A. LỜI MỞ ĐẦU:
Lịch Sử Vật Lý.
Tất cả chúng ta được sinh ra và tồn tại trong vũ trụ này là một điều không phải ngẫu
nhiên. Mọi thứ trong vũ trụ đều có nguồn gốc và nguyên nhân của nó. Xã hội ta đang sống hiện
nay cũng đã đi qua một quá trình lịch sử lâu dài. Ngay cả chúng ta cũng không biết mình được
hình thành và tạo ra như thế nào. Để biết được chúng ta phải tìm hiểu về lịch sử của loài người
là con người được xuất phát từ loài linh trưởng hay loài vượn người tinh khôn Homosapiens?
Hay là sự xuất hiện đầu tiên là có hạt co-a-xet-va. Chúng ta thấy rằng tất các các môn học trong
tự nhiên hay xã hội nó điều có quan hệ biện chứng chặt chẽ cho nhau chứ không tách rời nhau.
Nhờ các ngành khoa học mà chúng ta đã xóa bỏ được quan niệm thế giới loài người là do thần
linh tạo nên. Qua đó chúng ta hoàn toàn xóa bỏ đêm trường trung cổ.
Vật lý được coi là một môn khoa học cơ bản nhất của khoa học tự nhiên. Nó giải quyết
các thành phần cơ bản nhất cùa vật chất và các tương tác của chúng cũng như nghiên cứu về các
nguyên tử và việc tạo thành phân tử và chất rắn.Vật lý cố gắng đưa ra những mô tả thống nhất
về tính chất của vật chất và bức xạ, bao quát rất nhiều loại hiện tượng.
Tri thức là một quá trình có tính lịch sừ, mỗi khoa học đều có lịch sử của nó. Lịch sử vật
lý nghiên cứu sự hình thành và phát triển của khoa học vật lý như một thể thống nhất. Nó trình
bày các sự kiện vật lý có chọn lọc và có hệ thống nhằm tái hiện toàn bộ quá trình của khoa học
vật lý. Lịch sử vật lý phân tích những sự kiện vật lý nhằm chứng minh rằng đó là sự phát triển
tất yếu và điều quan trọng hàng đầu là tìm ra quy luật tổng quát của sự phát triển vật lý học. Vật
lý là một hình thái nhận thức thế giới tự nhiên của con người.
Nó có nhiệm vụ phát hiện, trình bày các sự kiện vật lý một cách hệ thống có chọn lọc.
Lịch sử vật lý phân tích và tìm ra các quy luật tổng quát của sự phát triển vật lý qua các thời đại.
Nhà bác học Louis DeBroglie đã nói: “ Nhà vật lý tìm hiểu sự phát triển của vật lý sẽ mang lại
nhiều bổ ích trong cuộc đời nghiên cứu khoa học của mình”.
“Nghiên cứu lịch sử các khoa học không phải là bới đống tro tàn mà tìm trong đó ngọn lửa, rút
ra bài học cho tương lai ”.
Nhóm một chỉ tìm hiểu những phát minh bất ngờ của quá trình lịch sử vật lý, nhưng
không có thể hiện đầy đủ mà chỉ một phần nhỏ và không có độ chính xác cao. Vì có nhiều
nguồn thông tin khác nhau nên mỗi tư liệu có sự khác biệt và nhóm nhất quyết thống nhất lấy
theo sách Hứa Duy Lượng.
II. Xe Chỉ Nam
Theo truyền thuyết thời thượng cổ ở Trung Quốc, Hoàng Đế đánh nhau với Xuy Vưu do trời có
mây quân không nhìn rõ hướng Hoàng Đế nghĩ ra xe Chỉ Nam chỉ phương cho quân sĩ đánh lại
Xuy Vưu. Còn một truyền thuyết vào thời Chu, Sứ giả người Việt Thường ở phương Nam
không nhớ đường về, Chu Công làm ra xe Chỉ Nam sai người đưa sứ về nước.
Mã Quân là nhà phát minh máy móc kiệt xuất đời Tam Quốc, người nước Ngụy. Nghe truyền
thuyết Ông suy nghĩ, có lần trước mặt Ngụy Minh Đế Mã Quân giải thích rõ và được Ngụy
Minh Đế chuẩn cho Mã Quân chế thử. Ông về nghĩ cách, có một hôm Mã Quân ngồi xe ngựa
cùng bạn đi dạo, trên xe Mã Quân chăm chú nhìn cách quẹo trái phải của xe, cuối cùng cũng
tìm thấy chỗ thắt gút của vấn đề. Qua nhiều lần thử nghiệm ông đã chế tạo ra được chính xác.
