1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH CÁC NỀN VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG THỜI CỔ
ĐẠI (ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, CƯ DÂN, KẾT CẤU NHÀ NƯỚC, XÃ HỘI):
ĐKtự
nhiên:
- Hình thành trên lưu vực của các sông lớn, đồng bằng phù sa màu mỡ phì
nhiêu, thường lấy tên các dòng sông đặt cho các nền văn minh.à Đất đai mềm,
ẩm ướt, phì nhiêu.
VD: văn minh sông Nil à Ấn Độ.
Văn minh Hoàng Hà à Trung Hoa
Thời điểm
hình thành
- 5000 năm cách nay (3000 năm TCN)
Thời điểm con người biết sử dụng công cụ lao động bằng đồng.
à Văn minh thời đại đồ đồng.
+ Đồng đỏ: đồng nguyên chất, mềm.
+ Đồng thau: đồng pha kẽm
Thích hợp vùng đất mềm.
Cơ sở kinh tế - Nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa.
Thủ công nghiệp chỉ là ngành phụ trong thời gian nông nhàn không là
hàng hóa.
à Các nền văn minh đều là văn minh nông nghiệp
Kết cấu giai cấp
trong xã hội
- Giai cấp nông dân công xã chiếm 90% dân số xã hội à là lực lượng
sản xuất chính trị bị bốc lột (tô, thuế).
- Giai cấp thống trị là tầng lớp quý tộc chủ nô.
- Giai cấp nô lệ:
+ Số lượng: không đông, thiểu số.
+ Vai trò: không là lực lượng sản xuất chính trị trong xã hội.
à Chế độ chiếm hữu nô lệ phương Đông không điển hình, còn gọi là
chế độ nô lệ gia trưởng và giai cấp nô lệ còn gọi là nô tì.
giai cấp
trong xã
hội
- Giai cấp thống trị là giai cấp quý tộc chủ nô. Xuất hiện từ những người
đứng đầu thị tộc, bộ lạc (tộc trưởng, tù trưởng).
- Giai cấp nô lệ:
+ Số lượng: rất đông, đại bộ phận dân cư.
+ Vai trò: lực lượng sản xuất chính xã hội.
- Tầng lớp dân tự do.
à Chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển mang tính điển hình, chỉ tồn tại ở Hy Lạp
và La Mã.
Chế độ
chính trị
- Vua phương Tây được hình thành do đại hội nhân dân bầu ra viện nguyên
lão à cử ra người đứng đầu Nhà nước (vua: REX).
à Chế độ cộng hòa: là cộng hòa quý tộc (vì viện nguyên lão chỉ gồm quý tộc)
àlà chế độ dân chủ (vì viện nguyên lão đông).
Đây là chế độ chính trị ưu việt nhất ở thời kỳ cổ đại, khoa học kỷ thuật phát
triển mạnh nên chỉ 300 năm văn minh phương Tây đạt đỉnh cao.
3. CÁC THÀNH TỰU VĂN MINH AI CẬP (KHOA HỌC TỰ NHIÊN, CHỮ
VIẾT):
1. Chữ viết:
- Chử viết của Ai Cập cổ đại xuất hiện rất sớm trong thời kỳ tan rã của chế độ CXNT trên
vùng lãnh thổ sông Nil → chữ viết này là chữ viết tượng hình.
- Tượng hình nghĩa là hình thức ký hiệu tương tự, giống như sự việc người ta muốn mô
tả.
+ Tượng hình chỉ Ý: chỉ biểu thị những gì mang tính cụ thể, còn những gì mang tính trừu
tượng thì không biểu thị được.
+ Tượng hình chỉ ÂM : là những ký hiệu không đọc được ở hình vẽ mà đọc ở âm quy
ước của nó. Và đi kèm còn có hơn 24 ký hiệu chỉ phụ âm. Khó học nên chỉ có giai cấp
- Hình học:
+ Tìm ra trị số п = 3,16 giải những bài toán hình học không gian phục vụ xây dựng
+ Biết công thức tính chu vi và diện tích các hình cơ bản ( vuông, chữ nhật, thang… )
+ Biết công thức tính thể tích của hình cầu, hình tháp
- Đại số học: biết giải các phương trình bậc nhất ( dùng chữ thay số )
d. Y học: Không chỉ hiểu biết chung về y học mà còn chữa theo chuyên khoa. Tuy chưa
biết được sự tuần hoàn của máu trong cơ thể nhưng họ biết được thân nhiệt liên quan chặt
chẽ với nhịp đập trái tim.
- Biết đuợc 3 loại bệnh: chữa đựoc bệnh hoàn toàn, bệnh có khả năng chữa khỏi và bệnh
không thể chữa
- Thành tựu rực rỡ là kỹ thuật “ướp xác” → Tốn kém nên chỉ áp dụng đối với hoàng đế,
Kim Tự Tháp là lăng mộ của Hoàng đế đặt các xác ướp.
4. NỀN VĂN MINH ẤN ĐỘ: TÔN GIÁO
a. Tín ngưỡng và tôn giáo nguyên thủy:
Các tôn giáo Ấn Độ phần lớn bắt nguồn từ những tín ngưỡng và tôn giáo trong thời kỳ
nguyên thủy: Sùng bái các hiện tượng tự nhiên, sùng bái vật tổ à kinh VEDA
Đọc trong kinh VEDA cho thấy người Ấn Độ thờ nhiều thần (33.333 vị thần) gồm thần
lửa, sấm sét Trong đó thần lửa có vị trí và vai trò rất quan trọng. Sau đó phát sinh tục
thờ cúng tổ tiên à tất cả những tôn giáo này phản ánh hình thái ý thức của xã hội nguyên
thủy. Từ đó được tổng hợp lại và hình thành nên tôn giáo mới à Đạo bàlamôn.
b. Đạo Bàlamôn: Không có giáo chủ, kinh sử dụng chỉ yếu là VEDA (là giáo lý của đạo).
Tập trung 3 vấn đề:
- Ra sức biện hộ cho chế độ thịnh hành ở Ấn Độ là chế độ chủng tính (Đẳng cấp)
(VARNA) có 4 đẳng cấp:
+ Tăng lữ (BRAHMAN): thiểu số trong xã hội, nắm giữ chức vụ quan trọng của bộ máy
nhà nước và tôn giáo, được quyền đọc, giảng kinh VEDA và thực hành những nghi lễ tôn
giáo. Đây là đẳng cấp cao quý không ai được quyền đụng chạm đến
+ Võ sĩ (KSATRYA): bảo vệ vua chúa, mùa màng, lãnh thổ được đọc kinh VERA và
dự buổi tế lễ.
