KHU VỰC THƯƠNG MẠI TỰ DO ASEAN (AFTA) - Pdf 15

KHU VỰC THƯƠNG MẠI TỰ DO ASEAN (AFTA)
VÀ QUÁ TRÌNH GIA NHẬP AFTA CỦA VIỆT NAM
PHẦN I: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ AFTA
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH AFTA:
ASEAN là một trong những khu vực có nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ
nhanh nhất thế giới (tốc độ tăng trưởng kinh tế của ASEAN giai đoạn 1981-
1991 là 5,4%, gần gấp hai lần tốc độ tăng trưởng trung bình của thế giới). Tuy
vậy, trước khi AFTA ra đời, những nỗ lực hợp tác kinh tế của ASEAN đều
không đạt được mục tiêu mong muốn. ASEAN đã có các kế hoạch hợp tác kinh
tế như:
- Thoả thuận thương mại ưu đãi (PTA).
- Các dự án công nghiệp ASEAN (AIP).
- Kế hoạch hỗ trợ công nghiệp ASEAN (AIC) và Kế hoạch hỗ trợ sản
xuất công nghiệp cùng nhãn mác (BBC).
- Liên doanh công nghiệp ASEAN (AIJV)
Các kế hoạch hợp tác kinh tế kể trên chỉ tác động đến một phần nhỏ trong
thương mại nội bộ ASEAN và không đủ khả năng ảnh hưỏng đến đầu tư trong
khối.
Sự ra đời của AFTA:
Vào đầu những năm 90, khi chiến tranh lạnh kết thúc, những thay đổi trong
môi trường chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực đã đặt kinh tế các nước ASEAN
đứng trước những thách thức lớn không dễ vượt qua nếu không có sự liên kết
chặt chẽ hơn và những nỗ lực chung của toàn Hiệp hội, những thách thức đó là :
i). Quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ,
đặc biệt trong lĩnh vực thương mại, chủ nghĩa bảo hộ truyền thống trong
ASEAN ngày càng mất đi sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách trong
nước cũng như quốc tế.
ii). Sự hình thành và phát triển các tổ chức hợp tác khu vực mới đặc biệt
như EU, NAFTA sẽ trở thành các khối thương mại khép kín, gây trở ngại cho
hàng hoá ASEAN khi thâm nhập vào những thị trường này.
iii). Những thay đổi về chính sách như mở cửa, khuyến khích và dành ưu

(Common Effective Preferential Tariff), gọi tắt là CEPT.
CEPT là một thoả thuận chung giữa các nước thành viên ASEAN về
giảm thuế quan trong nội bộ ASEAN xuống còn từ 0-5%, đồng thời loại bỏ
tất cả các hạn chế về định lượng và các hàng rào phi quan thuế trong vòng
10 năm, bắt đầu từ 1/1/1993 và hoàn thành vào 1/1/2003. ( Đây là thời hạn
đã có sự đẩy nhanh hơn so với thời hạn ký Hiệp định ban đầu : từ 15 năm
xuống còn 10 năm).
Nói đến vấn đề xây dựng Khu vực mậu dịch tự do ASEAN là nói tới việc
thực hiện Hiệp định chung về thuế quan và phải hoàn thành 3 vấn đề chủ yếu,
không tách rời dưới đây :
- 2 -
- Thứ nhất là vấn đề giảm thuế quan : Mục tiêu cuối cùng của AFTA là giảm
thuế quan xuống 0-5%, theo từng thời điểm đối với các nước cũ và các nước
mới, nhưng thời hạn tối đa là trong vòng 10 năm.
- Thứ hai là vấn đề loại bỏ hàng rào phi quan thuế (NTB) : hạn ngạch, cấp giấy
phép, kiểm soát hành chính và hàng rào kỹ thuật : kiểm dịch, vệ sinh dịch tễ.
- Thứ ba là hài hoà các thủ tục Hải quan
B.Các Nội dung và Quy định cụ thể :
1. Vấn đề về thuế quan:
Các bước thực hiện như sau :
i) Bước 1 :Các nước lập 4 loại Danh mục sản phẩm hàng hoá trong biểu
thuế quan của mình để xác định các sản phẩm hàng hoá thuộc đối tượng
thực hiện CEPT:
- Danh mục các sản phẩm giảm thuế ngay ( Tiếng Anh viết tắt là IL).
- Danh mục các sản phẩm tạm thời chưa giảm thuế ( viết tắt là TEL).
- Danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm ( viết tắt là SEL)
- Danh mục các sản phẩm loại trừ hoàn toàn ( viết tắt là GEL)
Trong 4 loại Danh mục nói trên thì :
- Danh mục các sản phẩm loại trừ hoàn toàn (GEL): là những sản phẩm không
phải thực hiện các nghĩa vụ theo Hiệp định CEPT, tức là không phải cắt giảm