Mã Quân biểu diễn trong cung, trên xe Chỉ Nam có một người bằng gỗ, bất luận xe đi hướng
nào ngón tay cũng chỉ về hướng Nam. Vậy có phải trong tay người gồ đề nam chăm không?
Không! Trong xe có một hệ thống bánh răng cơ giới phức tạp, tinh xảo. Lợi dụng sự chuyền
động theo chiều khác nhau của các bánh xe răng mà ông đã chế thành. Xe Chỉ Nam là thiết bị tự
động hóa thuộc loại sớm nhất của thế giới.
III. Planck
Max Karl Ernst Ludwing Planck nhà vật lý nổi tiếng thế kỉ 19 đang yên
nghỉ. Tấm bia trên mộ ông, không có những lời ca ngợi công đức dài dòng
văn tự, mà chỉ có công thức toán học sau đây: “ h=6,625.10 erg .sec ”.
Nhờ đó mà ông đoạt giải Nobel, nhờ đó mà sáng lập ra thuyết lượng tử.
Khi còn đi học thầy Muller của ông có một hôm kể về một người thợ nề
vất vả bưng từng viên gạch xây nhà. Thầy nói ông ta bỏ công ra nơ viên
gạch mất công vô ích nhưng không mất nó tồn tại một năm, hai năm
nhiều năm cho đến khi viên gạch nọ bông ra rơi xuống đất mới kết thúc.
Mẫu chuyện này nói rõ nguyên lý quan trọng là định luật bảo toàn. Năng
lượng không tự sinh ra mà cũng không tự mất đi mà nó chỉ chuyền từ dạng
này sang dạng khác, song trong hệ kín năng lượng được bảo tồn. Mẫu
chuyện có vai trò lớn trong việc xây dựng thuyết lượng tử của ông.
IV. Rutherford
Archimede sinh năm 287 TCN.
Ông là nhà Toán Học,Vật Lý của
Hy Lạp.
Ông sinh ở thành phố cảng
Syracure, Sicily.
Các thành tựu của ông như
là:
+Lực đẩy Archimede.
+ Định luật đòn bẩy.
+ Làm các tấm gương lớn hội tụ
ánh sáng mặt trời thêu rụi các con
tàu của người La Mã…
Góp phần lớn cho lĩnh vực phát
triễn khoa học ngày nay.
ARCHIMEDE
Archimede có câu nói nổi tiếng rằng: ” Hãy cho tôi một đểm tựa, tôi sẽ nâng quả đất lên”.
Tất nhiên đây chỉ là câu nói để nâng cao tính ưu việt của định luật đòn bẩy, chứ không làm
được trong thực tế. Ông chỉ ra rằng: ” Đòn bẩy là cơ cấu để cân bằng momen của 1 lực lớn bởi
momen của 1 lực nhỏ hơn”. Khi đòn bẩy ở trạng thái cân bằng tổng momen của 2 lực trực đối
với điểm tựa bằng không, sau khi tính toán để nâng được một vật có khối lượng bằng Trái đất
lên cao 1cm thì phải mất thời gian hơn 30 tỷ năm.
2. Bí mật trong chiếc vương miện:
Archime là nhà vật lý học cổ Hy Lạp, sinh ra ở thành phố Xuy-ra đảo xi-xi-ri. Do có kiến
thức uyên bác nên ông được nhà vua và toàn dân kính trọng.
Có lần nhà vua giao cho thợ kim hoàn làm vương niệm bằng vàng, tất cả số vàng dùng
làm vương niệm đều được cân trước. Một thời gian sau, vương niệm đã làm xong, đem dâng
cho nhà vua. Nhà vua rất đỗi vui mừng, cầm chiếc vương niệm xoay vài vòng. Bỗng nhiên ý
nghĩ hoài nghi lóe lên, nhà vua hỏi người thợ: ”Chiếc vương niệm này đều làm bằng vàng rồng
cả đấy chứ ?”. “Thưa vâng ạ”,người thợ đáp dứt khoát.
“Không đúng, ta thấy các ngươi đã trộn bạc lẫn vào vàng để ăn cắp vàng của ta!”.
1. Sơ lược về tiểu sử và thành tựu của Isaac newton:
ISAAC NEWTON
(1643-1727)
Newton là một nhà khoa học người Anh, 19 tuổi vào ĐH Cambirdge.