+ Bình dân (VAISHYA): những người hoạt động trong nông nghiệp, thủ công nghiệp và
bái càng phức tạp à địa vị của tầng lớp tăng lữ được củng cố. Do chế độ đẳng cấp vững
chắc, đã khiến tầng lớp nông dân lao động căm ghét ra sức chống đối những người đã đè
nén bóc lột họ. Để phản ánh tâm trạng này, trong xã hội Ấn Độ xuất hiện nhiều trào lưu
tư tưởng khác nhau à trong đó đều có điểm gặp gỡ chung là trực tiếp hoặc gián tiếp chống
lại chế độ đẳng cấp và đạo Phật là một trong số đó.
2/ Tinh thần cơ bản của Phật:
- Phật giáo phủ nhận sự tồn tại vĩnh viễn và bất diệt của mọi sự vật. Đó chính là vô
thường có nghĩa là không thường còn, để chỉ sự biến động sự thay đổi diễn ra trong từng
đơn vị rất nhỏ (KAKNA vô thường).
- Phật giáo công nhận thuyết luân hồi, nghiệp báo và nhấn mạnh tính nhân quả à điều này
kế thừa của đạo Bàlamôn.
- Học thuyết nổi tiếng của Phật giáo là “TỨ DIỆU ĐẾ” gồm:
+ Khổ đế à giải thích thế nào là khổ theo quan niệm của Phật giáo đó là những điều bất
trắc mà con người không toại nguyện trong cuộc sống.
+ Tập đế à chỉ ra nguyên nhân vì sao sinh ra sự khổ, đó là do con người bị ràng buộc bởi
rất nhiều ham muốn: tham (lam), sân (nóng nảy, giận giữ), si (mê muội).
+ Diệt đế à nhận thức sự cần thiết phải loại trừ sự khổ khỏi cuộc sống con người, tức phải
lọai trừ tất cả những nguyên nhân gây ra sự khổ, đó là diệt những ham muốn si mê.
+ Đạo đế à 8 con đường đúng đắn đó là đòi hỏi con người phải nhận thức đúng đắn trong
tư duy, trong hành động và sự việc để vươn đến sự giác ngộ và giải thoát.
à mục đích cuối cùng của sự giác ngộ, sự giải thoát là đạt đến Niết bàn. Niết bàn là một
trạng thái tâm hồn đã hoàn toàn được giải thóat, không còn ham muốn không còn si mê à
đã thành Phật.
- Giáo lý Phật giáo do đệ tử Phật ghi chép lại tạo thành TAM TẠNG KINH ĐIỂN, gồm 3
phần:
+ Kinh tạng: là bộ phận ghi chép những lời dạy của Phật.
+ Luật tạng: luật nhà Phật.
+ Luận tạng: làm rõ những điều chưa rõ trong Kinh và Luật.
3/ Quá trình truyền bá: (TK 5 TCN – TK 5 sau CN)
Đạo phật xuất hiện ở Ấn Độ vào khoảng giữa TK1 TCN tức vào thời điểm hưng thịnh
thừa (phái nam tông).
Giống: về mặt tôn chỉ và mục đích.
Khác: về phương pháp và phương tiện để đạt đến.
+ Tiểu thừa à chủ trương quay vào trung thành với những ý nghĩa ban đầu của phật giáo
(phật giáo nguyên thủy) tức tu luyện và giải thoát theo từng quy mô nhỏ mang tính cá
nhân và tư phát.
+ Đại thừa à chủ trương mở rộng giáo lý trong nhiều bộ kinh khác nhau, giải thoát đông
đảo nhiều người. Từ đó tôn vinh phật thích ca trở thành giáo chủ của phật giáo và tạc
tượng để thờ, xây dựng chùa chiền. Bồ tát là những người tu thành phật tự nguyện giúp
đỡ chúng sinh.
Vậy sau thời kỳ phát triển rất thịnh đạt khoảng 1000 năm (TK 5 TCN – TK 5 Sau CN)
phật giáo ở Ấn Độ bắt đầu có những biểu hiện suy thoái, giáo lý của phật ngày càng trở
nên uyên thâm, khó hiểu vượt quá sự hiểu biết của quần chúng à Phật giáo ngày càng bị
thu hẹp trước sự phát triển của Thiên chúa giáo và Hồi giáo.
5. VM TRUNG QUỐC (CHỮ VIẾT TƯ TƯỞNG)
- Theo truyền thuyết, chữ viết Trung Hoa xuất hiện từ thời kỳ Hoàng đế cách nay 5.000
năm à nếu có thì đây chỉ là loại văn tự kết thừng (thắt nút). Vì các tù trưởng đeo sợi dây
thừng ngang lưng. Khi sự việc nào quan trọng à nút lớn, ít quan trọng à nút nhỏ. Đây là
phương thức để ghi nhớ các sự việc trong buổi đầu của thời đại văn minh.
- Chữ viết xuất hiện thực sự từ thời kỳ nhà Thương TK 17 TCN à văn tự giáp cốt.
+ Giáp văn: văn tự viết trên mai rùa.
+ Cốt văn: viết trên xương thú, chủ yếu là xương bò.
Thời kỳ nhà Thương quan niệm có thượng đế quyết định mọi việc dưới trần gian, nên khi
làm việc gì đều hỏi ý kiến thần linh, thượng đế. Dùng mai rùa nung nóng trên lửa, có vết
nứt à đoán chữ và khắc lên. Cốt văn cũng vậy, toàn bộ có 5.000 ký hiệu khác nhau, diễn
đạt những đoạn văn tương đối dài, có bản hơn 100 chữ. Về bản chất văn tự này là chữ
tượng hình.
Thời kỳ Tây Chu: áp dụng chế độ tông pháp mang đất đai, nô lệ, của cải cho người nhà,
thường cho đúc chuông và đỉnh bằng đồng trên đó khắc ký hiệu để ghi nhớ sự việc ấy,
gọi là Chung đỉnh văn (nhưng vì đều bằng kim loại nên còn gọi là Kim văn).
phải, từ trên xuống dưới, hệ thống chữ cái của người Hy Lạp được xem là loại chữ đẹp
nhất thế giới, bởi sự cân đối hài hoà, đây là đặc điểm của kiến trúc Hy Lạp sau này.
