Nho giáo và văn hóa Việt Nam
Nho giáo có nguồn gốc từ đâu ? Câu hỏi này xưa nay ít người đặt ra
bởi lẽ câu trả lời dường như quá hiển nhiên : Nho giáo bắt nguồn từ
trung Hoa.
Trong xã hội Trung Hoa cổ đại, "Nho" là một danh hiệu chỉ những người
có học thức, biết lễ nghi. Chữ nho gồm bộ "nhân" ở bên trái là người và
chữ "nhu" bên phải là cần ghép lại là : nhà Nho là người cần cho thiên
hạ. NHO GIáO là hệ thống giáo lý của các nhà Nho nhằm mục đích tổ chức
xã hội có hiệu quả. Những cơ sở của nó được hình thành từ đời Tây Chu,
đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán. Chu Công Đán là con thứ Chu
Văn Vương, em ruột Chu Võ Vương. Ông là cố vấn văn hóa và chính trị của
nhà Chu, là chú ruột Chu Thành Vương và phụ chính của Thành Vương khi
ông này lên ngôi thay cha lúc còn nhỏ tuổi. Chu Công đã đúc kết kinh
nghiệm của các thị tộc Hạ, Thương trước đó mà xây dựng nên một thứ
chính trị để trị nước (bộ lạc) và bình thiên hạ (liên minh bộ lạc). Đến
đời Xuân Thu, xã hội loạn ly KHổNG Tử mới phát triển tư tưởng của Chu
Công, hệ thống hóa lại và tích cực truyền bá. Vì vậy, ông thường được
xem là người sáng lập Nho giáo.
Khổng Tử tên là Khâu tự là Trọng Ni, sinh ngày 27.8 năm 551 tr.CN
tại ấp Trâu, làng Xương Bình nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phu, tỉnh Sơn
Đông) trong một gia đình mà ông tổ ba đời vốn thuộc dòng quý tộc sa sút
từ nước Tống dời sang nước Lỗ.
Cha Khổng Khâu làm một chức quan võ ở ấp Trâu, ngoài 70 tuổi lấy
Nhan thị làm vợ ba mà sinh ra ông. Năm lên ba, Khâu mồ côi cha, lớn
lên, phải làm lụng vất vả đế giúp mẹ, nhưng rất ham học. Năm 19 tuổi,
ông lấy vợ và làm một chức quan nhỏ coi kho. Năm 20 tuổi sinh con đặt
tên là Khổng Lý, tự là Bá Ngư.
Từ năm 22 tuổi, ông mở lớp dạy học. Học trò gọi ông là Khổng Tử
(thầy Khổng). Từ năm 34 tuổi, trong suốt gần 20 năm, Khổng Tử dẫn học
trò đi khắp các nước trong vùng để truyền bá tư tưởng của mình và tìm
người biết dùng để thực hành. Có nơi Khổng Tử được kính trọng, nhưng
5. Tác phẩm duy nhất mà Khổng Tử biên soạn là Kinh Xuân Thu ghi
chép lịch sử nước Lỗ quê hương ông. Khổng Tử theo đuổi mục đích trị
nước của mình cho nên ông dụng tâm chọn lọc các sự kiện, ghi kèm theo
những lời bình, thậm chí sáng tác thêm những lời thoại để giáo dục các
bậc vua chúa.
Đúng ra, bộ sách đang bàn không phải "ngũ" mà là lục kinh : ngoài 5
cuốn trên còn có Kinh Nhạc do Khổng Tử hiệu đính. Nhưng vì về sau Kinh
Nhạc bị thất lạc, chỉ còn lại một ít được ghép chung vào Kinh Lễ thành
một thiên gọi là Nhạc ký, cho nên "Lục kinh" thành ra chỉ còn Ngũ kinh.
