do người tiêu dung đòi hỏi cao
một mô hình vật thể. Hệ thống cad đã tạo ra mô hình trên máy tính, mô hình này có
thể ở dạng mặt phẳng hay dạng khối. không phải tất cả các mô hình vật thể đều đơn
giản, nó yệu cầu thu thập dữ liệu để đưa ra một phương pháp đối lập.trong công nghệ
đối lập này được trang bị đầy đủ như các thiết bị đo toạ độ (cmm) và bộ mã hoá laser.
Các phương pháp :
Hiện nay đã có hơn 20 nhà sản xuất hệ thống tạo mẫu nhanh, ta có thể phân tích
thành một số cấp bậc sau: xử lý quang hoá (chùm laser đơn, chùm laser đôi và đèn
mạ), gia công và dán lien kết, sự nung nóng và sự hoá rắn/sự hoá lỏng và sự lien kết
sự bó buộc.
Vật liệu:
Công nghệ tạo mẫu nhanh
4
Các phương pháp gia công tiên tiến
Vật liệu có thể ở dạng khối (rắn), dạng lỏng và dạng bột. ở dạng khối có các hình thức
khác nhau như: viên , dây hay phiến mỏng. một số vật liệu đang sử dụng hiện nay là
giấy, nilon, sáp, kim loại và đất sét.
Các ứng dụng:
Các ứng dụng có thể phân chia thành từng nhóm như: (1) thiết kế, (2) công nghệ,
phân tích và lập kế hoạch, (3) gia công cắt gọt và sản xuất. tạo mẫu nhanh đem lại lợi
nhuận khổng lồ trong các lĩnh vực như: vũ trụ không gian, tự động hoá, y-sinh học,
điện-điện tử,….
Lợi thế của công nghệ tạo mẫu nhanh:
Các hệ thống tạo mẫu nhanh hiện nay đều là tự động, không gia công, không
cần khuôn mẫu mà vẫn có thể chế tạo trực tiếp các chi tiết trong khả năng chất lượng
giới hạn. các chi tiết được chế tạo từ phương pháp này có độ chính xác cao nhưng
chất lượng bề mặt rất kém vì không được gia công đến nguyên công cuối. vì thế, các
sản phẩm này thường được gia công tinh lại bằng phương pháp gia công khác. Công
nghệ tạo mẫu nhanh rút ngắn thời gian chế tạo một chi tiết rất nhiều và các dữ liệu
thiết kế vẫn có thể sử dụng lại nên lợi nhuận từ công nghệ này rất khổng lồ: lợi nhuận
trực tiếp và lợi nhuận gián tiếp.
với độ dày của lớp vật liệu đầu tiên (tức là lớp nằm dưới cùng). Sau đó, chùm tia laser
sẽ qt bề mặt theo những đường viền của mặt cắt, bên trong đường viền được vạch
dấu bằng những vạch song song bằng cách dùng một mẫu vạch. Chất lỏng polime
sao chép khi bị tác động của chùm tia laser tử ngoại sẽ rắn lại hoặc là được xử lý. Bộ
phận nâng được dịch chuyển xuống phía dưới, và các lớp sau đó được chế tạo tương
tự như vậy. các lớp liên kết lại với nhau thành khối. Cuối cùng vật thể được lấy ra từ
thùng đụng chất lỏng và chất lỏng còn lại thong thường được sử lý trong lò nung đặc
biệt.
Chùm tia laser làm rắn chất lỏng là HeCd-laser được cho thấy ở góc bên trái
của hình 4 dưới đây. Chùm laser được dùng để đảm bảo bề mặt của chất lỏng ở vị trí
đúng. Thanh qt phá sức căng bề mặt giảm tối đa thời gian chế tạo mỗi lớp.
Bởi vì chi tiết được tạo thành trong mơi trường chất lỏng và bên trong vật thể còn
chứa chất lỏng polymer, do đó cần thiết phải thêm các kết cấu trợ giúp để tăng độ
cứng chi tiết và để tránh cho phần chi tiết đã được tạo thành chìm trong chất lỏng
khơng bị nổi lên hoặc khơng bị trơi nổi tự do ở trong thùng.