2. Khoa học tự nhiên:
Được coi là quê hương của nhiểu lĩnh vực khoa học khác nhau thuộc khoa học tự nhiên:
toán, lý, hóa, y học, sinh học ….Là nơi sản sinh ra rất nhiều nhà khoa học khổng lồ để lại
nhiều thành tựu lớn lao vĩ đại trong kho tàng khoa học của nhân loại, đặc biệt là các lĩnh
vực toán học, vật lý học, y học, thiên văn…
- Người đầu tiên là ông THALES ( talét ) đã phát minh ra nhiều định lý. Ông là người
đầu tiên chứng minh hai góc đáy của tam giác cân bằng nhau, người đầu tiên đo được
chiều cao của Kim Tự Tháp và ông đã phát minh ra tỷ lệ thức triết học, địa lý học và ông
đã tính được ngày xảy ra nhật thực ở nước Hy lạp
- Ông PITAGORE (sinh 580 - mất 500 TCN) là nhà toán học nỗi tiếng của Hy lạp cổ đại
là người đem lại nhiều biến đổi cho nền toán học. Định luật nỗi tiếng mang tên ông về
quan hệ giữa 3 cạnh tam giác vuông. Ông xác định trái đất hình cầu và chuyển động theo
quỹ đạo nhất định, đặc biệt ông được coi là nhà khoa học về những con số
- Ông ACSIMÉT (sinh 28 -mất 212 TCN) thành tựu của ông rất to lớn trong lĩnh vực
toán học và cơ học và đặc biệt là ông biết ứng dụng những phát minh của mình vào cuộc
sống , góp phần giải phóng sức lao động của con người. Ông là tác giả của định luật nổi
tiếng mang tên ông về sức đẩy của nước và tính trọng lượng của vật ngâm trong nước.
Ngoài ra, ông còn là người phát minh ra đòn bẫy, ròng rọc, máy bơm nước, công thức
tính diện tích hình nón, hình cầu, và cả số ( ∏ ).
- ƠCLÍT củng là nhà tốn học Hy lạp, ơng sống ở thế kỷ 3 TCN, ơng đã để lại nhiều cơng
trình nghiên cứu đồ sộ và tiêu biểu là bộ sách cơ bản gồm 13 cuốn chủ yếu về nội dung
hình học phẳng và khơng gian. Phần lớn chương trình tốn phổ thơng hiện nay sử dụng 6
cuốn của bộ này và viết sách giáo khoa cho chưong trình học phổ thơng.
- ÊRATOXTEN đây là nhà khoa học tài năng ở nhiều lĩnh vực, thiên văn, vật lý, sử học.
Đặc biệt ơng đã tính được độ dài của chu vi trái đất là: 39.700km và vẽ được bản đồ thế
giới theo quan điểm tiểu thuyết lúc bấy giờ nhưng ngày nay khơng sử dụng được
7. VM LA MÃ: KITO GIÁO_ NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH
Tiền đề hình thành:
- Về tư tưởng triết học:
Từ giữa thế kỷ I TCN trở đi, nhà nước La Mã đã chuyển dần từ hưng thònh
sang suy thoái. Giai cấp chủ nô muốn lợi dụng tôn giáo để duy trì trật tự xã
hội. Do vậy triết học La Mã chuyển dần sang duy tâm, quay về với trường
phái triết học khắc kỷ - Stoicism đựoc hinh thành ở Hy Lạp khoảng cuối thế
kỷ IV TCN. Tiêu biểu cho trường phái này ở La Mã là các tư tưởng của
Seneque và Philo.
+ Seneque: (cuối thế kỷ I TCN - đầu TK I s.CN): ông muốn thiết lập một hệ
thống luân lý dựa trên nguyên tắc khiêm nhường và nhẫn nhục. Ông cho
rằng thể xác là gánh nặng của linh hồn, là sự trừng phạt đối với linh hồn.
Cuộc sống trần gian chỉ là khúc dạo đầu cho thế giới bên kia của linh hồn -
thế giới con người sau khi chết. Cái thế giới bên kia, nô lệ - nghèo khó,
giàu có - quý tộc đều có thể đạt được như nhau, nếu con người biết nhẫn
nhục, nhường nhòn, chòu đựng gian khổ, lấy sự phục tùng làm đức tính tốt
đẹp nhất của con người.
+ Philo: (nửa đầu thế kỷ I s.CN): thế giới vật chất, trong đó có cả con
người là can nguyên của tội lỗi. Giữa thể xác và linh hồn có một vực
thẳm không thể đến với nhau được và trung gian của vực thẳm đó là cái
mà ông gọi là Thiên Đạo - Đấng Cứu Thế. Con người muốn được giải
thoát chi cần có niềm tin và một cuộc sống đạo đức.
8. VĂN MINH TÂY ÂU TRUNG ĐẠI: TỰ CHUẨN BỊ. CÁC CUỘC PHÁP KIẾN
ĐỊA LÝ, HỆ QUẢ
1. Bồ Đào Nha:
- Thành lập trường hàng hải, thiên văn, đòa lí (hoàng tử Henri)
- Tiến hành nhiều cuộc thám hiểm, dần tìm ra Ghine, Công Gô, Nam Phi-mũi
Hảo Vọng.
- Vascô đơ Gama: đỉnh cao các cuộc thám hiểm Bồ Đào Nha: năm 1497
xuất phát từ Lixbon bò bão thổi tới Braxin sau đó đến Hảo Vọng và ra Ấn
Độ Dương tới Môzămbich. Năm 1498 lạc đến bờ biển Ấn Độ, họ phải chiến
đấu rất ác liệt. Sau đó quay về Bồ Đào Nha 18-9-1499 với hàng hoá gấp 60
- Magienlăng:
Trước Magienlăng có Banboa vào năm 1513 xuyên qua châu mỹ và xuyên
qua eo Panama. Từ trên một đỉnh núi, Banboa nhìn thấy Thái Bình Dương ông
gọi là Nam Hải, nhưng bò nghi ngờ là phản vua Tây Ban Nha xử tử.
Magienlăng người Bồ Đào Nha bò ảnh hưởng bởi phát hiện của Banboa và
cho rằng vòng qua cực nam châu Mỹ có thể vào được Thái Bình dương. Quốc
vương Bồ Đào Nha không chấp thuận đến 1517 ông sang Tây Ban Nha và gia
nhập "hội đồng Ấn Độ" và viết cuốn "Đông Ấn Độ phong thổ kí" (ông
đã từng đến Ấn Độ khi ở Bồ Đào Nha)
Tổng cộng: 5 thuyền và 265/239 người rời Tây Ban Nha ngày 20/9/1519 đến
đảo Cana và Braxin; 11/1519 đến nam Mỹ
28/11/1520 đến được Thái Bình Dương
16/3/1521 tới quần đảo Philippin
27/bốn/1521 Magienlăng bò chết do đụng độ với thổ dân .