Hiện tượng tán sắc ánh sáng
Newton có rất nhiều thành tựu cống hiến cho khoa học. Nhưng thành tựu lớn nhất
và trở thành bất tử là 3 định luật Newton và định luật vạn vật hấp dẫn.
2.Khơi gợi từ quả táo rơi:
Tại sao mọi vật ném lên dù theo hướng nào cũng có xu hướng là rơi trở lại quả đất. Đó là nhờ
vào định luật Vạn vật hấp dẫn của Newton. Khơi gợi nào đã làm ông tìm ra định luật đó? Câu
chuyện như sau:
Nhà vật lý nước Anh Isaac Newton rất thích
đọc sách, luôn ưa động não suy nghĩ. Năm
21 tuổi, Newton thi đỗ trường Đại học Cam-
brit-giơ, sau khi tốt nghiệp Newton được giữ
lại làm việc ở trường. Năm 26, Newton đảm
nhận chức giáo sư trường Đại học cam-brit-
giơ.
Mùa hè năm 1665, nước Anh rơi vào một
trận đại dịch, để tránh lây lan truyền dịch,
các trường đại học đều tạm thời đình khóa.
Newton trở về quê-một thôn nhỏ thuộc quận
Rin-ghen nước Anh.
Một hôm, Newton ngồi trên một cái bãi
bằng phẳng, mở sách cặm cụi đọc. Bỗng
một làn gió nhẹ thoảng qua:”bộp”,”bộp” hai
quả táo rơi xuống suýt nữa bộp lên đầu
Newton.
“Ủa !thế là thế nào nhỉ?”. Đầu óc ưa hoạt động của Newton lập tức
+Đàn Armonica.
+Kính hai tròng.
+ Bếp lò Phranklin.
+Tác phẩm Poor Richard’s Almanac.
+Nhà lãnh đạo của thời đại Khai Sáng.
2. Lý thuyết điện học ra đời như thế nào?
Từ xa xưa, con người mang một cảm giác thần bí, sợ hãi đối với sấm sét. Mọi người cho
rằng: sấm sét là sự trừng phạt của Thượng đế hay các đấng thần linh đối với kẻ có tội.
Vào thế kỷ 18, một nhà khoa học Mỹ Phran-klin (Benjamin Phlanklin) lại không tin vào điều
đó. Qua sự quan sát và phân tích, ông suy đoán rằng :”sấm sét chẳng qua chỉ là một hiện tượng
điện’. Nhưng làm thế nào để chứng thực được suy luận đó?
Một hôm, ông đang ngồi trước của sổ suy nghĩ về vấn đề này. Lúc đó, Phran-klin thấy
thằng con Uy-li-am đang cầm dây diều chạy vụt qua cửa sổ. Mắt phran –klin chợt sáng lên, ông
chợt nghĩ: nếu khi trời đang sấm sét mưa giông, đưa một chiếc diều lên không trung, rất có thể
chúng thực được quan điểm của mình. Nếu sấm sét là điện nó sẽ được truyền từ chiếc diều
xuống theo dây. Đương nhiên việc đó rất
nguy hiểm vì sấm sét đã đánh chết không
biết bao người rồi. Nhưng vì chân lý, phran-
klin quyết định không sợ.
Tháng 7 năm 1752, đó là mùa có
nhiều mưa. Một buổi chiều bầu trời đen kịt,
mưa giông kéo đến. Phran-klin cùng con trai
Uy-li-am mang theo một chiếc dù lớn làm
bằng vải buồm và một chai lây-đen đến một
khoảnh đất rộng ở ngoại ô.
Chiếc diều có hình quả trám bằng vải
buồm trắng để dễ quan sát. Trên thân diều có
lắp dây kim loại dễ “hấp thu” điện.
Từ xa đã có tiếng sấm ầm ĩ truyền lại. Mỗi
tiếng sấm giống như tiếng trống trận vang
luận đoán: "điện động vật”. Nhưng có một
nhà vật lý Ý khác, sau khi nghiên cứu kỹ, tỏ
ra nghi ngờ luận đoán của Gan-va-ni, đó là
giáo sư vật lý Alexandro Volta.
IX. ALESSANDRO VOLTA
1. Sơ lược về tiểu sử của Alessandro Volta:
Alessandro Volta
(1745-1827)
- Ông sáng lập ra học thuyết về điện năm 1800
và tạo nên nguồn điện đầu tiên (được gọi là pin
Volta).
