TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU SẢN
XUẤT NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRONG QUÁ
TRÌNH HỘI NHẬP KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO
ASEAN-AFTA
để vừa mở cửa ra thị trường khu vực, vừa củng cố được thị trường trong nước;
khai thác tối đa thời cơ mới của hội nhập kinh tế khu vực, đồng thời có giải pháp
hạn chế và khắc phục những tác động tiêu cực của quá trình ấy. Điều này chỉ có
thể đạt được khi chúng ta tạo được những mặt hàng nông sản phù hợp với điều
kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của đất nước, với năng suất cao, chất lượng tốt, giá
bán hợp lý, có khả năng cạnh tranh cao so với các sản phẩm cùng loại của các
nước ASEAN khác. Giải pháp tối ưu hiện nay cho nền nông nghiệp nước ta là
phải có có những thay đổi trong việc lựa chọn cơ cấu sản xuất cho phù hợp với
nhu cầu của thị trường, đồng thời phát huy được tối đa lợi thế so sánh của nền
nông nghiệp nước nhà.
Đối với Việt Nam, đây là một nhiệm vụ khó vì: một mặt, xuất phát điểm
của nền nông nghiệp nước ta còn thấp, nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng đáng
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cao Nam H¶i - Líp Nga - K38
kể trong GDP, và nhất là có ảnh hưởng lớn đến đại bộ phận dân cư. Mặt khác, khả
năng cạnh tranh và tận dụng, phát huy được những cơ hội do AFTA đem lại đòi
hỏi phải có những hiểu biết sâu sắc về phân tích ngành hàng, đa dạng hoá sản xuất
theo yêu cầu của thị trường, xúc tiến thương mại và giành cơ hội thâm nhập, mở
rộng thị trường. Do vậy, việc lựa chọn những bước đi phù hợp để điều chỉnh một
cách có cơ sở khoa học cơ cấu sản xuất nông nghiệp của đất nước là rất cần thiết
nhằm đảm bảo cho quá trình hội nhập vào AFTA thành công. Nắm bắt nhu cầu
thực tế bức xúc đó, Khoá luận: “Một số giải pháp điều chỉnh cơ cấu sản xuất
nông nghiệp của Việt Nam trong quá trình hội nhập khu vực mậu dịch tự do
ASEAN-AFTA” đã được lựa chọn nhằm đóng góp một phần vào việc đáp ứng nhu
cầu thực tiễn đang đặt ra hiện nay.
Mục đích nghiên cứu của Khoá luận là:
- Làm rõ khuôn khổ pháp lý và sự cần thiết phải điều chỉnh cơ cấu sản xuất
cho Việt Nam.
Chương II: nêu khái quát tình hình phát triển nông nghiệp Việt Nam, phân
tích, đánh giá khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu của một số
mặt hàng nông sản chính của Việt Nam thời gian qua (theo nhóm sản phẩm), đồng
thời phân tích cơ sở khoa học của việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Việt Nam trong quá trình hội nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN/AFTA, cũng
như phân tích thực trạng cơ cấu sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu hàng nông sản
của Việt Nam hơn một thập kỷ qua từ đó rút ra những nhận xét cần thiết về quá
trình điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp nước ta thời gian vừa qua.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cao Nam H¶i - Líp Nga - K38
Chương III: đề xuất một số kiến nghị về quan điểm, định hướng và giải
pháp chính sách nhằm tiếp tục hoàn thiện việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông
nghiệp nước ta trong những năm tới, góp phần giúp cho nền nông nghiệp Việt
Nam vững vàng hội nhập ASEAN/AFTA.
Đây là một vấn đề mới, lại đề cập tới một nội dung rộng gồm nhiều mặt
hàng, diễn biến thị trường rất mau lẹ, phức tạp và khó lường trong khi khả năng
điều tra thu thập số liệu còn gặp nhiều hạn chế trong khuôn khổ của một Khoá
luận tốt nghiệp, nên đề tài chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Do vậy, em rất mong
nhận được các ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn, để tiếp tục hoàn thiện vấn
đề nghiên cứu trong Khóa luận này.