Sau khi Khổng Tử mất, học trò tập hợp những lời dạy của thầy lại mà
soạn ra cuốn Luận ngữ (các lời bàn luận). Học trò xuất sắc của Khổng Tử
là Tăng Sâm (thường gọi là Tăng Tử) dựa vào lời thầy mà soạn ra Đại học
nói về "cái đạo của bậc đại học" . Khổng Cấp, thường gọi là Tử Tư, cháu
nội của Khổng Tử, học trò Tăng Tử, viết ra Trung dung nhằm phát triển
tư tưởng của Khổng Tử về cách sống dung hòa, không thiên lệch. Đến thời
Chiến quốc, xã hội loạn lạc, các học phái nổi lên như nấm, có Mạnh Kha
(khoảng 390 – 305 tr.CN), thường gọi là Mạnh Tử, học trò Tử Tư, là
người kế tục xuất sắc tư tưởng của Khổng Tử, những lời của ông được học
trò về sau biên soạn lại thành sách Mạnh Tử. Thời Hán, "Đại học" và
"Trung dung" chỉ là hai thiên trong "Lễ ký", đến đời Tống, chúng được
tách ra và cùng với Luận ngữ, "Mạnh Tử" gọi là Tứ thư. "Tứ thư" và "Ngũ
kinh" trở thành hai bộ sách gối đầu giường của Nho gia.
Mạnh Tử đã khép lại một giai đoạn quan trọng - giai đoạn hình thành
Nho giáo. Đó là Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiên Tần
(trước thời Tần). Khởi đầu từ Khổng Tử và kết thúc bằng Mạnh Tử nên
triết lý Nho giáo nguyên thủy cũng được gọi là tư tưởng Khổng Mạnh.
2. Nội dung cơ bản, ngọn nguồn và sự phát triển của Nho Giáo
Như đã nói, thực chất của Nho giáo là một học thuyết chính trị nhằm
tổ chức xã hội. Để làm được điều đó, điều cốt lõi là đào tạo cho được
những người cai trị kiếu mẫu - mẫu người lý tưởng đó gọi là QUÂN Tử
Người không có Nhân thì nhạc mà làm gì ?" (Luận ngữ).
Phương châm thứ hai là chính danh. Khi học trò là Tử Lộ hỏi : "Nếu
vua nước Võ mời thầy giúp cai trị, thầy làm gì trước ? " thì Khổng Tử
đáp : "ắt phải chính danh đã Nếu danh không chính thì lời nói không
thuận. Lời nói không thuận tất việc chẳng thành" (Luận ngữ). Chính danh
tức là sự vật phải ứng với tên gọi, mỗi người phải làm đúng với chức
phận của mình . Chính danh trong cai trị, như lời Khổng Tử nói với Tề
Cảnh Công là phải làm sao để "vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con
ra con" (Luận ngữ).
Nho giáo có nguồn gốc từ đâu ? Câu hỏi này xưa nay ít người đặt ra
bởi lẽ câu trả lời dường như quá hiển nhiên : Nho giáo bắt nguồn từ
trung Hoa.
Đúng ra, Nho giáo là đứa con tinh thần được ra đời và nuôi dưỡng
bởi hai dòng sữa : truyền thống văn hóa du mục phương Bắc và truyền
thống văn hóa nông nghiệp phương Nam.
Chất du mục phương Bắc mà Nho giáo nguyên thủy đã hấp thụ thể hiện ra
nổi bật ở các điểm sau :
Thứ nhất là tham vọng "bình thiên hạ". Coi trọng cái quốc tế và coi
nhẹ cái quốc gia, chính là một trong những nét đặc trưng của truyền
thống văn hóa gốc du mục, bản thân Khổng Tử đã trên một lần rời nước Lỗ
quê hương đến các nước để tìm minh chủ. Tư tưởng bá quyền, coi khinh
các dân tộc nơi miền biên viễn cũng chi phối ông rất rõ rệt : "Các nước
Di, Dịch dù có vua cũng không bằng Hoa Hạ không vua" (Luận ngữ) .
Quan niệm về một xã hội trật tự ngăn nắp , có tôn ti trên dưới rõ
ràng, thể hiện qua thuyết chính danh cũng là một sản phẩm của truyền
thống văn hóa gốc du mục phương Bắc với nếp sống chặt chẽ kỷ cương
được
đảm bảo bằng sức mạnh.
Còn chất nông nghiệp phương Nam mà Nho giáo nguyên thuỷ đã tiếp thu
thể hiện nổi bật ở các điểm sau :
là cái gốc của mọi sự. " Đạo quân tử khai mào từ chuyện vợ chồng, tới
lúc cùng tội thì bàn đến chuyện trời đất" (Trung dung). Khổng Tử có lần
nói "Kinh Thi có thể khiến người ta phấn chấn, có thể khiến người ta
quan sát phong tục, có thể khiến người ta hợp quần, có thể khiến người
ta phúng thích chính trị đương thời. Gần thì biết đạo thờ cha, xa thì
biết đạo thờ vua, lại biết được nhiều tên chim muông cỏ cây" (Luận
ngữ). Về nhạc, ông nói : "Khi người ta hiểu thấu được nhạc để dưỡng tâm
trí thì những đức nhã nhặn, thành thực sẽ phát triển dễ dàng. . . Cách
hay nhất để cải thiện phong tục là . . . xét cho kỹ những bản nhạc
trong nước". Việc trọng văn hơn võ cũng có nguồn gốc từ phương Nam
nông
nghiệp (khác với truyền thống du mục trọng võ hơn văn).
