Luận văn tốt nghiệp 1 GVHD: TS. Trần Quý Liên
LỜI NÓI ĐẦU
Khi Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức kinh tế thế giới
WTO, thì thị trường kinh tế tại nước ta ngày càng trở lên sôi động. Các công ty đang
tiếp tục những biện pháp hoàn thiện chính mình để sẵn sàng đối mặt với nền kinh tế
cạnh tranh sắp tới. Và vai trò của Nhà nước trong giai đoạn này là rất quan trọng,
việc đảm bảo một hệ thống cơ sở hạ tầng tốt sẽ giúp nhà nước tạo điều kiện cho sự
phát triển của các doanh nghiệp trong nước và sự thu hút đầu tư của nước ngoài.
Trong đó yếu tố quan trọng hiện nay là việc hoàn thiện hệ thống mạng lưới giao
thông, do vậy trong thời gian gần đây rất nhiều dự án giao thông đã được tiến hành.
Từ đó em thấy rằng khi đất nước tiến vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới thì
ngành, lĩnh vực tiên phong là ngành xây dựng cầu đường. Các công ty hoạt động
trong lĩnh vực này cần nhanh chóng hoàn thiện mình hơn nữa mới có thể cạnh tranh
được một hệ thống đồ sộ các công ty nước ngoài, đặc biệt là đối với các công ty hoạt
động trong lĩnh vực tư vấn thiết kế, vì từ trước đến này ngành tư vấn thiết kế ở nước
ta đã phát triển nhưng sự phát triển này chưa cao, nên có rất nhiều công trình cầu
đường giao thông phải nhờ đến sự tư vấn của các chuyên gia nước ngoài. Chính vì
vậy các công ty tư vấn thiết kế muốn tồn tại trong giai đoạn này và trong tương lai thì
cần thiết phải hoàn thiện mình về đội ngũ cán bộ, và đặc biệt là hoạt động công tác kế
toán nhằm có được những thông tin kịp thời giúp đưa ra những quyết định đúng đắn
nhất. Trong hoạt động của đội ngũ kế toán thì kế toán phần hành tập hợp chi phí và
tính giá thành sản phẩm vẫn là một phần hành kế toán được sự quan tâm nhiều nhất
và là cần thiết nhất trong công tác kế toán của công ty. Nhận thấy được tầm quan
trọng của kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm trong công ty cổ phần tư vấn
thiết kế cầu đường em đã nâng chuyên đề thực tập tốt nghiệp của em với đề tài:
"Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ
phần tư vấn thiết kế cầu đường" để làm luận văn tốt nghiệp.
Phạm Thị Thu Hường Kế toán 45B
Luận văn tốt nghiệp 2 GVHD: TS. Trần Quý Liên
Luận văn tốt nghiệp của em gồm ba phần chính:
Phần 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Xây dựng được coi là một ngành công nghiệp đặc biệt vì nếu xét về mặt tài chính
và theo đà công nghiệp hóa ngành xây dựng trong điều kiện hiện nay thì ngành xây
dựng sẽ càng giống các ngành kinh tế khác hơn. Về mặt tài chính ngành xây dựng có
các đặc điểm riêng sau:
Do thời gian thi công dài nên phải tổ chức nghiệm thu và thanh toán theo từng
phần khối lượng công trình chứ không chờ đến khi công trình hoàn tất mới thanh toán
như trong các ngành công nghiệp khác.
Phạm Thị Thu Hường Kế toán 45B
Luận văn tốt nghiệp 4 GVHD: TS. Trần Quý Liên
Phần lớn số vốn của ngành xây dựng bỏ vào những công trình chưa hoàn thành.
Vì vậy phải cố gắng tập trung tiền vốn để rút ngắn thời hạn thi công xây dựng. Càng
rút ngắn được kỳ hạn thi công xây dựng thì càng giúp tăng lợi nhuận và tiết kiệm vốn
cho ngành xây dựng. Đặc điểm này cũng thể hiện sự khác biệt giữa ngành xây dựng
với các ngành công nghiệp khác.