Encanô lên thay tiếp tục đến Malaysia và Timor, đến sáu/9/1522 chỉ còn một
thuyền và 18 người về đến Tây Ban Nha.
Chứng minh một cách thuyết phục nhất quả đất hình cầu và biến những gì
mà hàng trăm thế hệ trước coi như giấc mơ thành hiện thực .
3. Hậu quả kinh tế:
Không chỉ đối với người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, ý mà toàn châu u,
trên nhiều lónh vực
+ Mở rộng phạm vi buôn bán thế giới từ đó phát triển nhanh thương nghiệp
và công nghiệp, tìm nhiều đường sang phương đông vốn trước kia phải theo
trung gian là người Arập. Phạm vi tăng 5 lần. Từ đó tư bản châu u có lónh
vực đòa bàn rộng lớn.
+ Số lượng hàng hoá trao đổi buôn bán phong phú: thuốc lá, Ca cao, cà phê,
chè, lá, đường cát và nhiều hàng hoá khác.
Các thành phố của Italia sa sút dần, trái lại thành thò Tây Ban Nha và Bồ
Đào Nha đặc biệt là Hà Lan trở nên phồn vinh chưa từng thấy
+ "Cách mạng giá cả":
cả dàn thiêu. Các tác phẩm của họ đã giáng những đòn quyết liệt vào triết học kinh viện
và chủ nghĩa duy tâm đương thời, làm lung lay quyền uy của các tăng lữ.
• Phong trào Văn hố Phục hưng là tấm gương phản chiếu sức sống mãnh liệt của xã hội
phương Tây lúc đó và đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ.
Câu 1: Khái niệm lịch sử
Lịch sử là những gì xẩy ra trong q khứ của con người. Là một ngành khoa học thuộc
nhóm các ngành khoa học nhân văn, có đối tượng nghiên cứu là q khứ của con người
và xã hội lồi người kể từ khi con người xuất hiện cho đến nay, từ đó phát hiện ra quy
luật phát sinh và phát triển của lịch sử xã hội lồi người. (lồi người xuất hiện cách đây
khoảng 3.5 triệu năm)
Câu 2: Khái niệm văn hóa – văn minh
a. Văn hóa: Văn hóa là tổng thể những giá trị được thể hiện cả hai mặt vật chất và tinh
thần do con người và xã hội lồi người sáng tạo ra kể từ khi con người xuất hiện cho đến
nay.
- Văn hóa là khái niệm vơ cùng phức tạp.
- Văn hóa mang tính bền vững, khó thay đổi, nói gắn liền với dân tộc
- Văn hóa được hình thành đầu tiên ở xã hội Phương Đơng nơng nghiệp
- Văn hóa phát triển đến một trình độ nào đó thì trở thành văn minh
b. Văn minh: Văn minh là giai đoạn phát triển cao của văn hóa, là một trạng thái tiến bộ
được thể hiện ở hai mặt vật chất và tinh thần được con người và xã hội loài người sáng
tạo ra trong giai đoạn phát triển cao của xã hội.
- Văn minh có tính siêu dân tộc (quốc tế)
- Những thành tựu văn minh xuất hiện ở xã hội Phương Tây đô thị.
- Văn hóa có trước văn minh (loài người xuất hiện thì văn hóa cũng xuất hiện ). Tuy
nhiên, có những thành tựu văn hóa có giá trị nhưng không tiến bộ, còn các giá trị văn
minh đều mang tinh chất tiến bộ ở đỉnh cao.
- Văn minh có nghĩa hẹp nhưng mang tính chất đỉnh cao.
Câu 3: Khái niệm Phương Đông – Phương Tây
Phương Đông và Phương Tây là những khái niệm thuộc về nhận thức của con người. Ban
đầu, các khái niệm này đơn thuần dùng để chỉ phương hướng, nhưng về sau nó gắn liền
- Là nguồn nước sinh hoạt cho con người và là nguồn nước tưới tiêu cho cây trồng gần
như là duy nhất.
- Đường giao thông chính, tương đối thuận lợi
- Cung cấp cho con người lượng thủy sản phong phú, dồi dào
- Các con sống ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực đời sống kinh tế, chính trị, xã hội,
phong tục tập quán, văn học, ngôn ngữ… của khối dân cư sống quanh nó. Nên văn minh
Phương Đông là nền văn minh sông nước.
v Các nền văn minh Phương Đông thời cổ đại đều hình thành trên các đồng bằng phù sa,
đất đai màu mỡ, mềm, mịn, tơi xốp nên nghề nông phát triển nhanh chóng, sản xuất nông
nghiệp đã tạo ra sản phẩm thừa và làm xuất hiện tư hữu, từ đó hình thành giai cấp và nhà
nước xuất hiện sớm. Vì thế văn minh Phương Đông còn được gọi là văn minh nông
nghiệp.
v Ở buổi đầu hầu hết các nền văn minh Phương Đông đều tồn tại một cách biệt lập, khép
kín (ngọai trừ nền văn minh Lưỡng Hà) đặc điểm này là do vị trí địa lý và địa hình tự
nhiên. Sự biệt lập khép kín đã dẫn đến những hệ quả khác nhau:
- Giữ được bản sắc riêng biệt
- Chế độ chính trị ổn định lâu dài
- Tính cố kết cộng đồng
Nhưng nó cũng để lại hậu quả
- Ít có sự tiếp xúc với bên ngoài
- Chế độ chuyên chế tồn tại lâu dài, dai dẳng, tín ngưỡng và tôn giáo phát triển mạnh ảnh
hưởng chi phối nhiều mặt tới đời sống xã hội, kìm hãm sự phát triển, làm cho xã hội trì
trệ, bảo thủ, lạc hậu.
- Tâm lý sống thụ động, khép kín, sợ tiếp xúc cái mới.
v Khoáng sản: Các mỏ khoáng sản (lộ thiên) rất ít. Do vậy công cụ lao động vũ khí còn
thô sơ lạc hậu, chủ yếu được làm từ gỗ, đá, tiến bộ nhất là bằng đồng vì thế gọi văn minh
Phương Đông là văn minh đồ đồng.
v Khí hậu nhiệt đới: (nhiệt đới sa mạc và nhiệt đới gió mùa) thảm thực vật phong phú
thuận lợi cho việc trồng cây lương thực. Tuy nhiên, người dân Phương Đông hàng năm
phải chống chọi với nhiều thiên tai. Cuộc đấu tranh với thiên nhiên trở thành vấn đề
Là ngành kinh tế chủ đạo, chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi trong đó trồng trọt là chính
chăn nuôi phụ.