Qua Khoá luận tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và
chỉ bảo tận tình của cô giáo Vũ Thị Hiền - Giảng viên khoa Kinh tế ngoại thương
cùng tất cả các thày, cô giáo trường Đại học Ngoại thương Hà Nội đã trang bị cho
em những kiến thức quý báu giúp em hoàn thành Khoá luận tốt nghiệp này.
nông nghiệp của Việt Nam trong điều kiện hội nhập AFTA 8
1. Khái niệm cơ cấu kinh tế và điều chỉnh cơ cấu kinh
tế 8
2. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và sự cần thiết điều phải chỉnh cơ cấu sản xuất
nông nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập AFTA 9
3. Các nhân tố tác động đến điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp Việt
Nam 11
II. Kinh nghiệm điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong quá trình hội
nhập AFTA của một số nước Đông Nam
Á 13 Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cao Nam H¶i - Líp Nga - K38
1. Điểm tương đồng giữa Việt Nam và các nước được phân
tích 13
2. Kinh nghiệm điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp của các nước Đông Nam
Á trong quá trình hội nhập AFTA 15
3. Một số vấn đề rút ra từ kinh nghiệm điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp của
một số nước Đông Nam Á 27
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
VÀ CƠ CẤU HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI
ĐOẠN VỪA QUA
I. Khái quát chung về ngành nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn vừa
qua 30
II. Thực trạng năng lực của hàng nông sản Việt Nam trong cạnh tranh với các
sản phẩm cùng loại của các nước ASEAN khác khi CEPT/AFTA hoàn
TỤC HOÀN CHỈNH ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU SẢN XUẤT ĐỂ NÔNG NGHIỆP VIỆT
NAM VỮNG VÀNG HỘI NHẬP AFTA
I. Quan điểm và mục tiêu điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp 67
II. Định hướng điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp nước ta trong thời gian
tới cho phù hợp với quá trình hội nhập vào khu vực mậu dịch tự do
ASEAN/AFTA 72
1. Định hướng chung về công tác điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp nước ta
trong thời gian tới 72
2. Định hướng điều chỉnh cơ cấu sản xuất đối với từng nhóm sản phẩm nông sản
cụ thể trong thời gian
tới 73
3. Định hướng điều chỉnh cơ cấu sản xuất theo
vùng 77
III. Kiến nghị một số giải pháp, chính sách nhằm tiếp tục hoàn chỉnh điều chỉnh
cơ cấu sản xuất để ngành nông nghiệp Việt nam vững vàng hội nhập
AFTA 78
1. Thực hiện phù hợp một số chính sách nhằm đẩy nhanh quá trình điều chỉnh cơ
cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng hội
nhập 79
1.1. Chính sách đất đai 79
1.2. Chính sách thuế.
80 Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cao Nam H¶i - Líp Nga - K38
1.3. Chính sách đầu tư, tín dụng 81
2. Tuyên truyền và phổ biến rộng rãi các cam kết và lịch trình thực hiện
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cao Nam H¶i - Líp Nga - K38
PHU LỤC 6
PHU LỤC 7
PHU LỤC 8 Kho¸ luËn tèt nghiÖp 1
Cao Nam H¶i - Líp Nga - K38
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI HÀNG NÔNG SẢN THEO
QUY ĐỊNH CỦA AFTA VÀ VẤN ĐỀ ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU SẢN
XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI
NHẬP KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN/AFTA
I. KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN (AFTA) VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH
CỦA AFTA VỀ THƯƠNG MẠI CÁC MẶT HÀNG NÔNG SẢN
1. Sự ra đời của ASEAN và AFTA
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là một tổ chức hợp tác
khu vực được thành lập ngày 08/08/1967 theo Tuyên bố Băng Cốc với năm
nước thành viên sáng lập gồm: Inđônêxia, Malaysia, Xingapo, Philippin và
Thái Lan. Năm 1984, ASEAN kết nạp thêm Brunei, sau đó kết nạp thêm 4
thành viên mới là Việt Nam (28/07/1995), Lào, Myanma (23/07/1997),
Campuchia (30/04/1999). Đến nay, tổng số thành viên ASEAN là 10 nước khu
vực Đông Nam Á.