Mặt khác do điều kiện xây dựng mỗi công trình không giống nhau nên việc kiểm
tra tài chính đối với chất lượng sản phẩm không những chỉ đối với công việc có tính
chất sản xuất mà phải đối với cả văn kiện dự toán thiết kế và những luận chứng kinh
tế kỹ thuật của công trình.
Do đặc điểm của ngành xây dựng cầu đường nói riêng và ngành xây dựng nói
chung có những điểm khác biệt so với các ngành công nghiệp nên sản phẩm xây lắp
của các doanh nghiệp này cũng mang những đặc điểm khác biệt so với sản phẩm của
các ngành công nghiệp khác.
1.1.2. Đặc điểm sản phẩm xây lắp
Từ những đặc điểm riêng của ngành xây dựng dẫn đến những đặc điểm có tính
chất đặc thù của những sản phẩm xây lắp. Những đặc điểm này có ảnh hưởng trực
tiếp đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong
các doanh nghiệp xây lắp.
Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc… có quy mô lớn,
kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài…
Vì vậy đòi hỏi phải có kế hoạch, dự toán chi tiết về thiết kế và thi công trong quá
một cách có ý thức, có mục đích các yếu tố đầu vào: đối tượng lao động, tư liệu lao
động và lao động sống tạo thành các công trình, hạng mục công trình, các sản phẩm,
lao vụ…
Các yếu tố về tư liệu lao động, đối tượng lao động (mà biểu hiện cụ thể là các hao
phí về lao động vật hóa) dưới sự tác động có mục đích của sức lao động (biểu hiện là
hao phí lao động sống) qua quá trình biến đổi sẽ trở thành các sản phẩm, công trình…
Để đo lường các hao phí mà các doanh nghiệp đã bỏ ra trong từng thời kỳ hoạt động
kinh doanh là bao nhiêu nhằm tổng hợp, xác định kết quả đầu ra, phục vụ yêu cầu
Phạm Thị Thu Hường Kế toán 45B
Luận văn tốt nghiệp 6 GVHD: TS. Trần Quý Liên
quản lý. Mọi hao phí cuối cùng đều được thể hiện bằng thước đo tiền tệ gọi là chi phí
sản xuất kinh doanh.
Do vậy chi phí sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp xây dựng là biểu hiện
bằng tiền, hao phí về lao động và lao động vật hóa mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra
trong quá trình sản xuất thi công và bàn giao sản phẩm xây lắp trong một kỳ nhất
định. Mặc dù vậy trên góc độ nghiên cứu và quản lý khác nhau có những cách hiểu
về chi phí sản xuất khác nhau, cụ thể ở đây ta xét trên góc độ kế toán thì chi phí sản
xuất kinh doanh luôn gắn liền với một kỳ sản xuất kinh doanh nhất định và phải là
chi phí thực. Nên cần phân biệt rõ về chi phí và chi tiêu:
Chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động
vật hóa cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh tính cho một kỳ kinh doanh. Như
vậy theo định nghĩa chi phí về phương diện kế toán được ghi vào bên Nợ của tài
khoản chi phí.
Chi tiêu là sự hao phí vật chất tại một thời điểm tiêu dùng. Cụ thể về phương diện
kế toán được ghi vào bên Có tài khoản tài sản. Tổng số chi tiêu của doanh nghiệp
trong kỳ gồm chi tiêu mua sắm nguyên vật liệu hàng hóa, chi tiêu cho quá trình sản
xuất sản phẩm và chi tiêu cho quá trình tiêu thụ.
Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với
nhau, trong đó chi tiêu là cơ sở của chi phí. Không có chi tiêu thì không có chi phí.