Trồng trọt: canh tác chủ yếu trên loại đất phù sa trên danh nghĩa là đất thuộc sở hữu một
người (vua) nhưng trên thực tế diện tích đất thuộc các bộ máy công xã quản lý luôn phiên
cho các thành viên. Người dân cuối mùa nộp lại cho nhà nước một phần làm ra (gọi là
nộp tô., lúc đầu tô sản vật sau đó tiền, sau đó thuế)
Đất đại được chia nhỏ lẽ. quy mô canh tác nhỏ, xuất hiện mô hình các đại điền trang.
Do ảnh hưởng điều kiện tự nhiên hầu hết cư dân Phương Đông thời cổ đại chỉ canh tác
một năm một mùa vụ chính vì thế lượng sản phẩm xã hội làm ra không nhiều, chủ yếu
phục vụ cho nhu cầu của con người.
Các sản phẩm trồng trọt chính: Đầu tiên là các loại lúa, các loại rau, các lọai cây ăn quả,
cây công nghiệp.
Do tư tưởng bình quân dẫn đến tư tưởng cào bằng nên quy mô canh tác nhỏ
Chăn nuôi: tiến hành theo mô hình cá thể có chuồng trại, quy mô nhỏ, được tiến hành
theo từng hộ gia đình, mục đích sử dụng làm sức kéo, cải thiện bữa ăn hàng ngày.
Các vật nuôi chủ yếu: trâu, bò, dê, ngựa. Sản lượng chăn nuôi ít dẫn đến người Phương
Đông ít ăn thit, các vật nuôi trở nên quý hiếm.
b. Thủ công nghiệp:
Mang tính cục bộ, riêng lẻ, không phải là ngành kinh tế chủ đạo. Phát triển trong phạm vi
hẹp trong các công xã, thị trường tiêu thụ nhỏ, phục vụ cho nhu cầu công xã, sự trao đổi
hàng hóa diễn ra ít, các sản phẩm công nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng và mang đậm
dấu ấn của các địa phương. Tuy nhiên, các ngành nghề tương đối phong phú và chất
lượng khá tinh xảo. Do quá trình sản xuất chủ yếu phục vụ cho nhu cầu trong công xã
nên lượng hàng hóa làm ra chưa nhiều, vì vậy sản phẩm thủ công nghiệp cũng trở thành
hàng hóa. Các ngành nghề cũng tương đối đa dạng như chế tác vũ khí, công cụ lao động,
sản xuất đồ gốm, gạch ngói, đồ trang sức, thủy tinh….
c. Thương nghiệp:
Nền kinh tế mang tính tự cung, tự cấp, sức sản xuất kém và mạng lượng giao thông chưa
phát triển nên thương nghiệp chưa thực sự hình thành, mang tính cục bộ, ít giao lưu, trao
đổi với bên ngoài. Phương thức chủ yếu là trao đổi hàng hóa.
b. Kết cấu xã hội:
Bao gồm hai giai cấp chính đó là giai cấp thống trị và giai cấp bị trị:
- Giai cấp thống trị bao gồm vua, tăng lữ, quan lại và quý tộc. Giai cấp này chiếm số
lượng ít nhưng lại sở hữu phần lớn tài sản và của cải trong xã hội. Các tầng lớp này kết
cấu với nhau nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong việc bóc lột sức lao động của giai cấp bị
trị thông qua chế độ tuô thuế, sưu dịch…
- Giai cấp bị trị bao gồm: Thợ thủ công, thương nhân, nông dân công và nô lệ.
· Nông dân công xã: Chiếm 80% dân số đây là lực lượng chính, đồng thời họ cũng là đối
tượng bị bóc lột chính. Do vậy, mâu thuẫn cơ bản trong xã hội là mâu thuẫn giữa nông
dân công xã và giai cấp thống trị, mâu thuẫn này chi phối tạo ra động lực cho sự phát
triển xã hội. Đồng thời, họ cũng là những tầng lớp trực tiếp tạo ra quá trình sáng tạo nền
văn minh cổ đại.
· Nô lệ: Chiếm số lượng không nhiều, không phải là tầng lớp áp đảo trong xã hội, chủ
yếu là tù binh trong chiến tranh; nợ phải bán thân mình; phạm nhân bị giáng xuống làm
nô lệ; nô lệ mẹ đẻ ra nô lệ con. Khác với Phương Tây nô lệ Phương Đông làm nô dịch
trong các gia đình chủ nô hoặc trong các lĩnh vực sản xuất khác, hoạt động sản xuất có
nhưng không nhiều, cho nên chế độ nô lệ ở phương Đông được gọi là chế độ chiếm hữu
nô lệ không điển hình hay chế độ chiếm hữu nô lệ gia trưởng.
Câu 5: Cơ sở hình thành văn minh Phương Tây cổ đại
1. Điều kiện tự nhiên:
- Hy – La cổ đại là hai quốc gia thuộc khu vực Địa Trung Hải, nơi giao nhau của các
Châu Âu, Á và Phi. Đời sống và kinh tế của cư dân ở Hy-La gắn liền với biển – tính chất
văn minh biển.
- Có ba mặt tiếp giáp với biển tạo nên địa hình mở, tiếp cận được các yếu tố văn Phương
Đông nên mang tính chất văn minh mở.
- Khoáng sản: Phong phú, có nhiều mỏ quặng lộ thiên, làm xuất hiện khá sớm ngành khai
khoáng và luyện kim. Đất đai cứng nên chỉ khi đồ sắt ra đời thì nông nghiệp mới được
phát huy, khối dân cư ở đây mới có điều kiện phát triển, nhà nước mới bắt đầu xuất hiện
nên gọi là văn minh đồ sắt.
- Khí hậu: mang tính ôn đới
khá cao, lượng sản phẩm phong phú, mọi sản phẩm thủ công nghiệp cũng được coi là
hàng hóa để trao đổi.
- Thủ công nghiệp: Đã tách khỏi nông nghiệp, phát triển khá đa dạng về ngành nghề với
quy mô lớn (khai khoáng mỏ). Là ngành chủ đạo của nền kinh tế.