Thời gian qt chùm tia laser phụ thuộc vào hình dạng hình học của những
đường viền, mẫu vạch, tốc độ của tia laser và thời gian bao phủ (thời gian để một lớp
của polyme sao chụp chất rắn lại và thời gian để lớp cuối cùng rắn lại).
Cơng nghệ tạo mẫu nhanh
6
Hình 4. Nguyên lý hoạt động của phương pháp SLA
Gương
Thấu kính
HeCd-laser
Cơ cấu
nâng
Chất lỏng
polyme
Bàn gá
Hene-laser
Bảng tóm tắt các đặc tính kỹ thuật của hệ thống sla:
Thiết bò SLA-190 SLA-250 SLA-350 SLA-500
Loại laser
He-Cd He-Cd YVO
4
Argon
Cường độ laser (mW)
7,5 16 160 132-264
Đường kính tia laser (mm)
0,2-0,29 0,2-0,29 0,25 0,2-0,25
Độ phân giải theo đường
thẳng đứng của máy nâng
0,0025 0,0025 0,0018 0,0018
Cơng nghệ tạo mẫu nhanh
7
Các phương pháp gia cơng tiên tiến
(mm)
Thể tích chứa (lít)
- 29,5 99,3 253,6
Không gian làm việc, XYZ
(mm.mm.mm)
190.190.25
0
250.250.25
0
350.350.
400
508.508.5
80
Khối lượng lớn nhất của
8 A
200-240
V
AC
16 A
200-
240V
AC
3 pha,
100A/pha
Tốc độ quét trên trục X-Y
0,762 0,762 5 5
Giá cả (US$)
70.000 100.000
-170.00
380.000 490.000
Tất cả các máy đều sử dụng chung một loại vật liệu sản xuất là loại nhựa lỏng
được xử lý để tạo ảnh. Chỉ có một vài loại nhựa sử dụng được và khả năng này phụ
thuộc vào loại tia laser trên máy và u cầu cơ học của chi tiết.
d.Các loại nhựa cảm quang polymer:
Có nhiều loại nhựa lỏng tạo hình, chúng sẽ bị hố cứng khi được chiếu tia
điện tử bức xạ, tia gamma, tia X, ….Phần lớn các loại tạo hình bình thường được xử lý
trong trong tầm tác dụng của tia tử ngoại. Nhựa tạo hình bằng tia tử ngoại là loại nhựa
được biết đến từ sự nổ phát quang và gây chất lỏng từ những đơn chức và chúng có thể
có chứa một số chất độn và các chất gây biến tính hố học khi gặp điều kiện do những
u cầu cần thiết của máy.
Cơng nghệ tạo mẫu nhanh
8
Các phương pháp gia công tiên tiến
Mẫu tạo thành từ silicon.
A. Khái quát chung:
Solid Ground Curing (SGC) do Công ty Cubital Ltd (Israel) phát triển.
Công nghệ này cũng dựa trên cơ sở của STL: sử dụng tia cực tím và vật liệu chất dẻo cảm
quang. Điểm khác biệt ở phương pháp này là thực hiện cùng lúc cho tất cả các đối tượng trên
1 lớp, thông qua nhiều đèn chiếu tia cực tím.
b. Nguyên lý làm việc:
Chi tiết được xây dựng từng lớp một từ vật liệu lỏng photopolymer. Loại vật liệu
này sẽ bị động cứng dưới tác dụng của tia cực tím. Bao gồm các bước được tiến hành như
sau:
Chuẩn bị dữ liệu :dữ liệu được tạo từ cao phần mềm thiết kế.
Tạo mặt nạ : Mặt nạ này được tạo từ dữ liệu CAD nhập và in trên một nền trong
suốt (thủy tinh) bằng phương pháp tĩnh điện, giống như quá trình được sử dụng trong máy
photocopy và máy in laser. Một lớp màu đen sẽ phủ lên toàn bộ bề mặt trừ những tiết diện
của sản phẩm thể hiện bằng những miền trong suốt phản ánh chính xác mặt cắt ở lớp hiện
hành của sản phẩm. Lớp màu đen này có thể xóa được để tạo mặt nạ cho những lớp vật liệu
tiếp theo.