Việc đồng thời dựa vào hai truyền thống văn hóa đối lập nhau - du
mục và nông nghiệp - trong một hoàn cảnh xã hội đầy biến động, khiến
cho tư tưởng Khổng Mạnh không tránh khỏi có những giằng co, nhiều khi
chứa đựng đầy mâu thuẫn.
Mâu thuẫn rõ nhất là trong khi chịu ảnh hưởng của truyền thống dân
chủ nông nghiệp coi trọng dân, Khổng Tử vẫn không thoát khỏi lối nghĩ
miệt thị dân của kẻ có sức mạnh: "Dân chúng, có thể khiến họ theo, chứ
không thể giảng cho họ hiểu được" (Luận ngữ). Ông tỏ sự khinh bỉ họ :
"Sở dĩ người quân tử không muốn ở chung với đám hạ lưu vì bao nhiêu tội
ác trong thiên hạ dồn cả về đó " (Luận ngữ). Ông muốn dân chủ nhưng
cũng không thoát khỏi tính cách du mục trọng nam khinh nữ "Chỉ hạng đàn
bà và tiểu nhân là khó dạy. Gần thì họ nhờn, xa thì họ oán" (Luận ngữ),
cũng như tư tưởng bá quyền coi thường nước nhỏ.
Khổng Tử chống lại chính sách "pháp trị" của truyền thống du mục
nhưng ban đầu ông đã tỏ ra rất lúng túng giữa "lễ trị" và "nhân trị".
Khổng Tử nói nhiều đến Lễ trị, vận động các nước chư hầu duy trì cái lễ
của nhà Tây chu: "Ta học lễ nhà Chu, hiện đang ứng dụng" (Trung dung).
Tuy nhiên, dần dần Khổng Tử có phần bớt bảo thủ hơn. Ông đi đã từ chữ
Thủy Hoàng đã cho đốt hết mọi thứ sách vở của nhà Tần. Người nào dám
bàn luận về Thi, Thư thì chém bêu đầu ngoài chợ, lấy đời xưa mà chê đời
nay thì giết cả họ. Kẻ nào biết mà không tố giác thì chịu cùng tội với
phạm nhân. Trong 30 ngày mà không đốt sách thì thích chữ vào mặt cho đi
xây và canh giữ Trường Thành. Thất vọng với bạo chúa, có những người
được Thủy Hoàng trọng đãi cũng bỏ trốn đi, Thủy Hoàng sai tra xét các
nhà Nho, lọc ra 460 người phạm cấm mà đem chôn sống tất cả ở Hàm
Dương.
Con cả Thủy Hoàng là thái tử Phu Tô can gián liền bị Thủy Hoàng nổi
giận đưa lên miền Bắc làm quan (Tư Mã Thiên, Sử ký) .
Chính vì quá chuyên chế độc tài mà chỉ 5 năm sau khi Thủy Hoàng
chết, nhà Tần đã sụp đổ; nhà Hán lên thay (năm 202 tr.CN), Hán Cao Tổ
Lưu Bang lúc đầu cũng ỷ vào vũ lực coi thường trí thức, văn hóa. Có lần
ông nói với Lục Giả : "Ta ngồi trên lưng ngựa mà được thiên hạ, cần gì
phải học Thi, Thư". Nhưng rồi Hán Cao Tổ cũng biết rút kinh nghiệm của
triều Tần, ông nghe theo lời khuyên của Lục Giả, thủ tiêu các hình phạt
hà khắc, giảm nhẹ sưu thuế và trọng dụng trí thức dể bảo vệ ngai vàng.