Ngay sau khi thành lập, các nước ASEAN đã đưa ra nhiều kế hoạch hợp
tác kinh tế như: Thoả thuận thương mại ưu đãi, các dự án công nghiệp ASEAN;
lựa chọn rộng rãi đối với những sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao và giá cả
ngày một thấp hơn.
2. Một số quy định chung của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-AFTA
Để đạt các mục tiêu nêu trên, nhất là mục tiêu tự do thương mại trong
khối, các nước đã tiến hành ký kết Hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực
chung (CEPT). Đây là một thoả thuận nội bộ giữa các nước thành viên về lịch
trình cắt giảm thuế quan thương mại xuống còn tối đa là 5%, đồng thời trong
vòng từ 10 năm, từ 1993 đến 2003 phải loại bỏ tất cả các hạn chế khối lượng và
các hàng rào phi thuế quan để sau đó luồng hàng hoá được trao đổi tự do, thông
thoáng hơn giữa các nước thành viên. Trong Hiệp định CEPT các quy định của
AFTA đã được trình bày rất cụ thể, bao gồm:
Kho¸ luËn tèt nghiÖp 3
Cao Nam H¶i - Líp Nga - K38
2.1. Về thuế quan
Để thực hiện cắt giảm thuế quan có hiệu quả nhất, Hiệp định yêu cầu
mỗi nước phải phân loại tất cả hàng hoá của mình vào một danh mục định sẵn.
Việc hình thành các danh mục này là nhằm để giúp các nước có sự chuẩn bị
trước khi hội nhập vào AFTA một cách có lợi nhất. Đây đồng thời cũng là lịch
trình cam kết của các nước trong việc cắt giảm thuế quan và xoá bỏ các hàng
rào bảo hộ. Xuất phát từ định hướng đó, CEPT đã đưa ra lộ trình cắt giảm thuế
quan theo 4 danh mục hàng hoá:
Danh mục cắt giảm ngay (Inclusion List-IL)
IL bao gồm những mặt hàng sẽ phải cắt giảm thuế quan ngay lập tức,
đồng thời xoá bỏ hạn chế về số lượng và các hàng rào phi thuế quan khác. Mức
thuế cho những sản phẩm này giảm tới mức tối đa 20% vào năm 1998 và còn
0-5% vào năm 2001. Những nước thành viên mới sẽ được hưởng ân hạn thực
hiện nghĩa vụ cắt giảm này, cụ thể: Việt Nam đến năm 2006, Lào và Myanma
và Myanma đến 2015, Campuchia đến 2017 (đến năm 2000 còn 0,58% số dòng
thuế của ASEAN trong danh mục này). Điều này chứng tỏ phần lớn các mặt
hàng nông sản chưa chế biến đã được các nước ASEAN đưa ngay vào Danh
mục Giảm thuế (IL) hoặc Danh mục Loại trừ tạm thời (TEL), chỉ một số ít mặt
hàng nông sản chưa chế biến có tầm quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân
được các nước ASEAN đưa vào Danh mục Nhạy cảm (SL).
Mức thuế suất thực hiện CEPT/AFTA chỉ được duy trì tối đa trong 3
năm liên tiếp, sau đó sẽ được cắt giảm để đạt mục tiêu giảm thuế 0-5% vào
năm 2006. Mỗi bước giảm thuế không thấp hơn 5%.
2.2. Cơ chế trao đổi nhượng bộ của CEPT
Theo quy định này, một sản phẩm muốn được hưởng nhượng bộ về thuế
quan khi xuất khẩu trong khối thì cần phải thoả mãn đồng thời 3 điều kiện sau:
- Phải thuộc Danh mục cắt giảm thuế của cả nước xuất khẩu và nước
nhập khẩu; phải có mức thuế quan (nhập khẩu) bằng hoặc thấp hơn 20%.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp 5
Cao Nam H¶i - Líp Nga - K38
- Phải có chương trình cắt giảm thuế được Hội đồng AFTA thông qua.