trong vòng 5 năm đầu và tiếp tục giảm xuống còn 0-5% trong 5 năm còn lại.
Cụ thể : Các sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ được giảm xuống 20% vào
1/1/1998, và tiếp tục giảm xuống còn 0-5% vào 1/1/2003.
+ Các sản phẩm có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% (⊆ 20%) sẽ được
giảm xuống còn 0-5% trong vòng 7 năm đầu .
Cụ thể : Các sản phẩm có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% sẽ được giảm
xuống còn 0-5% vào 1/1/2000.
Các nước có quyền được quyết định mức cắt giảm nhưng tối thiểu mỗi
năm 5 %, không được duy trì cùng thuế suất trong 3 năm liền, trong trường hợp
thuế MFN thay đổi tại một thời điểm nào đó nếu cao hơn thuế suất CEPT tại
thời điểm đó thì không được nâng thuế CEPT bằng mức thuế MFN đó; trường
hợp thuế MFN thấp hơn thuế CEPT thì việc áp dụng phải tự động theo thuế suất
MFN đó và phải điều chỉnh lịch trình. Không được nâng mức thuế CEPT của
năm sau lên cao hơn năm trước.
b) Danh mục các sản phẩm tạm thời chưa giảm thuế (TEL):
Để tạo thuận lợi cho các nước thành viên có một thời gian chuẩn bị và
chuyển hướng đối với một số sản phẩm tương đối trọng yếu, Hiệp định CEPT
cho phép các nước thành viên ASEAN được đưa ra một số sản phẩm tạm thời
chưa thực hiện tiến trình cắt giảm thuế quan ngay theo CEPT.
Tuy nhiên, Danh mục TEL này chỉ mang tính chất tạm thời, các sản phẩm
trong Danh mục loại trừ tạm thời sẽ được chuyển toàn bộ sang Danh mục cắt
giảm thuế(IL) ngay trong vòng 5 năm, kể từ năm thứ 4 thực hiện Hiệp định tức
là từ 1/1/1996 đến 1/1/2000, mỗi năm chuyển 20% số sản phẩm trong Danh mục
TEL vào Danh mục IL.
Lịch trình cắt giảm thuế của các sản phẩm chuyển từ Danh mục TEL sang
Danh mục IL này như sau:
- Đối với những sản phẩm có thuế suất trên 20%, phải giảm dần thuế suất
xuống bằng 20% vào thời điểm năm 1998, trường hợp các sản phẩm được
chuyển vào đúng hoặc sau thời điểm năm 1998 thì thuế suất lập tức phải
- 4 -

Công thức 40% hàm lượng ASEAN được xác định như sau:
Giá trị nguyên vật liệu, bộ
phận, các sản phẩm là đầu
vào nhập khẩu từ nước
không phải là thành viên
ASEAN
+
Giá trị nguyên vật liệu, bộ
phận, các sản phẩm là đầu
vào không xác định được
xuất sứ
X 100% <60%
- 5 -
Giá FOB
Trong đó :
+ Giá trị nguyên vật liệu, bộ phận, các sản phẩm là đầu vào nhập khẩu từ
các nước không phải là thành viên ASEAN là giá CIF tại thời điểm nhập
khẩu.
+ Giá trị nguyên vật liệu, bộ phận, các sản phẩm là đầu vào không xác định
được xuất sứ là giá xác định ban đầu trước khi đưa vào chế biến trên lãnh
thổ nước xuất khẩu là thành viên của ASEAN.
Nếu một sản phẩm có đủ ba điều kiện trên thì sẽ được hưởng mọi ưu đãi
mà quốc gia nhập khẩu đưa ra (sản phẩm được ưu đãi hoàn toàn). Nếu một sản
phẩm thoả mãn các yêu cầu trên trừ việc có mức thuế quan nhập khẩu bằng hoặc
thấp hơn 20% thì sản phẩm đó chỉ được hưởng thuế suất CEPT cao hơn 20%
trước đó hoặc thuế suất MFN, tuỳ thuộc thuế suất nào thấp hơn.
Để xác định các sản phẩm có đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan theo
chương trình CEPT hay không, mỗi nước thành viên hàng năm xuất bản Tài liệu
hướng dẫn trao đổi nhượng bộ theo CEPT (CCEM) của nước mình, trong đó thể
hiện các sản phẩm có mức thuế quan theo CEPT và các sản phẩm đủ điều kiện