Dưới tác dụng của chùm tia tử ngoại xuyên qua tấm thuỷ tinh khi tấm thuỷ tinh di
chuyển đến vị trí gần phía trên đỉnh của lớp mỏng chất lỏng polymer và chiếu vào thùng
vật liệu bên dưới. Phần vật liệu bị chiếu bởi tia tử ngoại sẽ được đông đặc nhanh chóng,
cùng lúc này hình ảnh trên tấm thuỷ tinh sẽ được xoá đi để chuẩn bị cho lớp tiếp theo.
Vật liệu dư không bị đông đặc sẽ được thu hồi lại, và khoảng trống xung quanh
sản phẩm đang được chế tạo sẽ được điền đầy bằng sáp (wax), có tác dụng như là bộ phận
hỗ trợ trong suốt quá trình tạo sản phẩm. Để đảm bảo cho quá trình hoá rắn nhanh, sáp lỏng
được đông đặc bằng một tấm làm nguội sáp. Sau đó, đầu phay sẽ làm nhẵn bề mặt sản
phẩm và xác định đúng bề dày của một lớp. Bộ phận đỡ sản phẩm sẽ dịch xuống đúng bằng
chiều dày của một lớp và quá trình được lặp lại cho đến khi hoàn thành sản phẩm.
c. Ưu và nhược điểm của phương pháp SGC.
Ưu điểm:
-Hệ thống xử lý song song: quá trình tạo mẫu và xử lý tinh xảy ra song song do đó tiết
Đế
Chất lỏng polyme
Tấm bảo vệ
Bộ phận làm sạch
Các phương pháp gia công tiên tiến
Công nghệ tạo mẫu nhanh
12
Các phương pháp gia công tiên tiến
Công nghệ tạo mẫu nhanh
13
Các phương pháp gia công tiên tiến
II.2. TẠO MẪU NHANH DỰA TRÊN CƠ SỞ KHỐI :
II.2.1. Khái niệm chung :
Ngoại trừ các vật liệu dạng bột, các hệ thống tạo mẫu nhanh với vật liệu cơ bản dạng
khối có lien quan đến tất cả các hình thức vật liệu dạng khối bao gồm các dạng: dây, cuộn,
dát mỏng và dạng viên.
Một số phương pháp tạo mẫu nhanh tượng trưng cho phương pháp này:
1. Thiết bị chế tạo vật iệu từng lớp mỏng (LOM).
2. Thiết bị mẫu làm nóng chảy của Stratasy (FDM).
3. Thiết bị dập nóng và chọc chất kết dính của KiRa.
4. Thiết bị tạo mẫu nhanh của Kenergy.
5. Thiết bị tạo mẫu 3D của Multi-Jet.
6. Thiết bị tạo mẫu nhanh của IBM.
7. Thiết bị tạo mẫu cát của công ty Model Maker MM-6B.
8. Sparx AB’S Hot Plot.
9. Tạo mẫu không gian giới hạn của Laser CAMM.
II.2.2. Phương pháp tạo mẫu nhanh Laminate Object Manufacturing
(LOM ).
Công nghệ tạo mẫu LOM được phát minh bởi Michael Feygin vào năm 1985 và
được tung ra thị trường bởi công ty Helisy.
mỏng, cùng hay khác vật liệu trong một chi tiết. một lợi điểm của phương pháp sử dụng
tấm mỏng là chi tiêt chỉ bị cắt chu vi, trong khi hầu hết các phương pháp khác toàn bộ diện
tích của chi tiết phải được gia công. Do đó, kỹ thuật tấm mỏng có khả năng cho tốc độ sản
xuất cao.
Kết dính giữa các tấm :
- Một lớp phủ polyme được sử dụng để kết dính các tấm lại với nhau bằng
cách tăng dần nhiệt độ.
- Một phương pháp khác được đề nghị là việc sử dụng những từ trường, vật
liệu từ tính có thể sử dụng như vật liệu tấm. từ tính sẽ kết dính các tấm với
nhau, quá trình kết dính không phụ thuộc vào nhiệt độ và những lớp phủ.