- Thương nghiệp: Là ngành kinh tế chủ đạo, đặc biệt là mậu dịch hàng hóa, sớm mang
tính quốc tế. Sản phẩm bán: Rượu nho; dầu ôliu; kim loại; đồ gồm; vải Sản phẩm mua:
lương thực; giấy; hương liệu; gia vị; và đặc biệt là nô lệ.
Xuất hiện đồng tiền sớm và có thể sử dụng ở nhiều vùng đất khác. Điều này dẫn đến xuất
hiện một bộ phận chuyên làm nghề đổi tiền, chuyển tiền, nhận tiền, cho vay lấy lãi – hình
thành nên các ngân hàng cổ điển.
Nhìn chung, nền kinh tế Hy-La cổ đại khá phát triển. Lao động nô lệ làm cho quý tộc
thoát ly khỏi lao động chân tay và có điều kiện hoạt động và sáng tạo ra các thành tựu
văn minh rực rỡ của hai nền văn minh này.
4. Nhà nước và kết cấu xã hội
a. Nhà nước: Các nhà nước Hy-La hình thành trong khoảng nửa đầu thiên niên kỷ I
TCN, trên cơ sở tan rã của thị tộc và hầu như không có sự can thiệp của bạo lực.
Xuất hiện nhiều hình thức nhà nước khác nhau như thành bang; đế chế; cộng hòa; quân
chủ
b. Kết cấu xã hội:
Xã hội Hy-La cổ đại chia thành hai phần, đó là dân cư tự do và nô lệ. Dân tự do bao gồm
quan lại , chủ nô (giai cấp bóc lột), công dân (các tầng lớp này được nhà nước và pháp
luật bảo vệ) và bình dân. (không phải là bình dân nhưng cũng không phải là nô lệ).
Nô lệ chiếm số lượng đông nhưng không được thừa nhận về thân phận, nô lệ được xem là
tài sản của chủ nô “công cụ lao động biết đi, biết nói”. Mâu thuẫn cơ bản giữa chủ nô và
nô lệ.
Câu 6: Thành tựu chữ viết và Khoa học tự nhiên của Ai Cập
Ai Cập nằm ở Đông Bắc Châu Phi, hạ lưu sông Nin. Sông Nin là một con sông dài nhất
thế giới, khoảng 6500 km chảy từ Trung Phi lên Bắc Phi. Hàng năm, tới mùa mưa nước
sông Nin cuồn cuộn đỏ phù sa bồi đắp cho những cánh đồng ở hạ lưu sông Nin. Đất đai
màu mỡ, cây cỏ tốt tươi, các loài động thực vật phong phú, nên ngay từ thời nguyên thuỷ
hình thành chữ Copte. Sự thuận tiện, dễ đọc, dễ nói nên loại chữ này dần thay thế chữ
tượng hình trước kia. Chữ tượng hình của Ai Cập trở thành tử ngữ (không còn ai học và
sử dụng nữa)
* Khoa học tự nhiên:
1. Tóan học
Là một trong những thành tựu xuất hiện khá sớm bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và thực
tế cuộc sống của chính người Ai Cập. Tóan học Ai Cập ra đời từ rất sớm và phát triển
khá mạnh mẽ trong ba lĩnh vực: Số học; đại số và hình học
* Số học: Thành tựu đầu tiên là phép đếm theo cơ số 10, các chữ số cũng được dùng chữ
tượng hình để biểu thị và chưa tìm ra con số 0.
- Biết tính cộng trừ, nhưng phép nhân và chia được hiểu là công trừ liên tiếp
- Biết căn cứ khả năng nhân đôi của một số
- Căn cứ khả năng lấy 2/3 của một số
* Đại số: Biết giải phương trình 1 ẩn
Tìm ra cấp số cộng và cấp số nhân
* Hình học: Biết giải các bài toán tìm diện tích của hình vuông, hình chữ nhật, hình
thang….
Biết tính thể tích của hình lăng trụ, lập phương…
Tìm ra cấp số π = 3.16 và bước đầu biết đến tính chất đồng dạng
2. Thiên văn học
Là lĩnh vực rất được chú trọng, với những dụng cụ hết sức thô sơ, người Ai Cập theo dõi
sự lên xuống của mực nước sông Nile và quan sát bầu trời cả ngày lẫn đêm, thông qua đó
họ cũng xác định được bản đồ của 12 cung hoàng đạo vẽ được chòm sao Bắc cực và biết
đến hành tinh trong Thái Dương hệ.
Đặc biệt để có thể xác định thời gian ban ngày, người Ai Cập đã sáng tạo được cái để đo
thời gian ban ngày gọi là Nhật Khuê, giúp người Ai Cập biết được thời gian chính xác
hơn.
Tuy nhiên, nó cũng có hạn chế khi trong thời gian ban đêm và trời mưa (không có nắng)
vì vậy vào ban đêm họ sử dụng dụng cụ để đo thời gian gọi là đồng hồ nước, nó khắc
phục hạn chế của Nhật Khuê. (người Trung Quốc là Trích lậu hộ).
giải thích vũ trụ, con người và biểu lộ ước vọng của con người trong cuộc sống.
Các kinh của tôn giáo: tập trong kinh Veda.
Kinh Veda: gồm 4 phần có 10.562 câu
Kinh Veda: Gồm những bài kinh ca tụng thần thánh, phản ánh phong tục, đời sống, chính
trị và kinh tế xã hội của người Aryan thời kỳ xâm nhập vào Ấn Độ.
Sama veda: những bài kinh ca trong khi hành lễ
Yajue veda: nhũng bài hát, công thức tế bằng văn xuôi, dạy về cách hành lế …
Athara veda: Những công thức mang đầy tính ma thuật phù thủy hay cách đọc những câu
thần chú trong các dịp cầu nguyện
Tam tạng kinh điển của phật giáo
Kinh tạng: Những lời thuyết giảng của đức phật
Luật tạng: những quy định các giới luật của luật giáo
Kinh tạng và luật tạng đựợc ghi lại tại đại lợi kết hợp phật giáo lần 1
Luật tạng: làm rõ hơn những điều trong kinh và luật
2. Tôn giáo
a. Nguyên nhân và bối cảnh ra đời của đạo Phật:
Xã hội:
Vào khoảng giữa thiên niên kỷ I TCN, ở Ấn Độ từ những công xã cổ xưa đã hình thành
hàng loạt những tiểu quốc hai bên bờ sông Hằng (miền Bắc Ấn Độ có khoảng 23 tiểu
quốc). Các vương quốc thường có điều kiện tự nhiên khác nhau (do vùng đất đai rộng
lớn). Kinh tế, xã hội, chính trị cũng phát triển không đều nhau. Do vậy, các vương quốc
này luôn tồn tại những mâu thuẫn, cạnh tranh và thôn tính lẫn nhau. Các cuộc chiến tranh
xảy ra liên miên và đến thế kỷ V TCN, chỉ còn lại 4 quốc gia: Kashi, Koshala, Magadha,
Virigis.