- Phải là một sản phẩm của khối ASEAN, tức là phải thoả mãn yêu cầu
hàm lượng xuất xứ từ các nước thành viên ASEAN (hàm lượng nội địa) ít nhất
là 40%.
CÔNG THỨC: 40% HÀM LƯỢNG ASEAN = (A+B)/GIÁ FOB X 100% 60%
Trong đó: A: là giá trị nguyên vật liệu, bộ phận, các sản phẩm là đầu vào
nhập khẩu từ các nước không phải là thành viên ASEAN (theo giá CIF tại thời
điểm nhập khẩu).
B: là giá trị nguyên vật liệu, bộ phận, các sản phẩm là đầu vào
không xác định được xuất xứ (theo giá xác định ban đầu trước khi đưa vào chế
biến trên lãnh thổ của nước xuất khẩu là thành viên của ASEAN).
1716 mặt hàng với mức thuế suất bình quân 6,1% (so với mức thuế suất nhập
khẩu bình quân của mặt hàng không thuộc CEPT là 7,2%). Năm 1999 Việt
Nam đã đưa vào danh mục IL thực hiện CEPT là 3582 mặt hàng (chiếm 41,3%
tổng số mặt hàng đánh thuế của Việt Nam).
Trong danh mục IL, bắt đầu từ 01/01/2001 mức thuế suất của những mặt
hàng chịu thuế suất trên 20% sẽ được giảm xuống 20% và sẽ đạt 0-5% từ
01/01/2006. Mức thuế suất của những mặt hàng chịu thuế suất dưới 20% sẽ
được giảm xuống còn 0-5% từ năm 2003.
Trong danh mục TEL có hầu hết các mặt hàng hiện đang được sản xuất
tại Việt Nam. Những mặt hàng này sẽ được chuyển vào danh mục IL trong 5
thời điểm cách đều nhau từ 1999-2003 với thuế suất giảm xuống còn 0-5% vào
2006.
Các mặt hàng thuộc danh mục SL sẽ được giảm thuế suất xuống còn 0-
5% vào năm 2013.
Các mặt hàng thuộc danh mục GEL do Việt Nam đệ trình tại Hội nghị
thượng đỉnh ASEAN năm 1995 là nhiều nhất so với các nước ASEAN khác
(165 sản phẩm, chiếm 5,5% tổng số các dòng thuế, trong khi đó các nước khác
chỉ có khoảng 3- 3,3% số dòng thuế thuộc danh mục này). Những mặt hàng này
chiếm tới 41% số lượng hàng nhập khẩu của Việt Nam từ ASEAN (năm 1996),
Kho¸ luËn tèt nghiÖp 7
Cao Nam H¶i - Líp Nga - K38
trong đó nhiều mặt hàng được bảo hộ với mục đích tăng thu Ngân sách thông
qua thuế nhập khẩu (như nhiên liệu, thu phát truyền thanh, truyền hình, xe dưới
16 chỗ, hàng tiêu dùng đã qua sử dụng ). Điều này có nghĩa là Việt Nam đang
bảo hộ cho khoảng 41% mậu dịch với ASEAN khỏi sự điều chỉnh của AFTA.
3.2. Cam kết trong lĩnh vực nông nghiệp
Bảng 1: Lịch trình giảm thuế theo CEPT/AFTA của Việt Nam đối với các
sản phẩm nông, lâm nghiệp chính
10%
15%
5%
15% 10% 10% 5%
Chè:
Sơ chế
Thành phẩm
15%
40%
15%
30%
10%
20%
10%
15%
5%
15% 15% 10% 5%
Hạt điều
20% 15% 15% 15% 10% 10% 10% 5%
Cây có dầu
10% 10% 10% 10% 10% 5%
Đường
35% 40%
Gỗ
5% 5% 5% 5% 5% 5% 5% 5%
Thịt lợn
15% 15% 15% 15% 15% 10% 10% 5%
Nguồn: Nghị định 78/2003CP(ngày 01/07/2003) - Công báo(Ngày 22/07/2003)
Tính đến 31/12/2000, tổng số các mặt hàng nông sản có trong danh mục
Biểu thuế ưu đãi hiện hành của Việt Nam là 840 dòng thuế, trong đó: có 51
Kho¸ luËn tèt nghiÖp 8
Cao Nam H¶i - Líp Nga - K38
dòng thuế thuộc Danh mục SL, 17 dòng thuộc Danh mục GEL, 569 dòng thuế
đã đưa vào thực hiện cắt giảm IL và 203 dòng thuế thuộc Danh mục TEL.
