Chương 5: Mạng ATM
2.2.1 Cấu trúc mạng viễn thông ATM:
Thành phần quan trọng để cấu thành nên mạng ATM là
chuyển mạch ATM. Chuyển mạch ATM gồm các loại sau:
+ Chuyển mạch ATM dùng trên mạng sương sống: là loại
chuyển mạch có dung lượng lớn nhất trên mạng. Hiện nay tất cả
các hãng đều đưa ra thò trường loại có dung lượng từ 10 đến
160 Gbit/s.
+ Chuyển mạch ATM có thể sử dụng trên cả mạng xương
sống và mạng truy nhập.
+Chuyển mach ATM dùng cho mạng truy nhập: thông
thường là loại có dung lượng nhỏ nhất trên mạng.
Ngoài ra còn có thiết bò quản lý mạng OAM. Nhiều tập
đoàn viễn thông sản xuất thiết bò OAM riêng biệt với chuyển
mạch ATM, nhưng cũng có tập đoàn như NORTEL thì lại để bộ
phận quản lý mạng nằm trong chuyển mạch ATM. Các chủng
loại thiết bò này có thể tham khảo bảng trang 19.
Sau đây ta tìm hiểu về họ tổng đài ATM của NEC và sử dụng
nó để xây dựng cấu trúc mạng viễn thông ATM.
+ Tổng đài ATOMNET-M20: là tổng đài dung lượng
chuyển mạch lớn có kích thước chuẩn 1800x880x880mm. Dung
lượng chuyển mạch nhỏ nhất 10Gbit/s, lớn nhất là 40 or160
NEC ITATEL NORTEL ALCATEL
ATOMNET-M20
ATOMNET-M7
ATOMIS-5E
ATOMNET-
NMS
UT-BB
UT-XO
UT-ASM
trung bình, kích thước dạng tủ 550x435x450mm. Dung lượng
lớn nhất 10Gbit/s nhỏ nhất là 5Gbit/s. Loại này dùng làm tổng
đài xương sống trong mạng dùng riêng.
+ Tổng đài ATOMIS-5E: có dung lượng chuyển mạch nhỏ
nhất trong họ ATM. Loại này có kích thước 435x165x420mm
ATOMNET-M20
ATOMNET-M7
ATOMIS-5E
ATOMNET-M20ATOMNET-M20
ATOMNET-M7ATOMNET-M7
ATOMIS-5E
ATOMIS-5E
ATOMNET-M7 ATOMNET-M7
AT
OM
NE
T-
NM
S
MẠNG XƯƠNG SỐNG
MẠNG TRUY NHẬP
MẠNG XƯƠNG SỐNG
THIỀT BỊ NHÓM
PC
PBX
HỘI NGHỊ
TRUYỀN
HÌNH
LAN
Telephone
Trong mạng công cộng sử dụng hai chủng loại chuyển mạch
ATM là: chuyển mạch xương sống và chuyển mạch truy nhập.
Chuyển mạch xương sống dùng ATOMNET-M20 còn chuyển
mạch truy nhập dùng ATOMNET-M7.
Trong mạng công cộng còn có hệ thống quản lý mạng
ATOMNET- NMS.
Mạng dùng riêng (Privite Network): Trong mạng dùng
riêng cũng có mạng xương sống tương tự như ở mạng công cộng
và thiết bò nhóm tương ứng với mạng truy nhập ở mạng công
cộng. Trong mạng này cũng sử dụng hai loại chuyển mạch
ATM. Chuyển mạch xương sống dùng ATOMNET-M7 là loại
có dung lượng trung bình và có khả năng cung cấp nhiều loại
giao diện bao gồm cả giao diện với analog, giao diện với phi
ATM (non-ATM inerface). Loại chuyển mạch này thích hợp với
mạng dùng riêng. Chuyển mạch dùng cho thiết bò nhóm dùng
loại ATOMIS-5. Tính năng của loại chuyển mạch ATM này rất
thích hợp cho việc cung cấp các dich vụ B-ISDN.
Các giao diện trong viễn thông ATM:
+ B-ICI (Broadband Inter CarrierInterface) giao diện mạng
băng rộng.
+ NNI (Network To Network Interface): giao diện mạng
mạng.
+ UNI (User Network Interfce): giao diện mạng thuê bao.
+ NIC (Network Interface Card): Card giao diện mạng.
+ GE (Gruit Emulation): Giao diện mô phỏng phi ATM.
+P-NNI (Privite NNI): giao diện mạng dùng riêng.
Với sự hoàn thiện của các loại giao diện này đã tạo điều kiện
cho mạng ATM kết nối dễ dàng với các mạng hiện hữu. Điều
này làm công nghệ ATM thâm nhập vào mạng viễn thông của
các quốc gia một cách thuận lợi và do đó việc phát triển mạng
chuyển đổi sang các phần tử khác. Kết quả là phần tử bò sự cố
sẽ bò loại ra khỏi quá trìngh khai thác.
+ Các thông tin về sự cố và tính năng của hệ thống: các
thông tin được chuyển đến các phần tử quản lý mạng và chỉ thò
cảnh báo sẽ được chuyển đến mảng quản lý khác. Các thông tin
này phải được đưa vào trong các báo cáo về tìng trạng của hệ
thống.
+ Xác đòngh sự cố: các thông số đo thử nội bộ or ở bên
ngoài sẽ phối hợp kiểm tra phần tử bò sự cố nếu chưa có sự có
đủ thông tin về sự cố.
Các chức năng quản lý mạng như quản lý sự cố, quản lý việc
thanh toán và quản lý bào an mạng phải được dựa trên các yếu
tố đặc trưng nhất của ATM. Tuy nhiên ảng hưởng quan trọng
nhất của ATM lại là trong lónh vực quản lý cấu trúc và tên (
configuration and name manegement ) và quản lý khai thác tính
năng của hệ thống, đây cũng chính là hai lónh vực sẽ xem xét
dưới đây :
a) Điều hành cấu trúc và tên:
Một hệ thống quản lý mạng cần phải biết về cấu trúc
mạng và các phần tử của nó về khả năng thay đổi cấu trúc
mạng đối với các mục đích đặc biệt và các đặc tính khai thác
của mạng. Từng phần tử mạng cần phải được xác đònh một cách
duy nhất bằng tên của nó.
+ Điều hành cấu trúc và tên tại các lớp phần tử mạng: các
phần tử mạng có tính phức tạp như tổng đài ATM có thể được
thay đổi cấu trúc đối với những mục đích đặc biệt. Để quản lý
những phần tử này của mạng cần phải biết rõ khả năng thay đổi
cấu trúc đối với tất cả các tài nguyên của các phần tử mạng.
Các nhu cầu cụ thể sẽ là việc điều hành cấu trúc và tên đối với
các thông số điều khiển chấp nhận kết nối (CAC), điều khiển