ASEAN tiến hành việc buôn bán trong nội bộ Khu vực được dễ dàng và thuận
lợi, cũng như các cơ quan Hải quan ASEAN dễ dàng trong việc xác định mức
thuế cho các mặt hàng một cách thống nhất, ngoài ra phục vụ cho các mục đích
thống kê, phân tích, đánh giá việc thực hiện CEPT- AFTA, cũng như tình hình
xuất nhập khẩu nội khối, các nước đã quyết định sẽ thống nhất một biểu thuế
quan trong khối ASEAN ở mức 8 chữ số theo Hệ thống điều hoà của Hội đồng
hợp tác hải quan thế giới(HS). Hiện nay biểu thuế quan chung của ASEAN đang
được xây dựng, sẽ hoàn thành trong năm 2000 và được áp dụng từ năm 2000,
những nước nào chậm nhất cũng phải áp dụng từ năm 2002.
Thống nhất hệ thống tính giá hải quan: Vào năm 2000, các nước thành
viên ASEAN sẽ thực hiện phương pháp xác định trị giá hải quan theo GATT-
GTV (GATT Transactions Value), thực hiện điều khoản VII của Hiệp định
chung về thương mại và thuế quan 1994 ( Hiện nay là Tổ chức thương mại thế
giới WTO) để tính giá hải quan.
Một cách tóm tắt là giá trị hàng hoá để tính thuế xuất nhập khẩu là giá trị giao
dịch thực tế giữa người xuất khẩu và ngưòi nhập khẩu, không phải là do nhà
nước áp đặt.
Xây dựng Hệ thống Luồng xanh hải quan: Hệ thống này được thực hiện từ
1/1/1996 nhằm đơn giản hoá hệ thống thủ tục hải quan dành cho các hàng hoá
thuộc diện được hưởng ưu đãi theo Chương trình CEPT của ASEAN.
Thống nhất thủ tục hải quan: Hai vấn đề đã được các nước thành viên ưu
tiên trong việc thống nhất thủ tục hải quan là :
+ Mẫu tờ khai hải quan chung cho hàng hoá thuộc diện CEPT: Các nước
ASEAN đã gộp ba loại tờ khai hải quan: Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) Mẫu
D, Tờ khai hải quan xuất khẩu và Tờ khai hải quan nhập khẩu lại thành một mẫu
tờ khai hải quan chung cho hàng hoá thuộc diện CEPT.
+ Thủ tục xuất nhập khẩu chung: bao gồm những vấn đề sau:
a) Các thủ tục trước khi nộp tờ khai hàng hoá xuất khẩu;
b) Các thủ tục trước khi nộp tờ khai hàng hoá nhập khẩu;
- 7 -

CCCA
Ban Thư ký
ASEAN
Cơ quan AFTA
quốc gia của các
nước th nh viênà
- Ngoài ra tiến trình thực hiện AFTA còn được thông báo cho Hội nghị các Bộ
trưởng kinh tế ASEAN để tổng hợp, đánh giá chung các hoạt động hợp tác
kinh tế ASEAN.
- 9 -
PHẦN II. QUÁ TRÌNH THAM GIA KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ
DO ASEAN (AFTA) VÀ LỊCH TRÌNH GIẢM THUẾ CỦA VIỆT NAM
THEO CEPT/AFTA

A. Những thách thức và những cơ hội của Việt nam tham gia vào
AFTA:
Thuận lợi :
- Khi gia nhập AFTA , hàng hoá của Việt nam sẽ được hưởng thúê suất ưu
đãi thấp hơn cả thuế suất tối huệ quốc mà các nước ASEAN dành cho các
nước thành viên WTO, từ đó có điều kiện thuận lợi hơn để hàng hoá Việt
nam có thể thâm nhập thị trường của tất cả các nước thành viên ASEAN.
- Bên cạnh những thuận lợi thu được từ hoạt động thương mại trong nội bộ
khối , khi gia nhập AFTA, VN sẽ có thế hơn trong đàm phán thương mại
song phương và đa biên với các cường quốc kinh tế, cũng như các tổ chức
thương mại quốc tế lớn như Mỹ, nhật, EU hay WTO
- Tuy có những trùng lặp giữa VN và các nước ASEAN, nhưng có nhiều
lĩnh vực mà VN có thể khai thác từ thị trường các nước ASEAN như VN
có thế mạnh trong xuất khẩu nông sản, hàng dệt và may mặc, và ta cũng có
nhu cầu nhập nhiều mặt hàng từ các nước ASEAN với giá thấp hơn từ các
khu vực khác trên thế giới.