Như vậy, có thể thấy phần lớn các mặt hàng nông sản của ta đã được đưa
1.2. Điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Trong quá trình phát triển, cơ cấu kinh tế luôn thay đổi tuỳ theo từng
thời kỳ do tính không cố định của các yếu tố hợp thành. Đó là sự thay đổi về số
lượng của các ngành hoặc sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các
vùng do tốc độ tăng trưởng không đều của các yếu tố cấu thành trong cơ cấu
kinh tế. Cơ cấu kinh tế thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù
hợp với môi trường phát triển tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế này không chỉ đơn thuần là chuyển dịch về vị trí mà còn là
sự thay đổi về lượng và chất của cơ cấu kinh tế. Nội dung của chuyển dịch cơ
cấu kinh tế là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu để hình thành một cơ cấu tiên tiến, hoàn
thiện, phù hợp hơn với những thay đổi của điều kiện kinh tế, xã hội đất nước
(tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông
nghiệp trong GDP cả nước…). Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá
trình liên tục và về thực chất đó là sự điều chỉnh cơ cấu thể hiện ở cả ba nội
dung là cơ cấu ngành (nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ), cơ cấu thành phần
và cơ cấu vùng lãnh thổ.
2. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và sự cần thiết phải điều chỉnh cơ cấu
sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập AFTA
2.1. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Khu vực nông nghiệp và nông thôn đóng vai trò quan trọng trong sự
nghiệp phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt đối với các nước đang phát triển do
nông nghiệp có đóng góp lớn vào giá trị GDP của toàn bộ nền kinh tế, vào
nguồn thu ngoại tệ của đất nước và vào giải quyết việc làm cho lực lượng lao
động xã hội.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp 10
Cao Nam H¶i - Líp Nga - K38
Vì vậy, việc xây dựng một cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp với đặc
Cao Nam H¶i - Líp Nga - K38
thị trường xuất khẩu lên cao, các hộ nông dân ồ ạt chặt các cây trồng truyền
thống, trồng các loại cây mới một cách tự phát, thiếu quy hoạch, thiếu phương
phương pháp khoa học. Thực tế này dẫn tới chất lượng sản phẩm làm ra không
đạt yêu cầu, giá xuất khẩu giảm mạnh hoặc không có người mua, người nông
dân không biết làm gì với sản phẩm mình làm ra. Hệ quả tất yếu là người nông
dân một lần nữa lại chặt bỏ loại cây mới trồng, gây nên những thiệt hại lớn về
kinh tế, tạo ra bất ổn về chính trị, xã hội. Hơn thế nữa, sau khi Việt Nam cam
kết thực hiện quy định của AFTA về tự do thương mại hàng nông sản, hàng
hoá nông phẩm của nước ta lại phải đối mặt với những thách thức mới. Các
nước ASEAN do có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, khí hậu gần giống với Việt
Nam với các loại nông phẩm xuất khẩu gần giống Việt Nam, nên khi
CEPT/AFTA hoàn thành vào năm 2010 sẽ trở thành các đối thủ cạnh tranh thực
sự của nông sản Việt Nam. Để có khả năng cạnh tranh, nền nông nghiệp nước
ta phải tập trung sản xuất một số loại sản phẩm chủ lực, độc đáo, phù hợp với
điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đất nước với chất lượng tốt, giá thành hợp lý
đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Điều này chỉ có
thể có được khi nền nông nghiệp được điều chỉnh một cách hợp lý phù hợp với
quá trình tự do hoá kinh tế theo xu hướng hội nhập. Chính vì vậy, việc điều
chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam là một tất yếu khách quan trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mà AFTA là bước đi đầu tiên.