Tổng số chi phí của doanh nghiệp trong kỳ bao gồm toàn bộ giá trị vật tư, tài sản hao
máy thi công chuyên dùng. Máy thi công xây lắp là một bộ phận của TSCĐ, bao gồm
tất cả các loại xe máy kể cả thiết bị được chuyển động bằng động cơ (chạy bằng hơi
nước, diezel, xăng…) được sử dụng trực tiếp cho công tác xây lắp trên các công
trường thay thế cho sức lao động của con người trong các công việc làm đất, làm đá,
làm bê tông, làm nền móng, xúc, nâng cấp, vận chuyển… như máy nghiền đá, máy
trộn bê tông, máy sản nền, máy xúc, máy vận thăng, máy cạp chuyển, cần cẩu… Chi
phí máy thi công chiếm một tỷ trọng khá lớn trong giá thành sản phẩm xây lắp và là
một khoản mục chi phí có công dụng riêng biệt, do vậy cần phải tổ chức theo dõi
riêng và có phương pháp phân bổ khoa học hợp lý cho các đối tượng sử dụng. Do đó,
người ta chia chi phí sử dụng máy làm thành hai loại:
Phạm Thị Thu Hường Kế toán 45B
Luận văn tốt nghiệp 8 GVHD: TS. Trần Quý Liên
Chi phí thường xuyên, chi phí hàng ngày cần thiết cho việc sử dụng máy thi công.
Các chi phí này khi phát sinh được tính hết một lần vào chi phí sử dụng máy. Chi phí
nhiên liệu, động lực dùng cho máy thi công. Tiền lương, phụ cấp…Khấu hao máy thi
công. Chi phí thuê máy thi công (nếu có), chi phí sửa chữa thường xuyên máy thi
công. Các chi phí khác: công cụ, dụng cụ…
Chi phí tạm thời: chi phí pháp sinh một lần tương đối lớn, không định mức hay
tính trước được. Các chi phí này khi phát sinh không tính hết 1 lần vào chi phí sử
dụng máy mà được phân bổ theo thời gian sử dụng ở công trường. Chi phí sử dụng
máy thi công liên quan đến nhiều đối tượng xây lắp nên việc phân bổ chi phí sử dụng
máy thi công cho các đối tượng xây lắp được thực hiện theo từng loại máy, nhóm
máy căn cứ vào số ca máy hoạt động thực tế hoặc khối lượng công việc hoàn thành
của máy.
Đối với máy theo dõi được quá trình hoạt động và tập hợp được chi phí riêng cho
từng loại máy, nhóm máy:
Đơn giá bình quân 1 ca máy hay 1 đơn vị
khối lượng công tác máy hoàn thành
= Tổng chi phí sử dụng máy thực tế
Tổng số ca máy (tổng khối lượng
Tổng ca máy tiêu chuẩn của các loại máy
Chi phí sử dụng máy:
Chi phí sử dụng máy
phân bổ cho từng đối
tượng xây lắp
=
Đơn giá 1 ca máy
tiêu chuẩn
Số ca máy tiêu chuẩn phục
vụ cho từng đối tượng
Chi phí sản xuất chung: là những chi phí phục vụ cho sản xuất xây lắp, những chi
phí có tính chất dùng chung cho hoạt động xây lắp gắn liền với từng công trường cụ
thể: chi phí nhân viên phân xưởng, tiền lương của công nhân phục vụ trên công
trường như khuân vác máy móc trong lúc thi công từ chỗ để của công trường đến nơi
xây dựng,… và các khoản trích theo lương. Chi phí vật liệu: chi phí vật liệu xuất
dùng chung cho hoạt động xây lắp như vật liệu dùng để bảo dưỡng, bảo trì công cụ,
dụng cụ trên công trường… Chi phí dụng cụ sản xuất xây lắp: vắn khuôn, đà giáo,
cuốc xẻng… Chi phí khấu hao TSCĐ. Chi phí dịch vụ mua ngoài chi phí điện, nước,
điện thoại, chi phí sửa chữa TSCĐ thuê ngoài,…Chi phí bằng tiền khác: những chi
phí bằng tiền nhằm phục vụ hay liên quan đến hoạt động xây lắp trên công trường
nhưng không thuộc những khoản trên.
Cách phân loại này có tác dụng:
• Cung cấp thông tin để kiểm soát thực hiện chi phí theo định mức.
• Cung cấp số liệu để tính giá thành sản phẩm.
• Cung cấp thông tin để định mức chi phí, xác định giá thành định mức.