- Là một nhà khoa học người Ý, ông vừa giỏi vật lý vừa là nhà sinh học.
2. Cột Volta ra đời:
Volta là nhà vật lý nghiên cứu về điện học, qua rất nhiều thí nghiệm,ông phát hiện rằng
đùi ếch bị co giật không phải là do dòng điện sinh ra trong bản thân con vật mà là do dòng điện
sinh ra khi kim loại khác nhau cắm vào đùi ếch tiếp xúc; chính nó làm cho đùi ếch co giật.
Sau đó Volta dốc toàn lực nghiên cứu về vấn đề này. Ông thậm chí thí nghiệm ngay trên cơ thể
của mình. Hôm đó,Volta làm thí nghiệm trên chính mình, các trợ thủ đang làm việc chẩn bị.
Thí nghiệm bắt đầu,Vôn-ta để cho trợ lý đặt một tấm thiết và một đồng bạc trắng lên trên lưỡi
rồi dùng dây kim loại nối liền chúng với nhau. Đột nhiên Vôn-ta “phì” một tiếng, phun hết
những đồ trong miệng ra bảo trợ lý ghi chép lại hiện tượng: Là vị axit nhưng khi đổi vị trí hai
kim loại thì lại là vị kiềm, qua lần thí nghiệm này Volta tin rằng: hai kim loại khác nhau, trong
điều kiện nhất định, có thể sinh ra dòng điện.
Đây là mô hình thí nghệm của Volta.
Tìm tới khoa học là rất gian khổ, kết quả của nó là làm cho nền nhân loại văn minh và
tiến bộ. Bằng sự lao động cần cù thông minh, cuối cùng Vôn-ta đã phát minh thiết bị đầu tiên
trên thế giới có thể tạo ra dòng điện ổn định và duy trì nó. Thiết bị đó về sau được gọi là nguồn
“pin Vôn-ta”. Nó mở ra cục diện mới cho việc nghiên cứu điện học.
Với sự xuất hiện của nguồn điện, nhiều loại máy móc dùng điện đã dựa trên đó mà ra đời.
đã chế thử thành công chiếc máy điện báo.
Trớ trêu thay trời không thương lòng người, không có ai thông hiểu ý nguyện của Morse,
không có ai chịu bỏ tiền chế tạo cái của khác đời đó. Nhưng khó khăn không thể làm ngã lòng
người, ông vừa dạy học vừa dạy vẽ để kiếm sống, vừa tiếp tục cải tiến máy điện báo.
Năm 1842, với nguồn viện trợ của Quốc Hội Mỹ cùng lòng hăng hái hừng hực, Morse thi
công hoàn thành đường dây điện báo từ Oasinton đến thành phố Morse trong một thời gian rất
ngắn.
Ngày 24 tháng 5 năm 1844, Morse xơ vô cùng xúc động trình diễn chiếc máy điện báo do
ông phát minh. Trước mặt các quan khách, âm thanh “tích tích…tà tà…” do Morse nhấn ma-
níp một cách điêu luyện được truyền tới Quốc Hội Mỹ cách đó 40 dặm.
Morse đã phát đi điện báo đường dài đầu tiên của nhân loại, bức điện báo chỉ có câu:
"thượng đế sáng tạo ra biết bao kỳ tích ”.
Đây là bức điện báo đầu tiên.
The first Telegraph
What hath God wrought ?
Hệ thống mã do ông phát minh (ngày nay được gọi là mã tín hiệu Morse)
Tháp Morse
Từ đó, tên tuổi Morse vang lừng khắp nơi, ông trở thành người anh hùng trong mắt mọi người.
Có ý kiến đánh giá rằng: "Trong lịch sử hóa học, ông dùng một chủ đề đơn giản mà đã gọi
ra được cả thế giới". Vậy các bạn có biết ông là ai không?.
XI. MENDELEEV:
1. Sơ lược tiểu sử và thành tựu của Mendeleev:
MENDELEEV (1834 - 1907)
Tên đầy đủ của ông là Dmitri Ivanovich
Mendeleev.
+Menđêlêep là nhà hóa học.
+Là nhà hoạt động xã hội nổi tiếng nước Nga.
+Là giảng viên của trường Đại học Pêtécbua chuyên
ngành hóa học.
+Người sau mệnh danh ông là "thần cửa của khoa
đó là nguyên tố mới gọi là Hêli….