Hán Vũ Đế (140-87 tr.CN ) là một ông vua sáng suốt đã thực hiện
nhiều cải cách quan trọng nhằm tập trung quyền lực vào chính quyền
trung ương. Ông đã theo lời khuyên của Đổng Trọng Thư, ra lệnh bãi bỏ
các học thuyết khác, lần đầu tiên đưa Nho giáo lên địa vị quốc giáo,
dùng nó để làm công cụ để thống nhất đất nước về tư tưởng. Từ đây, Nho
giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống và công cụ tinh thần để bảo vệ
chế độ phong kiến Trung Hoa suốt hai nghìn năm lịch sử. Không những
thế, nó còn được truyền bá khắp các nước miền Đông á; Khổng Tử được tôn
lên bậc thánh; trên thế giới, tên tuổi ông không ai là không biết. Nhìn
vào những sự kiện hiển nhiên này, ai lại chẳng nói rằng Nho giáo đã rất
thành công ! W. Durant viết : "Rốt cuộc đạo Khổng thắng . . . Kinh đã
mạnh hơn kiếm"
Thực ra, đây là một sự kiện rất tế nhị. Nó mang tính hai mặt. Xét
con người bằng cách giáng những tai họa như hạn hán, dịch bệnh, nhật
thực Đề cao Trời để rồi thống nhất quyền vua (vương quyền) với quyền
Trời (thần quyền). Vua thống trị theo mệnh Trời, do Trời giao phó. Đó
thật là cả một sách lược khôn ngoan, tác dụng của nó còn hơn cả lễ trị
và pháp trị.
Việc tiếp theo là loại bỏ cái hạt nhân dân chủ. Thay cho quan niệm
của Nho giáo nguyên thủy về Ngũ luân với các quan hệ hai chiều bình
đẳng, Đổng Trọng Thư quy tất cả về ba giềng mối chủ yếu và đề ra thuyết
"Tam cương" với quan hệ một chiều duy nhất chỉ đòi hỏi trách nhiệm của
kẻ dưới đối với người trên : tôi phải trung với vua, con phải hiếu với
cha, vợ phải tiết hạnh với chồng. Nó là cơ sở cho việc diễn đạt quan hệ
vua tôi bằng công thức hết sức phi nhân bản : Quân xử thần tử thần bất
tử bất trung (Vua bảo tôi chết, tôi không chết là tôi bất trung); tương
tự là quan hệ cha con : Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu (Cha bảo
con chết, con không chết là con bất hiếu); còn vợ đối với chồng thì có
trách nhiệm Phu xướng phụ tùy, mở rộng ra là trách nhiệm của phụ nữ đối
với giới đàn ông nói chung qua công thức "tam tòng" : Tại gia tòng phụ,
xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (ở nhà theo cha, lấy chồng theo
chồng, chồng chết theo con) .
Từ đời Hán trở về sau, vai trò của văn hóa cũng bị thu hẹp, nó chỉ
giới hạn trong khuôn khổ những gì có lợi cho vương quyền. Kinh Thi được
giải thích theo lối cao quý, tao nhã, nam nữ bị ngăn cách (nam nữ thụ
thụ bất thân), đề cao nam, hạ thấp nữ (dương thiện tâm ác, nam tôn nữ
ti); con hát bị khinh rẻ là "xướng ca vô loài".
Như vậy, Nho giáo nguyên thủy của Khổng - Mạnh, đúng như họ Khổng
dự đoán, đã hoàn toàn thất bại. Khổng Tử đã không hiểu được rằng, hút
nhụy từ văn minh nông nghiệp, Nho giáo đầu tính nhân bản của ông chỉ
thích hợp được với quy mô làng xã. Để phục vụ được cho vương quyền
trong phạm vi quốc gia cần có một thứ triết thuyết tổng hợp được chất
pháp luật tôn ti của văn minh du mục để cai trị và chất tình cảm của
của Nho giáo chuyển sang giai đoạn thứ ba - giai đoạn Nho giáo độc tôn.
Từ đó, Nho giáo thịnh suy theo bước thăng trầm của triều đình : Thời Lê
sơ thì Nho giáo thịnh, chí sĩ đua nhau đi thi để ra làm việc nước. Thời
Lê - Mạc thì Nho giáo suy, nhiều nhà Nho xuất sắc (như Nguyễn Bỉnh
Khiêm) lui về ở ẩn. Nhà Nguyễn lên cầm quyền, địa vị Nho giáo một lần
nữa được khăng định để rồi mất hẳn khi phải đối mặt với sự tấn công của
văn hóa phương Tây.
Trong quá trình tiếp nhận Nho giáo, giữa văn hóa việt Nam và Nho giáo đã
bộc lộ những nét tương đồng và dị biệt.
