ĐAU THẮT NGỰC KHÔNG ỔN ĐỊNH (Kỳ 3) - Pdf 16

ĐAU THẮT NGỰC KHÔNG ỔN ĐỊNH
(Kỳ 3)
Điều trị
Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà ta bắt đầu bằng các phương pháp điều trị
thích hợp. Điều trị nội khoa là nền tảng và bắt đầu cho mọi trường hợp. Các biện
pháp điều trị tái tạo mạch (can thiệp nong hoặc đặt Stent ĐMV, phẫu thuật làm
cầu nối chủ-vành) rất quan trọng và là điều trị mang tính triệt để, cần được cân
nhắc trong từng tình huống cụ thể.
Mục tiêu của điều trị nội khoa
Nhanh chóng dùng thuốc chống ngưng kết tiểu cầu.
Làm giảm đau ngực bằng các thuốc chống thiếu máu cục bộ cơ tim.
Các bệnh nhân không đáp ứng với điều trị nội khoa cần được chỉ định can
thiệp cấp cứu. Với những bệnh nhân đáp ứng tốt với điều trị nội khoa cũng cần
được sàng lọc và xem xét chụp động mạch vành để quyết định tiếp hướng điều trị
tái tạo mạch cho bệnh nhân (nong ĐMV và/hoặc đặt Stent, mổ cầu nối ).
Các ưu tiên trong điều trị
Aspirin.
Giảm đau ngực bằng Nitrate và/hoặc chẹn bêta giao cảm.
Chống đông máu bằng Heparin hoặc Heparin trọng lượng phân tử thấp
(LMWH).
Các thuốc ức chế thụ thể GP IIb/IIIa tiểu cầu.
Thuốc chống ngưng kết tiểu cầu đường uống
Aspirin:
Cơ chế chống ngưng kết tiểu cầu của Aspirin là thông qua chẹn con đường
Thromboxan A2 làm bất hoạt tiểu cầu.
Tuy tác dụng của Aspirin được coi là yếu trong chống ngưng kết tiểu cầu
nhưng nhiều nghiên cứu đã chứng minh được là nó có thể làm giảm tới 50% tử
vong hoặc NMCT ở bệnh nhân ĐTNKÔĐ.
Thuốc có thể phát huy tác dụng ức chế Thromboxan A2 trong vòng 15
phút, nên cần cho ngay khi bệnh nhân nhập viện. Nên cho loại hấp thu nhanh
(BabyAspirin viên 81 mg nhai 4 viên). hoặc gói bột Aspegic (gói 100 mg) uống 3

thể gặp là do hình thành huyết khối liên quan đến kích thích hoạt hoá tiểu cầu. Do
đó việc duy trì liên tục Aspirin là biện pháp tốt để phòng tránh hiệu ứng này.
Nên dùng Heparin theo đường truyền TM.
Liều dùng: Liều khuyến cáo hiện nay là liều tương đối thấp, tiêm ngay TM
60 UI/kg sau đó truyền TM liên tục liều 15 UI/kg/giờ. Cần kiểm tra thời gian
aPTT mỗi 6 giờ sao cho thời gian này đạt khoảng 50-70 giây.
Heparin có trọng lượng phân tử thấp (LMWH):
Lợi thế so với Heparin thường là: có thời gian tác dụng kéo dài, liều cố định
do dùng tiêm dưới da mà ít cần theo dõi bằng các xét nghiệm liên tục, ức chế cả
yếu tố Xa và IIa của tiểu cầu, ít gây giảm tiểu cầu máu.
Một số nghiên cứu cho thấy LMWH làm giảm 17 % tỷ lệ NMCT hoặc tử
vong ở bệnh nhân ĐTNKÔĐ so với dùng Heparin thường.
Liều lượng: Có nhiều loại LMWH trong đó có những loại hay được dùng:
tiêm dưới da:
Enoxaparin (Lovenox): 1mg/kg mỗi 12 giờ,
Dalteparin: 120 U/kg mỗi 12 giờ,
Nadroparin (Fraxiparin): 0,1 ml/10kg cân nặng, tiêm dưới da chia 2 lần
trong ngày.
Thuốc ức chế trực tiếp thrombin (Hirudin, Hirulog): Các thuốc này ức
chế trực tiếp thrombin nên có tác dụng chống đông khá mạnh. Tuy nhiên, cho đến
nay chúng chưa được chấp nhận để dùng thường quy trong ĐTNKÔĐ thay thế cho
Heparin. Chúng chỉ nên được dùng ở những bệnh nhân có tiền sử bị giảm tiểu cầu
do dùng Heparin.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status