` Bảng tuần hoàn nhanh chóng được dịch thành nhiều thứ tiếng và truyền bá đi khắp nơi
trên trái đất. Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học (còn gọi là bảng tuần hoàn Mendeleev)
trên 100 năm qua đã là chìa khóa dẫn đến việc phát minh nhiều nguyên tố hóa học mới.
Bảng tuần hoàn hóa học ngày nay.
Cũng giống như trang phục, âm nhạc cũng là thức ăn tinh thần không thể thiếu của mỗi
con người. Vậy các bạn có biết ai đã sáng tạo ra chiếc máy hát đầu tiên và được mệnh danh
là “phù thủy Menlopark” không?
XII. THOMAS EDISON
1. Sơ lược về tiểu sử và thành tựu của Thomas Edison :
Thomas Edison
(1847-1931)
Là nhà phát minh, thương nhân.
Ông được mệnh danh là “phù thủy
Menlo Park”. Những phát minh của ông gây ảnh
hưởng lớn đến thế kỷ XX, nổi tiếng nhất là bóng
đèn.
2.Vua phát minh và bóng đèn điện
Nước Mỹ có một ông vua phát minh tên là
Thomas Edison. Cả đời ông có nhiều phát
minh lớn nhỏ.bóng đèn dây tóc mà ta đang
dùng là phát minh của ông.trước khi đèn
điện ra đời người ta đã sơ bộ nắm được
những tri thức về điện. Ở Anh một nhà hóa
học đã dùng nhiều chiếc đèn pin và hai
thanh cacbon chế ra cây đèn huỳnh quang
đầu tiên trên thế giới, song ánh sáng của nó
quá gay gắt, chỉ có thể lắp ở đường phố hoặc
trên quảng trường và chỉ sáng vài tiếng đồng
hồ là tắt ngay.Thời đó nói chung mọi nhà
như mong muốn.
Vào ngày mùa hè năm đó Edison vùi đầu
làm việc trong phòng thí nghiệm, nóng đến
nỗi đầu ông đẫm mồ hôi, tiện tay ông cầm
chiếc quạt nan tre phẩy cho mát, bất chợt
ông nhìn như dán mắt vào chiếc quạt. Một
lát sau, ông lại xé chiếc quạt ra thành từng
mảnh vụn, đặt dưới kính hiển vi quan sát tỉ
mỉ; xem đi xem lại không nén được sự vui
mừng tột độ:
"Hừ, sao lâu nay mình không nghĩ ra cách
dùng sợi than tre nhỉ?”.
Lúc đó, các trợ thủ của Edison cũng đã quay
lại, họ cho những nan tre vừa xé vụn vào lửa
và đốt cháy thành than, rồi cho những sợi
than tre vào bóng thủy tinh,vừa cho thông
điện là đèn đã sáng lên, hơn nữa còn sáng
liên tục hơn 1000 tiếng đồng hồ.
Lần này toại nguyện rồi, mọi trợ thủ cũng
điều mừng vui nói vậy.
Về sau Edison vẫn tiếp tục nghiên cứu làm
cho chất lượng bóng đèn không ngừng nâng
cao.Sau này ông lại thay bóng đèn sợi than
tre bằng bóng đèn sự von-fram. Đó chính là
bóng đèn điện tròn mà chúng ta dùng hiện
nay vì chiếc bóng đèn điện nho nhỏ này mà
Edison mất cả 12 năm, đã làm hàng nghìn
thí nghiệm và tốn biết bao nhiêu tâm huyết.
3. Máy chiếu bóng 1887:
trong tia âm cực, kết quả là trên màng huỳnh quang đó
cũng lại nhấp nháy. Tia âm cực không thể vượt qua
khoảng cách 2m để làm cho màn huỳnh quang nhấp
nháy trong đầu Rơnghen cuồn cuộn những con sóng
suy nghĩ: rất có thể là một loại tia mới chưa từng thấy
Về nhà, ông đang ăn miếng bánh mì vì bụng đói bỗng
nhìn thấy bóng của mình, Rơnghen như chợt nghĩ ra
điều gì, vội vàng quay trở lại phòng thí nghiệm. Trong vài tuần lễ quên ăn quên ngủ, Rơnghen
đã làm rỏ tia mà ông gọi là tia X.