mục hàng nông sản chưa chế biến nhạy cảm (SL), danh mục loại trừ hoàn
toàn (GEL).
• Các mặt hàng thuộc danh mục IL sẽ bắt đầu giảm thuế từ 1/1/1996
và kết thúc với thuế suất 0-5% vào 1/1/2006. Các mặt hàng có thuế suất trên
20% phải giảm xuống 20% vào 1/1/2001. Các mặt hàng có thuế suất nhỏ hơn
hoặc bằng 20% sẽ giảm xuống 0-5% vào 1/1/2003.
• Các mặt hàng thuộc danh mục TEL sẽ được chuyển sang danh mục
IL trong vòng 5 năm, từ 1/1/1999 đến 1/1/2003, mỗi năm chuyển 20%, để
thực hiện giảm thuế với thuế suất cuối cùng là 0-5% vào năm 2006. Đồng
thời, các bước giảm sau khi đưa vào IL phải được thực hiện chậm nhất là 2-3
năm một lần và mỗi lần giảm không ít hơn 5%.
• Các mặt hàng thuộc danh mục SL sẽ bắt đầu giảm thuế từ 1/1/2004
và kết thúc vào 1/1/2013 với thuế suất cuối cùng là 0-5%. Riêng mặt hàng
đường vào năm 2010 :0-5%.
• Các mặt hàng đã đưa vào chương trình giảm thuế và được hưởng
nhượng bộ thì phải bỏ ngay các quy định về hạn chế số lượng (QRs) và bỏ
dần các biện pháp hạn chế phi quan thuế khác (NTBs) 5 năm sau đó.
2. Tình hình thực hiện của ta cho đến nay :
a). Năm 1996 Việt nam đã công bố cho ASEAN các loại Danh mục:
Danh mục cắt giảm thuế IL; Danh mục loại trừ tạm thời TEL; Danh mục hàng
nông sản chưa chế biến nhậy cảm SL và Danh mục loại trừ hoàn toàn GEL;
Nguyên tắc xây dựng phương án tham gia của Việt nam :
- Không gây ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách
- Bảo hộ hợp lý cho nền sản xuất trong nước
- Tạo điều kiện khuyến khích việc chuyển giao kỹ thuật, đổi mới công
nghệ cho nền sản xuất trong nước
- 11
-
- Hợp tác với các nước ASEAN trên cơ sở các qui định của Hiệp định
CEPT để tranh thủ ưu đãi, mở rộng thị trường cho xuất khẩu và thu hút đầu tư

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đồng thời trên cơ sở tham khảo Danh
mục này của các nước ASEAN khác. Các mặt hàng này đang được áp dụng các
biện pháp phi thuế quan như quản lý theo hạn ngạch hàng tiêu dùng, quản lý của
Bộ chuyên ngành.
iii.Danh mục cắt giảm thuế ngay (IL):
- 12
-
Danh mục này chủ yếu bao gồm những mặt hàng trong Biểu thuế hiện đang
có thuế suất dưới 20% - là những mặt hàng thuộc diện có thể áp dụng ưu đãi
theo CEPT ngay và một số mặt hàng tuy có thuế suất cao nhưng Việt nam lại
đang có thế mạnh về xuất khẩu. Tổng số nhóm mặt hàng trong Danh mục cắt
giảm thuế quan là 1661, chiếm 51,6% tổng nhóm mặt hàng trong Biểu thuế nhập
khẩu của Việt Nam. Tỷ lệ này thấp hơn so với các nước thành viên ASEAN
khác khi họ bắt đầu thực hiện chương trình CEPT, nhưng đây là biện pháp an
toàn nhất đối với Việt Nam.
ii. Danh mục loại trừ tạm thời (TEL):
Danh mục này chiếm khoảng 40,9% tổng số các dòng thuế trong Biểu thuế
nhập khẩu và chủ yếu là những mặt hàng sau:
• Các loại ô tô (trừ các loại ô tô dưới 16 chỗ ngồi);
• Xe đạp, các loại đồ chơi trẻ em;
• Các loại máy gia dụng (như máy giặt, máy điều hoà, quạt điện, );
• Các loại mỹ phẩm và đồ dùng không thiết yếu;
• Các loại vải sợi và một số đồ may mặc;
• Các loại sắt, thép;
• Các sản phẩm cơ khí thông dụng;
Đây chủ yếu là các mặt hàng có thuế suất trên 20% và một số mặt hàng tuy
có thuế suất thấp hơn 20% nhưng trước mắt cần thiết phải bảo hộ bằng thuế
nhập khẩu, hoặc các mặt hàng đang được áp dụng các biện pháp phi thuế quan
như các biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu, hàng phải có giấy phép của Bộ
quản lý chuyên ngành, hàng phải qua kiểm tra nhà nước về chất lượng, hàng