- Các cuộc chiến tranh đã lôi kéo người dân phải tham chiến, tình hình chính trị bất ổn,
tâm lý dân chúng bất an.
- Mâu thuẫn giữa đẳng cấp Brahma với Ksatria: sự phân hóa giai cấp mạnh mẽ.
+ Brahman: thao túng toàn bộ đời sống chính trị, tinh thần, vơ vét tài sản, bắt dân chúng
nộp thuế cao và nghĩa vụ khác (của cải không người thừa kế sẽ thuộc về Brahman - Bà la
môn)
tâm, vừa có tính duy vật).
+ Duy tâm: kế thừa một số tư tưởng của đạo Bàlamôn về thuyết luân hồi - nhân quả -
khái niệm Niết bàn - nghiệp báo
+ Duy vật: Đức Phật không tôn thờ thần và không tự coi mình là thần, thừa nhận sự biến
đổi, phủ nhận sự tồn tại bất diệt và vĩnh viễn của tất cả sự vật. Vật chất và tinh thần đều
biến hóa, có sinh có diệt (vô thường: chuyển biến, thay đổi, không có gì là bất biến diễn
ra trong từng đơn vị - sátna vô thường; vô ngã: không thể có cái ta tồn tại vĩnh viễn).
Tư tưởng
- Hòn đá tảng căn bản trong tư tưởng của Phật là thuyết Tứ diệu đế (bốn chân lý kỳ diệu),
bao gồm:
+ Khổ đế: đời là bể khổ, bất trắc, không toại nguyện trong cuộc sống (sinh, lão, bệnh, tử).
+ Tập đế: chân lý về nguyên nhân nỗi khổ, do người ràng buộc nhiều ham muốn.
+ Diệt đế: chân lý chấm dứt nỗi khổ, diệt ham muốn.
+ Đạo đế: con đường diệt khổ dẫn đến giác ngộ, giải thoát tiến đến Niết bàn. Đạo đế gồm
tám con đường diệt khổ, gọi là Bát chánh đạo:
1. Chánh Kiến: tín ngưỡng đúng đắn.
2. Chánh Tư duy: suy nghĩ đúng đắn.
3. Chánh Ngữ: nói năng đúng đắn.
4. Chánh Nghiệp: hành động đúng đắn.
5. Chánh Mệnh: sống đúng đắn.
6. Chánh Tịnh tiến: mơ tưởng ước mơ đúng đắn.
7. Chánh Niệm: tưởng nhớ đúng đắn.
8. Chánh Định: tập trung tư tưởng, ngẫm nghĩ đúng đắn.
Phật khuyên con người không sát sinh: cấm giết người, còn động vật không khắt khe.
Việc ăn chay do vua Lương Vũ Đế ( Trung Quốc - VI SCN) đặt ra (giảng thêm).
- Thuyết Thập nhị nhân duyên (duyên khởi)… Ví dụ cây nảy mầm
Có thể nói, ban đầu những tư tưởng của Phật là một học thuyết khuyên người phải từ bỏ
ham muốn, tránh điều ác, làm điều thiện, tu thân tích đức để được giải thoát chứ không
thừa nhận thượng đế và thần thánh. Do vậy, Phật chủ trương không cần cúng lễ, nghi
thức và không có tầng lớp tăng lữ, thầy cúng.
lý, bổ sung và cho ra đời Luận tạng. Như vậy, kể từ Hội nghị này, Phật giáo có đủ Tam
Tạng ( 3 cái giỏ hay 3 cái kho, tương truyền nhà sư Huyền Trang thuộc làu 3 bộ kinh này
nên được gọi là Tam Tạng). Trong thời trị vì, Ashoka đã tuyên bố đạo Phật là quốc giáo,
đánh dấu thời kỳ phát triển cực thịnh của Phật giáo ở Ấn Độ thời cổ đại. Đồng thời,
Ashoka tiến hành xây doing nhiều chùa, tháp, thành lập nhiều tăng đoàn và khuyến khích
việc truyền bá Đạo Phật đến hiều vùnh trên bán đảo Ấn Độ và một số các quốc gia khác
(Sri Lanka, Mianma, Thái Lan, Indo…).
Thế kỷ IV - III tr. CN là thời kỳ Phật giáo phát triển nhất ở Ấn Độ.
Sau khi Magađa tan rã (322 TCN), đạo Phật suy yếu và dần mất đi vị trí thống trị trong
đời sống tâm linh của cư dân.
+ Đại hội IV: 500 tăng ni.
Đến thế kỷ I SCN, người Kusan chiếm Tây Bắc và thành lập nhà nước của mình. Vua
Kusan là Kanisha rất tôn sùng Đạo Phật nên ông đã tài trợ Đại hội kết tập lần IV của Phật
giáo (khoảng năm 100).
Tại Đại hội này đã thông qua giáo lý của Phật giáo cải cách (Đại thừa) để phân biệt phái
cũ (Tiểu thừa). Song song đó là tiến hành chỉnh lý lại văn bản Tam tạng kinh điển (với
300.000 bài tụng với 9.600.000 từ, trong đó: Kinh sớ - 100.000 bài tụng giải thích tạng
Kinh, Luật sớ - 100.000 bài tụng giải thích tạng Luật, Luận sớ - 100.000 bài tụng giải
thích tạng Luận) và khắc thành những bảng đồng lưu giữ trong bảo tháp. Phật giáo tiếp
tục được truyền sang các quốc gia Trung Á, Trung Quốc
* Tiểu thừa và Đại thừa: là hai tông phái của Phật giáo, có cách giải thích khác nhau về
giáo lý Phật giáo). Tôn chỉ, mục đích giống nhau, nhưng khác phương tiện, con đường tu
hành và giải thoát.
- Tiểu thừa: trung thành, coi trọng ý nghĩa ban đầu của Phật giáo, tu theo từng nhóm nhỏ
mang tính cá nhân, tự giác.
- Đại thừa: mở rộng giáo lý Phật giáo trong nhiều bộ kinh khác nhau, giải thoát cho nhiều
người.