Những cái tương đồng đã được chú trọng phát huy :Nét tương đồng lớn
nhất là việc trọng tình người. Vì trọng tình vốn là truyền thống lâu
đời của văn hóa Việt Nam cho nên khi tiếp nhận Nho giáo, người Việt Nam
đã tâm đắc với chữ "nhân" hơn cả. Nhân là lòng thương người : Tấm thành
đã thấu đến trời - Bán mình là Hiếu, cứu người là Nhân (Truyện Kiều).
"Nhân" gắn liền với "Nghĩa" : Nguyễn Trãi mở đầu bài Cáo Bình Ngô bất
hủ bằng câu Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Đối với người bình dân,
"nhân" còn đồng nghĩa với "tình" : các từ nhân tình, nhân ngãi (biến âm
của nhân nghĩa), nhân duyên trong tiếng Việt là nói về tình yêu trai
gái. Ca dao Việt Nam có câu rất dí dỏm : Chữ Trung thì để phần cha -
Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ Tình !
Nét tương đồng lớn thứ hai là xu hướng ưa ổn định. Truyền thống văn
hóa nông nghiệp luôn chỉ mong muốn một cuộc sống ổn định, mục đích của
Nho giáo nguyên thủy cũng là tạo nên một xã hội ổn định. Tuy nhiên, ở
Trung Hoa, các triều đại phong kiến chỉ dùng Nho giáo để giữ yên ngai
vàng ( đối nội), còn đối ngoại thì luôn chủ trương bành trướng, xâm
lăng (phát triển) . ở Việt Nam, nhu cầu duy trì sự ổn định không chỉ có
ở dân mà ở các triều đình, không chỉ trong đối nội mà cả trong đối
ngoại. Các cuộc chiến tranh mà người Việt Nam từng phải thực hiện đều
mang tính tự vệ, với phong kiến Trung Hoa cũng thế mà với người Chiêm
Thành cũng thế .
luật của người Trung Hoa. Thật ra, cái này không phải là sản phẩm của
Nho giáo mà chủ yếu là của truyền thống văn hóa, gốc du mục (nhất là
pháp luật) .
Thứ hai, hệ thống thi cử của Nho giáo để tuyển chọn người tài cho
bộ máy cai trị được xây dựng trên nguyên lý trọng văn đã được Nhà nước
phong kiến Việt Nam vận dụng ngay từ đầu triều Lý. Từ kỳ thi đầu tiên
(năm l075) đến kỳ thi cuối cùng của lịch sử khoa cử phong kiến (năm
1919), trong vòng 844 năm có tất cả là 185 khoa thi, với 2.875 người
đỗ, trong đó có 56 trạng nguyên.
Thứ ba, khi mà chữ cổ (nếu đúng là nó có) đã mai một và mất hẳn,
thì người Việt đã sử dụng chữ Hán làm văn tự chính thức trong giao
dịch. Trong tâm thức người Việt, chữ Hán và Nho giáo không tách rời
nhau (chữ Hán được gọi là chữ Nho) và được đồng nhất với cái thiêng
liêng nhất – "chữ thánh hiền". Thấy tờ giấy có chữ dưới đất, người dân
không dám bước qua. Trên cơ sơ chữ Hán, người Việt đã sáng tạo ra chữ
Nôm (chữ của người Nam) dùng trong sáng tác văn chương. Thời Tây Sơn,
Quang Trung Nguyễn Huệ đã mở rộng ra, sử dụng chữ Nôm cả trong lĩnh
vực
hành chính và giáo dục.Lại có những KHáC BIệT, Việt Nam có mà Nho
giáo
không thì ta bổ khuyết vào
Trước hết, ở Nho giáo, tư tưởng "trung quân" đóng vai trò rất quan
trọng, còn tư tưởng yêu nước thì không được đề cập đến (đó là đặc điểm
của truyền thống văn hóa gốc du mục : đề cao vai trò cá nhân của thủ
lĩnh và coi nhẹ quốc gia, hướng tới phạm vi quốc tế). Trong khi đó thì
ở Việt Nam, tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc lại là một truyền
thống rất mạnh (bởi lẽ đặc điểm của văn hóa nông nghiệp là coi trọng
hai đơn vị - làng và nước). Người Việt Nam hấp thu tư tưởng trung quân
Nho giáo trên cơ sơ tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sẵn có,
khiến cho cái trung quân đó bị biến đổi. Khi xuất hiện mâu thuẫn giữa