09/2000/NĐ-CP ngày 21/3/2000. Việt nam đã công bố cho ASEAN.
Danh mục hàng hoá cắt giảm thuế nhập khẩu thực hiện CEPT năm 2000
của Việt nam là các mặt hàng được cắt giảm thuế và mức thuế suất tương ứng
của năm 2000.
Danh mục CEPT 2000 của Việt Nam bao gồm 4230 dòng thuế ( một
dòng thuế là một mặt hàng), chiếm gần 68% tổng số dòng thuế phải thực hiện
cắt giảm theo CEPT, trong đó:
• Có 3590 dòng thuế đã được đưa vào thực hiện CEPT từ những năm
1999 trở về trước ( từ 1996 đến 1999) và tiếp tục được cắt giảm theo
tiến trình, do vậy hầu hết các mức thuế đều thấp hơn mức thuế MFN
hiện hành vì được giảm với tỷ lệ ít nhất là 5% mỗi năm.
• Và khoảng 640 dòng mới được chuyển từ Danh mục loại trừ tạm thời
(TEL) vào thực hiện cắt giảm trong năm 2000 chiếm khoảng 25%
tổng số dòng thuế còn nằm trong Danh mục loại trừ tạm thời (TEL)
tính đến hết năm 1999. Hiện nay số dòng thuế còn lại trong Danh mục
TEL là khoảng 1.800 dòng và phải tiếp tục đưa vào cắt giảm trong 3
năm tiếp theo đến 2003, mỗi năm cũng phải đưa vào khoảng 600
dòng.
Trong tổng số 4230 dòng thuế đưa vào thực hiện CEPT 2000 có:
• Khoảng 1680 dòng thuế có mức thuế suất bằng 0%, chiếm 39% tổng
số dòng thuế CEPT 2000 ( 1680 dòng /4230 dòng);
• Khoảng 2960 dòng thuế có mức thuế suất từ 0% -5% , chiếm 70%
tổng số dòng thuế CEPT 2000;
- 14
-
• Khoảng 820 dòng thuế trên 5% và dưới 20%, chiếm 20% tổng số
dòng thuế CEPT 2000;
• Khoảng 450 dòng thuế từ 25-50%, chiếm 10% tổng số dòng thuế
CEPT 2000;
• Mức thuế trên 50%-100% : Không có dòng thuế nào ( để dồn vào các

mạnh xuất khẩu như dệt, may, điện tử Những SFCN quan trọng khác thì
chưa đưa vào cắt giảm ngay.
- 15
-
- Mặc dù có những mặt hàng đã đưa vào thực hiện CEPT, nhưng ta vẫn còn
thời gian áp dụng các biện pháp hạn chế phi thuế quan (trong vòng 5 năm sau
khi đưa vào CEPT) nên vẫn có thể khống chế được lượng nhập khẩu vào Việt
Nam. Trong khi đó đối với ta việc áp dụng các biện pháp phi thuế quan mới
tác động nhiều tới việc hạn chế nhập khẩu.
- Hầu hết các mặt ngành công nghiệp cần bảo hộ đều được đưa vào Danh mục
loại trừ tạm thời (TEL) để có thời gian cắt giảm thuế dài hơn: bắt đầu từ
1999-2003, chẳng hạn như: ô tô, xe máy, các sản phẩm cơ khí thông
dụng Hoặc vẫn còn được giữ lại trong Danh mục GE.
- Việc áp dụng giá tính thuế tối thiểu vẫn được duy trì đối với 15 nhóm mặt
hàng nên không tác động tới sự ổn định của thu Ngân sách.
BỘ TÀI CHÍNH, VỤ QUAN HỆ QUỐC TẾ
- 16
-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status