- Một giải pháp khác là sử dụng những tấm phẳng để chúng tự kết dính với
nhau. Một phương pháp ít phổ biến hơn dùng rung động. rung động có thể
Công nghệ tạo mẫu nhanh
16
Các phương pháp gia cơng tiên tiến
chứng minh việc chế tạo trực tiếp những chi tiết kim loại kế tiếp bằng việc
tạo mẫu tự do.
d. Một số đặc điểm kỹ thuật của LOM:
-LOM-1015 và LOM-2030 đều dùng laser CO
2
,
LOM-1015 hoạt động ở cơng suất 25W và LOM-2030 là 50W.
Bảng tóm tắt đặc điểm kỹ thuật :
LOM-1015 LOM-2030
Quá trình Cán và cắt laser
Loại laser
CO
2
CO
e. Một số ưu nhược điểm của phương pháp LOM.
Ưu điểm.
-Vật liệu đa dạng, rẻ tiền. Về ngun tắc có thể sử dụng các loại vật liệu: giấy, chất dẻo,
kim loại, composites và gốm.
- Độ chính xác cao đạt được tốt hơn 0,25 mm. Bằng việc cắt vật liệu thay vì hóa rắn nó, hệ
thống có thể bảo vệ được những đặc tính ban đầu của vật liệu.
- Tốc độ cao, nhanh hơn các phương pháp tạo lớp khác bởi vì tia laser khơng cắt tồn bộ
Cơng nghệ tạo mẫu nhanh
17
Các phương pháp gia công tiên tiến
diện tích mà chỉ quét theo chu vi bên ngoài. Do đó, vật liệu dày và mỏng có tốc độ cắt bằng
nhau.
- Không có sự thay đổi pha trong quá trình chế tạo chi tiết nên tránh được độ co rút của vật
liệu.
- Không độc hại và ô nhiễm môi trường.
-Hệ thống đơn giản gọn nhẹ.
-Tạo ra những mẫu phức tạp, giảm chi phí và thời gian tạo mẫu.
Nhược điểm.
- Không thu hồi được vật liệu dư. Sự cong vênh của chi tiết thường là vấn đề chính của
phương pháp LOM.
- Lấy sản phẩm ra khỏi kết cấu hỗ trợ khó khăn.
- Độ bóng bề mặt không cao.
- Giá thành thiết bị khá đắc.
- Quá trình chuẩn bị và gia công rất tốn thời gian.
II.3. TẠO MẪU NHANH DỰA TRÊN CƠ SỞ DẠNG BỘT :
II.3.1. Khái niệm chung:
Trong khả năng được giới hạn, dạng trạng thái bột vẫn còn được xem như
dạng trạng thái khối. tuy nhiên, nó được tạo ra trên ý định là một loại thiết bị không phụ
thuộc vào hệ thống thiết bị tạo mẫu nhanh vật liệu trạng thái khối cơ sở.
trên bề mặt của xy lanh công tác bằng một trống định mức. Sau đó, tia laser hóa rắn (kết
tinh) phần bột nằm trong đường biên của mặt cắt (không thực sự làm chảy chất bột), làm cho
chúng dính chặt ở những chỗ có bề mặt tiếp xúc. Trong một số trường hợp, quá trình nung
chảy hoàn toàn hạt bột vật liệu được áp dụng. Quá trình kết tinh có thể được điều khiển
tương tự như quá trình polymer hoá trong phương pháp tạo hình lập thể SLA. Sau đó xy lanh
hạ xuống một khoảng cách bằng độ dày lớp kế tiếp, bột nguyên liệu được đưa vào và quá
trình được lặp lại cho đến khi chi tiết được hoàn thành.
Trong quá trình chế tạo, những phần vật liệu không nằm trong đường bao mặt
cắt sẽ được lấy ra sau khi hoàn thành chi tiết, và được xem như bộ phận phụ trợ để cho lớp
mới được xây dựng. Điều này có thể làm giảm thời gian chế tạo chi tiết khi dùng phương
pháp này. Phương pháp SLS có thể được áp dụng với nhiều loại vật liệu khác nhau:
Policabonate, PVC, ABS, nylon, sáp,… Những chi tiết được chế tạo bằng phương pháp SLS
tương đối nhám và có những lỗ hỗng nhỏ trên bề mặt nên cần phải xử lý sau khi chế tạo (xử
lý tinh).