1.2.1.2. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Cách ứng xử của chi phí có nghĩa là những chi phí này sẽ thay đổi như thế nào khi
mức độ hoạt động kinh doanh thay đổi. Cách phân loại này đáp ứng nhu cầu lập kế
hoạch, kiểm soát chi phí và chủ động điều tiết chi phí của nhà quản lý. Theo cách
Để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở từng doanh nghiệp, cần căn cứ
vào các yếu tố như tính chất sản xuất, loại hình sản xuất, đặc điểm quy trình công
Phạm Thị Thu Hường Kế toán 45B
Luận văn tốt nghiệp 11 GVHD: TS. Trần Quý Liên
nghệ sản xuất sản phẩm, đặc điểm tổ chức sản xuất, yêu cầu tính giá thành, đối tượng
tính giá thành, yêu cầu quản lý, khả năng, trình độ quản lý doanh nghiệp…
Như vậy đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là từng sản phẩm, chi tiết sản
phẩm, toàn bộ quy trình công nghệ, từng giai đoạn công nghệ, từng phân xưởng sản
xuất, từng đội sản xuất, từng đơn đặt hàng. Đối tượng kế toán chi phí sản xuất có thể
là nơi phát sinh chi phí hoặc có thể là các đối tượng chịu chi phí. Như vậy, thực chất
của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí là xác định nội dung chi phí và giới hạn
tập hợp chi phí đó.
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất
Do đối tượng kế toán chi phí khác nhau nên cũng có nhiều phương pháp khác
nhau để kế toán chi phí sản xuất phù hợp với từng đối tượng. Vì thế, trong thực tế
thường áp dụng các phương pháp kế toán chi phí sau đây:
Kế toán theo chi tiết hoặc bộ phận sản phẩm (hạng mục công trình): là các giai
đoạn xây lắp của các công trình hạng mục công trình có dự toán riêng. Hàng tháng,
chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp cho từng giai đoạn xây lắp có liên quan. Khi
hoàn thành, tổng cộng chi phí theo các giai đoạn chính là giá thành sản phẩm xây lắp.
Kế toán theo sản phẩm: theo sản phẩm hay theo đơn đặt hàng, sản phẩm trong
doanh nghiệp xây lắp là công trình, hạng mục công trình hoàn thành. Hàng tháng, chi
phí sản xuất phát sinh có liên quan đến công trình, hạng mục công trình nào thì được
tập hợp vào đối tượng đó một cách thích hợp. Khi hoàn thành, tổng chi phí theo đối
tượng hạch toán cũng chính là giá thành sản phẩm xây lắp.
Kế toán chi phí theo giai đoạn công nghệ: theo giai đoạn công nghệ, được áp
dụng đối với doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất cấu kiện lắp sẵn.
Trong các doanh nghiệp đó, toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm được
chia thành nhiều giai đoạn công nghệ, số liệu được chế biến liên tục từ khâu đầu cho
đến khâu cuối theo một trình tự nhất định.
1. Chỉ hạch toán vào TK 621 những chi phí nguyên liệu, vật liệu (gồm cả
nguyên liệu, vật liệu chính và vật liệu phụ) được sử dụng trực tiếp cho sản xuất, thi
công xây lắp.
2. Trong kỳ kế toán thực hiện việc ghi chép, tập hợp chi phí nguyên liệu, vật
liệu trực tiếp vào bên Nợ TK621
3. Cuối kỳ kế toán, thực hiện kết chuyển (nếu nguyên liệu, vật liệu đã được
tập hợp riêng biệt cho đối tượng sử dụng), hoặc tiền hành phân bổ và kết chuyển chi
phí nguyên liệu, vật liệu (nếu không tập hợp riêng biệt cho từng đối tượng sử dụng)
vào TK 154 phục vụ cho việc tính giá thành thực tế của sản phẩm, dịch vụ trong kỳ
kế toán.
4. Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ,
nếu mua nguyên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, hoặc nếu mua
nguyên liệu, vật liệu không qua nhập kho đưa vào sử dụng ngay cho hoạt động sản
xuất, kinh doanh thì trị giá nguyên liệu, vật liệu sẽ không bao gồm thuế GTGT.
5. Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ,
nếu mua nguyên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
không thuộc diện đối tượng chịu thuế GTGT hoặc thuộc đối tượng chịu thuế GTGT
tính theo phương pháp trực tiếp và doanh nghiệp nộp thuế GTGT tính theo phương
pháp trực tiếp, thì giá trị nguyên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất kinh doanh sẽ bao
gồm cả thuế GTGT của khối lượng nguyên liệu, vật liệu mua vào sử dụng ngay
không qua kho.
Kết cấu của TK621:
Bên Nợ:
Trị giá thực tế nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trực tiếp cho sản xuất, thi công
xây lắp.
Phạm Thị Thu Hường Kế toán 45B
Luận văn tốt nghiệp 14 GVHD: TS. Trần Quý Liên
Bên Có:
Kết chuyển trị giá nguyên liệu, vật liệu thực tế sử dụng cho sản xuất, thi công
Nhân công trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông gồm hai loại lao động:
Lao động trong đơn vị: Chứng từ ban đầu để hạch toán khoản mục nhân công là
các bảng chấm công được lập hàng tháng cho từng đội sản xuất, từng bộ phận sản
xuất. Nó cho ta biết rõ lao động nào làm việc ngày nào, hưởng lương ngày đó theo
mức quy định đối với từng loại công việc.
Việc tính lương cho lao động trong đơn vị được tính theo nhiều cách nhưng phổ
biến là tính lương theo sản phẩm (lương công nhật), và tính lương theo thời gian.
Lao động thuê ngoài: doanh nghiệp trả lương theo hình thức khoán
Hình thức trả lương theo khối lượng công việc giao khoán: Theo hình thức này
vấn đề quan trọng là phải xây dựng được định mức kinh tế kỹ thuật để làm cơ sở cho
việc xây dựng đơn giá tiền lương đối với từng loại công việc một cách hợp lý.
Tiền lương phải trả =
Khối lượng công việc giao
khoán hoàn thành
Đơn giá tiền lương
Tiền lương trả theo khối lượng công việc giao khoán có thể được tính cho từng
người lao động hoặc chung cho cả nhóm tổ công nhân.
Hàng tháng căn cứ vào bảng chấm công, hợp đồng làm khoán và chứng từ khác có
liên quan, kế toán làm bảng thanh toán tiền lương theo từng tổ, đội sản xuất, các
phòng ban và kiểm tra việc trả lương cho cán bộ công nhân viên. Sau đó kế toán lập
bảng thanh toán lương cho toàn doanh nghiệp và làm thủ tục rút tiền gửi về quỹ tiền
mặt để trả lương.
Việc thanh toán lương được thực hiện mỗi tháng hai kỳ: kỳ 1 tạm ứng, kỳ 2 nhận
phần còn lại sau khi đã trừ đi các khoản nợ phải khấu trừ như tiền nhà, tiền điện
nước, các khoản tạm ứng… Tiền lương phải phát tận tay người lao động hoặc đại
diện tập thể lĩnh lương.
Kế toán sử dụng TK622: “ Chi phí nhân công trực tiếp” để hạch toán.
Tài khoản này dùng để tập hợp và kết chuyển số chi phí tiền công của công nhân
xây lắp trực tiếp (bao gồm tiền công, tiền lương, tiền thưởng, và các khoản phải trả
TK335
Luận văn tốt nghiệp 17 GVHD: TS. Trần Quý Liên
Đơn vị thi công có máy và tự tổ chức thi công bằng máy: Trong trường hợp này thì
máy thi công là tài sản của bản thân doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể tổ chức tổ,
đội thi công cơ giới chuyên trách thi công khối lượng, xây lắp bằng máy trực thuộc
doanh nghiệp. Hạch toán phải phản ánh toàn bộ chi phí trực tiếp phát sinh trong quá
trình sử dụng máy thi công. Hoạt động của tổ đội máy thi công chuyên trách có thể là
đơn vị hạch toán nội bộ, nếu đơn vị này có tính toán lãi, lỗ riêng thì có thể tiến hành
theo phương thức bán lao vụ cho các bộ phận thi công khác của doanh nghiệp.