Hôm đó,vợ Rơnghen mang mấy thứ đồ ăn đến phòng thí nghiệm vì đã mấy tuần ông không về
nhà. Nhìn thấy vợ đến, Rơnghen rất vui mừng: “nào em thân yêu, hãy đến đây, anh sẽ chụp cho
bàn tay em bức ảnh!”.
Bức ảnh nhanh chóng rửa ra.Trên bức ảnh hình ảnh toàn
bộ xương bàn tay của bà Rơnghen rỏ mồn một, kể cả chiếc
nhẫn chưới đeo ở ngón tay.
Không lâu sau đó, Rơnghen tuyên bố những nghiên cứu
của mình về tia X cùng với bức ảnh xương bàn tay của bà
Rơn-ghen.
Nhưng mà rơn-ghen không ngờ rằng phát hiện của mình
lại gây nên một cơn giông bão trong xã hội. Vì do hạn chế
về hiểu biết, một nghị sĩ Mỹ còn đòi đưa ra đạo luật cấm
sử dụng tia X.
Những ánh sáng chân lý không thể nào ngăn chặn được.
Rơnghen không hề khiếp sợ những lời công kích ngu xuẩn
đó. Ông tiếp tục nghiên cứu sâu tính chất tia X. Để dùng
nó phục vụ cho lợi ích con người. Phát hiện này đã lôi
cuốn hàng trăm nhà khoa học đã lao vào nghiên cứu.
Chẳng bao lâu sau người ta ứng dụng tia X vào việc phẩu
thuật xương.
Phát hiện của Rơnghen đã dẫn đến cuộc cách mạng lớn trong vật lý học. Để biểu dương cống
các nguyên tố siêu uran (nguyên tố có
nguyên tử số lớn hơn 92, không có trong
tự nhiên) đã được tạo thành. Tuy nhiên,
vào năm 1938, họ bắt đầu thực hiện phân
tích hóa học một cách cực kỳ chính xác
các sản phẩm tạo thành khi bắn phá uran
bằng neutron. Đúng vào thời gian này,
phát xít Đức xâm chiếm nước Áo, và
Meiner- một người Áo gốc Do thái, chạy
sang Hà Lan rồi tới Thuỵ Điển, nhưng bà
vẫn giữ liên lạc với công việc bởi Hahn và
Strassman bằng những lá thư. Một trong bức thư gởi cho Meitner, Hahn kết luận rằng: sản
phẩm phân rã nhẹ hơn uran rất nhiều và bao gồm bari có nguyên tử số 56. Hahn viết rằng là một
nhà hóa học, ông chắc chắn đó là bari. Nhưng là một nhà “hóa học hạt nhân”, ông không thể tin
được điều đó. Khi ấy, bà từng nghĩ rằng: cả ba quá trình bắt neutron khác nhau này đều bắt
nguồn từ đồng vị urani 238. Từ những phân tích lý thuyết, bà đã không thể hiểu được làm thế
nào mà sự bắt một neutron đơn lẻ lại có thể gây ra một sự bất ổn định đến mức mà có tới 4 hoặc
5 sự phát xạ beta sau đó. Và thậm chí còn một điều khó hiểu hơn là, hai chuỗi phân rã beta dài
diễn ra song song với nhau trong một vài bước phân rã. Lý thuyết khi ấy đã không giải thích
được.
Vì thế, Meitner mời người cháu của bà là Ottro Frisch, một nhà vật lý tại viện của Bohr ở
Copenhagen, đến thăm bà tại thị trấn Kungaln trên bờ biển phía tây Thụy Điển. Bà cùng cháu
trai đi dạo và cùng nhau thảo luận về sự khó hiểu của notron khi bắn vào nguyên tử uran 238.
Khi bà đang nhìn lên cành cây phủ đầy tuyết, bỗng chợt giọt nước rơi xuống, Meitner liền nghĩ
xét đến mô hình hạt nhân- dạng giọt chất lỏng dao động và có thể phân tách thành hai phần.
Frisch đã nhận ra rằng, sức căng bề mặt của một hạt nhân nặng như urani có thể là nhỏ không
đáng kể. Meitner thì đã hình dung ra những tính toán về sự hụt khối và sinh năng lượng khi hạt
nhân phân tách. Khi Meitner và Frisch đưa ra lý thuyết của họ, cộng đồng vật lý đã ngay lập tức
chấp nhận khái thuật ngữ "phân hạch" mà họ đề xuất. Và Bohr đã sử dụng nghiên cứu của họ
như một xuất phát điểm để xây dựng một lý thuyết đầy đủ hơn.