Nguyên lý gia công SLS.
Công nghệ tạo mẫu nhanh
19
Các phương pháp gia công tiên tiến
b. Vật liệu sử dụng:
Polycacbonate (PC), nylon, sáp, bột kim loại (copper polyamide, rapid steel), bột
gốm (ceramic), glass filled nylon, vật liệu đàn hồi (elastomer).
A. 2. Quá trình tạo mẫu:
Sản phẩm được chia thành các lát cắt từ file định dạng” .STL” tạo một lớp bằng
cách trải các lớp bột, thiêu kết bằng nguồn laser CO
2
theo các bước sau:
Bước 1: Một lớp vật liệu bột nóng chảy được đặt vào buồng chứa sản phẩm
Bước 2: Lớp vật liệu bột đầu tiên được quét bằng tia laser CO2 và đông đặc lại. Vật
liệu bột không được xử lý sẽ được đưa trở về thùng chứa liệu.
Bước 3: Khi lớp thứ nhất đã hoàn thành thì lớp vật liệu bột thứ hai được cấp vào
Somos 201
RapidSteel
Polyamide
Công nghệ tạo mẫu nhanh
22
Các phương pháp gia công tiên tiến
II.3.2.B. Thiêu kết vật liệu kim loại:
B.1 Theo FFF: Thiêu kết laser cho vật liệu là kim loại, hợp kim cứng.
a. Theo đặc điểm của FFF:
Thiêu kết bằng tia laser là quá trình phụ thuộc vào nhiệt độ, sự cân bằng nhiệt rất
là quan trọng. Bột kim loại được bao quanh chi tiết được giữ ở nhiệt độ cố định gần với nhiệt
độ nóng chảy. Nếu sự chênh lệch giữa chi tiết thiêu kết và vật liệu bao quanh quá lớn, ứng
suất sẽ sinh ra và chi tiết thiêu kết bằng laser sẽ bị cong vênh ở các rìa đặc biệt. Mặt khác,
nếu nhiệt độ của bột bao quanh quá cao nó sẽ bị chảy và không thể tách chi tiết ra khỏi bột
kim loại. Một vài vật liệu nhạy cảm với sụ cân bằng nhiệt hơn những loại khác. Tóm lại, là
sử dụng những vật liệu ít nhạy cảm trong quá trình thiêu kết.
Sản phẩm thiêu kết tia laser.
b.Khi sử dụng bột tinh
Khi sử dụng bột tinh thì bề mặt hoạt động rộng hơn so với thể tích thể tích vật
liệu. Khi bề mặt hoạt động lớn thì có những trở ngại:
Bột kim loại sẽ phản ứng với oxy và bắt lửa ở nhiệt độ cao.
Vật liệu bị oxy hoá sẽ giảm tuổi thọ.
Có thể khắc phục bằng cách:
Phương pháp thông dụng để lấy oxy là dùng nito, những khí trơ khác hoặc dùng chân
không.
Dùng nhiệt, nếu có thể, chúng ta chỉ nung nóng vật liệu mà không cần nung nóng khí
quyển xung quanh. Vấn đề khó về điều khiển nhiệt độ, ta có thể sử dụng những
nguyên tố hiếm, hoặc là sử dụng sự chuyể đổi pha để thực hiện được nhiệt độ mong
năng lượng với nhiều đầu laser.
Theo xu hướng của phát minh mới giải pháp nhiều đầu sẽ được thay thế bằng
phương pháp chế tạo toàn bộ lớp kế tiếp nhau. (như hình bên dưới).
B.5. Độ chính xác:
Sự co rút phôi sẽ được giảm tối thiểu và được giữ độ chính xác trong khoảng cho
phép. Có thể sử dụng phương pháp môi trường vật lý, sự rung động sử dụng kết hợp với
trường để làm tăng độ nén của bột,
Trong trường hợp vật liệu có tính sắt từ như là một vài loại kim loại nên sử dụng từ trường.
Phương pháp chế tạo các lớp kế tiếp
Hình sau đây trình bày phương pháp chế tạo một vài lớp cùng một lúc để tiết kiệm thời gian
chế tạo:
Công nghệ tạo mẫu nhanh
25