Đơn vị thi công đi thuê máy: Trong trường hợp này, máy không thuộc tài sản của
doanh nghiệp. Có thể có các trường hợp thuê sau:
Thuê máy thi công không kèm theo công nhân điều khiển và phục vụ máy. Đơn vị
đi thuê phải trả đơn vị cho thuê khoản tiền quy định theo hợp đồng (gồm khoản theo
định mức một ca máy cộng tỷ lệ định mức về quản lý xe máy). Đơn vị đi thuê máy
phải tự hạch toán chi phí sử dụng máy.
Thuê máy theo khối lượng công việc. Bên thuê máy phải trả tiền cho bên cho thuê
máy theo đơn giá quy định với khối lượng công việc đã hoàn thành.
Tất cả các trường hợp trên chỉ là thuê ngắn hạn, nếu thuê dài hạn thì phải có một
phương pháp hạch toán riêng.
Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm toàn bộ chi phí về vật tư, lao động, khấu hao
và chi phí bằng tiền trực tiếp cho quá trình sử dụng máy thi công của doanh nghiệp.
Kế toán sử dụng TK 623 để hạch toán chi phí sử dụng máy thi công
Tài khoản này dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng máy phục vụ trực tiếp
cho hoạt động xây lắp công trình.
Tài khoản này chỉ sử dụng trong những doanh nghiệp xây lắp, tổ chức thi công xây
lắp hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy (doanh nghiệp xây lắp có đội xe
máy, đội xây lắp…)
Kết cầu TK623: “Chi phí sử dụng máy thi công”
Bên Nợ: Chi phí sử dụng máy thi công phát sinh trong kỳ (nhiên liệu, tiền lương,
khấu hao, chi phí bảo dưỡng sửa chữa máy thi công…)
Nợ TK133: Thuế GTGT được khấu trừ
Phạm Thị Thu Hường Kế toán 45B
Luận văn tốt nghiệp 19 GVHD: TS. Trần Quý Liên
Có TK333: Thuế và các khoản phải nộp nhà nước (33311) (xác định thuế GTGT
phải nộp tính trên giá bán nội bộ về ca xe, máy bán dịch vụ)
Có TK512: Doanh thu bán hàng nội bộ
Nếu không tổ chức đội xe, máy thi công riêng; hoặc có tổ chức đội xe, máy thi công
riêng nhưng không tổ chức kế toán riêng cho đội thì toàn bộ chi phí sử dụng xe, máy
(kể cả chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời như: phụ cấp lương, phụ cấp lưu
động của xe, máy thi công) sẽ hạch toán như sau:
Căn cứ vào tiền lương, tiền công và các khoản phải trả cho công nhân điều khiển xe,
máy, phụ vụ xe, máy, ghi:
Nợ TK623 (TK 6231): chi phí sử dụng máy thi công
Có TK334 – phải trả người lao động
Khi xuất kho vật liệu, công cụ, dụng cụ sử dụng cho hoạt động của xe, máy thi
công trong kỳ, ghi:
Nợ TK 623
Có TK152, TK 153
Trường hợp mua vật liệu, công cụ sử dụng ngay (không qua kho) cho hoạt động của
xe, máy thi công trong kỳ, ghi:
Nợ TK623 – Chi phí sử dụng máy thi công (giá chưa có thuế)
Nợ TK133 – Thuế GTGT được khấu trừ (nếu được khấu trừ)
Có TK 331, TK 111, TK 112…
Trích khấu hao xe, máy thi công sử dụng ở đội xe, máy thi công, ghi:
Nợ TK 623 – chi phí sử dụng máy thi công
Có TK 241 – Hao mòn TSCĐ
Chi phí dịch vụ mua ngoài phải phát sinh sửa chữa xe, máy thi công, điện, nước,
tiền thuê TSCĐ, chi phí trả cho nhà thầu phụ…, ghi:
Nợ TK 623 – chi phí sử dụng máy thi công
Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (Nếu được khấu trừ)
Bên Nợ:
Các chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ
Bên có:
Phạm Thị Thu Hường Kế toán 45B
Luận văn tốt nghiệp 21 GVHD: TS. Trần Quý Liên
Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ được ghi nhận vào giá vốn
hàng bán trong kỳ do mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công suất bình
thường.
Kết chuyển chi phí sản xuất chung vào bên Nợ TK 154 “chi phí sản xuất kinh
doanh dở dang”.