Sau những thế kỷ phát triển thịnh đạt khoảng 1.000 năm, từ VI TCN - V CN, Phật giáo ở
Ấn Độ bắt đầu có những dấu hiệu suy thoái: giáo lý uyên thâm, khó hiểu vượt khỏi tầm
hiểu biết của quần chúng. Từ đó Hindu đã lấn át phần nào, do vậy phạm vi ảnh hưởng
cũng đơn giản, gọn gàng hơn. Tuy nhiên thời kỳ này do đất nước loạn lạc nên chữ viết
không có sự thống nhất. Cho nên đến thời nhà Tần đã cải cách thành chữ tiểu triện (chữ
giới hạn trong một hình vuông).
- Đến thời nhà Hán trở đi chữ Trung Quốc đã ổn định và phát triển theo các loại chữ:
- Lệ Thư: Là loại chữ rất thông dụng thời nhà Hán, lúc đầu là các nét cong tròn, sau đó là
nét mác lượn sóng.
- Khải thư: Xuất hiện cuối thời nhà Hán và phát triển đến nay là chữ viết ngay ngắn có
tên khác là chính thư, chân thư.
.
- Thảo thư: là một dạng viết nhanh của chữ Lệ thư nên có tên khác là Thảo lệ, viết liền
nhau, khó đọc, xuất hiện đầu nhà Hán
- Trên cơ sở chữ Thảo thời nhà Đường xuất hiện loại chữ Cuồng Thảo (mang tính trang
trí nhiều hơn)
- Hành thư: được dùng phổ biến trong thời Tam Quốc
- Giản thể: là chữ viết thông dụng hiện nay, nó được đơn giản hóa
- Từ thập niên 50 TK XX chữ này được chỉnh lý và sửa chữa.
- Chữ Trung Quốc không trở thành tử ngữ bởi vì nó tự điều chỉnh trên hai chức năng chỉ
âm và chỉ ý để phù hợp với cuộc sống.
Câu 9: Tư tưởng trùng phái pháp gia (trị nước) đường lối xây dựng đất nước
Pháp gia xuất hiện từ thời Xuân Thu, là trường phái chủ trương dùng pháp luật để trị
nước. Người khởi xưởng tư tưởng này là Quản Trọng, người nước Tề sống vào khoảng
nửa đầu thế kỷ VII TCN. Kế thừa ông có nhiều pháp gia sau đó, đặc biệt là Hàn Phi,
người đã tập hợp tư tưởng của các nhà pháp gia trước đó và viết thành sách Hàn Phi Tử,
Hàn Phi đã đề xuất một hệ thống chính trị lấy Pháp, Thế và Thuật làm nội dung cơ bản:
- Pháp: là pháp lệnh thành văn của quốc gia, được xem là tiêu chuẩn, căn cứ khách quan
để định rõ danh phận, tỏ rõ thị phi, phân rõ tốt xấu, để mọi người biết bổn phận, trách
nhiệm của mình, biét điều phải làm và điều không được làm. Pháp phải được ban hành
công khai và thi hành nghiêm minh.
- Thế: Người đầu tiên đề cập là Thận Đáo. Thế tức là quyền thế, địa vị, thể lực, quyền uy
của người đứng đầu. Địa vị của người trị vì là độc tôn, mọi người buộc phải tuân
cái Alphabet, được hình thành trên cơ sở bảng chữ cái Phoenicien là bảng chữ cái đầu
tiên của nhân loại. Chữ này phát triển từ những ký hiệu chỉ âm trong hệ thống chữ viết
của người Ai Cập và người Lưỡng Hà cổ đại. Bảng chữ cái Phoenicie gồm 22 chữ, không
có nguyên âm. Phoenicien (có nghĩa là du mục trên biển) trong quá trình giao lưu tiếp
xúc với người Phoenicien người Hy Lạp đã tiếp thu kế thừa và sáng tạo ra bảng chữ cái
Hy Lạp, qua nhiều lần thay đổi về số lượng cuối cùng tồn tại 24 chữ cái khác nhau. Trong
đó người Hy Lạp đã chia thành 18 ký hiệu phụ âm và 6 nguyên âm với cách ghép chữ hết
sức linh hoạt giữa phụ âm và nguyên âm để ghi lại tiếng nói của người Hy Lạp. Do vậy,
nó có khả năng diễn đạt mọi khái niệm trừu tượng nhất cũng như quá trình tư duy của con
người. Đây là hệ thống chữ chỉ âm và ghi âm, là một trong các loại chữ tiến bộ nhất, hoàn
chỉnh nhất lúc bấy giờ và đó là nguồn gốc hình thành những loại chữ viết khác sau đó.
Chữ Hy Lạp ảnh hưởng đến vùng đất lãnh thổ Hy Lạp ở xung quanh Địa Trung Hải và
một số vùng lân cận khác.
b. Thần thoại: Là một trong những hình thái văn học xuất hiện sớm nhất ở Hy Lạp, cung
cấp cho văn học, thơ kịch và lĩnh vực nghệ thuật những đề tài vô tận.
Thần thoại Hy Lạp là tâphợp, tổng thể những truyện dân gian truyền miệng với những nội
dung hoang đường, kỳ ảo, phản ánh nguyện vọng của nhân dân trong việc đấu tranh với
thiên nhiên, giải thích các hiện tượng tự nhiên, sự hình thành thế giới, phản ánh cuộc
sống lao động và những hoạt động đời thường của chính người Hy Lạp.
Về sau khi có chữ viết, kho tàng thần thoại này được Hesios (nhà thơ Hy Lạp sống vào
thế kỷ VII TCN) hệ thống lại trong tác phẩm Gia phả các vị thần. Hệ thống các vị thần
Hy lạp không phải là lực lượng xa vời và đáng sợ đối với con người như các thần ở
Phương Đông. Họ là những hình tượng gần gũi, có những phẩm chất, cá tính như con
người: yêu, ghét, giận hờn
Nhìn chung, thần thoại Hy Lạp dù hoang đường, dù có màu sắc thần thánh nhưng ít bị tôn
giáo đồng hóa, ít bị hòa vào tôn giáo. Nên ngay từ đầu thần thoại Hy Lạp vừa mang tính
chất hoang đường những cũng mang đậm tính lịch sử xác thực, phản ánh trạng xã hội,
duy lý và triết lý.
Câu 11: Thành tựu khoa học tự nhiên của La Mã
Người La Mã được thừa hưởng, tiếp thu có chỉnh lý, bổ sung tổng kết những thành tựu