Vấn đề này cũng đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc IX “chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hoá lớn, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh
của hàng nông sản trên thị trường”, và trong Nghị quyết 09/2000/NQ - CP ngày
15/06/2000 của Chính phủ về một số chủ trương, chính sách chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp: “Việc lựa chọn cơ cấu, quy mô
và chủng loại sản phẩm các ngành hàng sản xuất nông nghiệp phải khai thác lợi
thế của cả nước và từng vùng, bám sát nhu cầu trong nước và thế giới, phải có
khả năng tiêu thụ được hàng hoá, có hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, sinh thái.”
cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu sản xuất nông nghiệp nói riêng. Đường lối
đối ngoại rộng mở, rõ ràng, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế mà
Kho¸ luËn tèt nghiÖp 13
Cao Nam H¶i - Líp Nga - K38
nước ta đang thực hiện rõ ràng có tác động quan trọng tới chuyển dịch cơ cấu
sản xuất. Nhà nước xây dựng và quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội cụ thể của đất nước
mà về thực chất, đó là các định hướng phát triển, định hướng phân bổ nguồn
lực và đầu tư theo ngành, vùng và lãnh thổ. Nhà nước thông qua hệ thống chính
sách, luật pháp để khuyến khích hay hạn chế đối với các hoạt động sản xuất
kinh doanh theo định hướng được xác định. Như vậy, sự đồng bộ và tính ổn
định của môi trường thể chế có ý nghĩa quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu
ngành, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu lãnh thổ.
IV. KINH NGHIỆM ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO
ASEAN (AFTA) CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á
1. Điểm tương đồng giữa Việt Nam và các nước được phân tích
Trong số 10 nước thành viên ASEAN, có 4 nước nông nghiệp phát triển
khá là Thái Lan, Malaysia, Inđônêxia và Philippin. Do vậy, đề tài này sẽ tập
trung khái quát những kinh nghiệm của họ trong việc điều chỉnh cơ cấu sản
xuất nông nghiệp trong quá trình hội nhập AFTA để tham khảo cho trường hợp
Việt Nam, bởi mấy lý do sau:
- Thứ nhất, nền nông nghiệp những nước này vẫn còn đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế đất nước và 5 nước (bao gồm cả Việt Nam) cùng đang
chiếm thị phần khá lớn trên thị trường nông sản thế giới (chiếm tới 45% tổng
lượng gạo xuất khẩu của thế giới, 80% lượng cao su xuất khẩu, chiếm thị phần
lớn trong trong xuất khẩu cà phê và dầu ăn )
- Thứ hai, cả 5 nước ASEAN này đều có những điều kiện tự nhiên giống
Thái Lan
1874 48,8 10 3.6
Philippin
927,6 37,4 15 1.9
Inđônêxia
680,2 45,3 16 2.8
Việt Nam
427,8 76,8 23,6 4.2
Nguồn: Tư liệu kinh tế các nước thành viên ASEAN, NXB Thống k
ê,
HN 2002, tr. 12, 62
Trong khi đó, tại Việt Nam mức độ đóng góp của nông nghiệp vào GDP,
tỷ lệ lao động nông nghiệp trong lực lượng lao động xã hội vẫn rất lớn. Tại Việt
Nam và Thái Lan còn tương ứng 69% và 50% lực lượng lao động tìm kiếm
việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp (ở Malaysia, chỉ có 16% lực lượng lao
động được thu hút vào sản xuất nông nghiệp). Ngành nông nghiệp của 2 nước
Philippin và Inđônêxia cũng là khu vực giải quyết việc làm cho trên 40% lực
lượng lao động xã hội.
Bảng 3: Sản lượng một số sản phẩm nông nghiệp chủ lực của 4 nước
ASEAN và Việt Nam năm 2001 (Đơn vị:1000tấn)
Kho¸ luËn tèt nghiÖp 15
Cao Nam H¶i - Líp Nga - K38
Inđônêxia
Malaysia Philippin Thái Lan Việt Nam
Lúa 50.096 2.215 12.954,9 25.200 31.970,2
Mía 23.500 1.600 28.237,9 49.070 14.325,4
Ngô 9.090 67 4.525 4.673 2.122,9