TK 627 cuối kỳ không có số dư
TK 627 có 6 tài khoản cấp 2
TK6271: Chi phí nhân viên phân xưởng
TK 6272: Chi phí vật liệu
TK 6273: Chi phí dụng cụ sản xuất
TK 6274 : Chi phí khấu hao TSCĐ
TK 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 6278: Chi phí bằng tiền khác.
Phạm Thị Thu Hường Kế toán 45B
Luận văn tốt nghiệp 22 GVHD: TS. Trần Quý Liên
Sơ đồ 1.3: Hạch toán chi phí sản xuất chung
Giải thích:
(1): Tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp phải trả cho nhân viên quản lý đội xây
dựng công trình, tiền ăn giữa ca của công nhân xây lắp, nhân viên quản lý đội
(2): Trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định trên tiền lương của công nhân
trực tiếp xây lắp, công nhân điều khiển và phục vụ máy thi công, nhân viên quản lý
đội.
Phạm Thị Thu Hường Kế toán 45B
TK334
Muốn đánh giá sản phẩm dở dang một cách chính xác trước hết phải kiểm kê khối
lượng sản phẩm, công tác xây lắp hoàn thành trong kỳ, đồng thời xác định đúng đắn
khối lượng sản phẩm hoàn thành so với khối lượng xây lắp hoàn thành theo quy ước
của từng giai đoạn thi công để xác định khối lượng công tác xây lắp dở dang, phát
hiện tổn thất trong quá trình thi công.
Chất lượng của công tác kiểm kê khối lượng công tác xây lắp dở dang có ảnh
hưởng lớn đến tính chính xác của việc đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá thành.
Đặc điểm của xây dựng cơ bản là có kết cấu phức tạp do đó việc xác định chính xác
mức độ hoàn thành của nó là rất khó. Vì vậy khi đánh giá sản phẩm dở dang, kế toán
cần kết hợp chặt chẽ với bộ phận kỹ thuật, bộ phận tổ chức lao động để xác định mức
độ hoàn thành của khối lượng xây lắp dở dang một cách chính xác.
Trên cơ sở kết quả kiểm kê sản phẩm làm dở dang đã tổng hợp được, kế toán tiến
hành đánh giá sản phẩm làm dở, có 3 phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang chủ
yếu trong doanh nghiệp xây lắp.
1.2.4.1. Các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ
Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí dự toán
Theo phương pháp này chi phí thực tế của khối lượng dở dang cuối kỳ được xác
định theo công thức:
Phạm Thị Thu Hường Kế toán 45B
Luận văn tốt nghiệp 24 GVHD: TS. Trần Quý Liên
Chi phí thực tế
của khối lượng
dở dang cuối kỳ
=
Chi phí thực tế
của khối lượng
xây lắp dở
dang đầu kỳ
+
Chi phí thực tế
hiện trong kỳ
Chi phí của
khối lượng xây
lắp bàn giao
trong kỳ theo
dự toán
+
Giá trị dự toán
của khối lượng
xây lắp dở dang
cuối kỳ
Phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở dang theo giá trị dự toán
Theo phương pháp này chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ
được tính theo công thức:
Chi phí thực tế
của khối lượng
dở dang cuối kỳ
=
Chi phí thực tế
của khối lượng
xây lắp dở
dang đầu kỳ
+
Chi phí thực tế
của khối lượng
xây lắp thực
hiện trong kỳ
Giá trị dự toán
của khối lượng
xây lắp hoàn
hàng;
o Trị giá phế liệu thu hồi, giá trị sản phẩm hỏng không sửa chữa được;
o Trị giá nguyên liệu, vật liệu, hàng hóa gia công xong nhập lại kho;
o Phản ánh chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công vượt trên mức bình
thường và chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ không được tính vào trị
giá hàng tồn kho mà phải tính vào giá vốn hàng bán của kỳ kế toán.
o Kết chuyển chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang đầu kỳ
TK này có số dư Nợ - Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang cuối kỳ;
Sơ đồ 1.4. Hạch toán chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang cuối kỳ
Phạm Thị Thu Hường Kế toán 45B