Điều khiển lưu lượng và tắc nghẽn trong mạng ATM, chương 7 - Pdf 16

CHƯƠNG 7: ĐIỀU KHIỂN LƯU
LƯNG
1.1 Lưu lượng:
I) Tham số mô tả lưu lượng:

Lưu lượng trên một kết nối ATM tại UNI được mô tả thông
qua một số thông số. Dựa trên các thông số này lớp ATM sẽ
cung cấp các dòch vụ phù hợp đối với tất cả các kết nối được
đấu ghép và thông qua UNI để vào mạng ATM. Việc mô tả các
thông số này phức tạp hơn nhiều so với các thông số như tỉ lệ lỗi
bít (BER) và trễ xảy ra trong các mạng số liệu hiện có. Bên
cạnh nhiều thông số chưa được đònh nghóa, các thông số do
ATM Forum đưa ra bao gồm :
+ Tỷ lệ thất thoát tế bào (CLR_Cell Loss Ratio): là tỷ số
giữa tế bào bò lỗi và tổng số tế bào bò lỗi được gửi đò trên một
kết nối. Mặc dù chưa có giá trò cụ thể nào dùng để đánh giá đối
với các loại dòch vụ khác nhau; tuy nhiên với tỷ số CLR càng
thấp thì chất lượng dòch vụ nhận được của kết nối càng tốt hơn.
+ Tỷ lệ chèn nhầm tế bào (CMR_Cell Misinsertion Ratio):
là tỷ số giữa số tế bào bò chèn nhầm và tổng số tế bào được gửi
đến kết nối. Trước đây thông số này được đònh nghóa là số lượng
tế bào bò chèn nhầm trên một đơn vò thời gian; nhưng do tính
chất thay đổi của các tốc độ bit, ATM Forum khuyến nghò sử
dụng thông số này để thuận tiện hơn trong việc tính toán và so
sánh.
+ Tỷ lệ khối tế bào bò lỗi trầm trọng (SECBR_Severely
Errored Cell Ratio):
là tỷ lệ giữa số lượng các khối tế bào bò
lỗi trầm trọng và tổng số các khối tế bào được gửi đi trong một
khoảng thời gian. Tế bào bò lỗi trầm trọng được ATM Forum
đònh nghóa là tế bào bò mất hoặc bò chèn nhầm; trong khi đó theo

có CLP = 1 đã được thỏa thuận.
II) Quản lý tài nguyên mạng:

Quản lý tài nguyên mạng thực hiện việc xác đònh các tài
nguyên của mạng nhằm phân chai các dòng lưu lượng theo các
đặc tính của dòch vụ để duy trì các đặc tính khai thác mạng và
tối ưu hóa việc tận dụng tài nguyên mạng. Chức năng này chủ
yếu liên quan đến việc quản lý các đường ảo nhằm thỏa mãn
các yêu cầu về dòch vụ.
Đường ảo là thành phần quan trọng để điều khiển lưu lượng
và quản lý tài nguyên trong ATM. Trong quan hệ với điều khiển
lưu lượng, đường ào có thể dùng để:
+ Làm đơn giản hóa quá trình điều khiển kết nối.
+ Thực hiện hình thức điều khiển ưu tiên bằng việc phân
tách các loại lưu lượng phụ thuộc theo chất lượng của dòch vụ.
+ Phân phối hiệu quả các thông tin phục vụ cho hoạt động
điều khiển lưu lượng ví dụ dùng để chỉ thò tắc nghẽn trong mạng
bằng việc phân phối mẩu tin đơn chung cho tất cả các kết nối
kênh ảo (VCC) nằm trong cùng một đường ảo (VPC).
+ Kết hợp các dòch vụ khách hàng- khách hàng nhằm thực
hiện việc tổ hợp lưu lượng bao gồm cả điều khiển tham số
khách hàng và điều khiển tham số mạng.
+ VPC đóng vai trò quan trọng trong quản lý tài nguyên
mạng. Bằng việc lưu trữ dung lượng trong các VPC, quá trình xử
lý cần thiết để thiết lập các VCC riêng rẽ được giảm xuống. Các
VCC có thể thiết lập bằng các quyết chấp nhận kết nối đơn giản
tại các điểm nút mà VPC kết cuối. Kế hoạch dự trữ dung lượng
của các VCC sẽ được xác đònh trên cơ sở cân nhắc giữa giá
thành của việc tăng lưu lượng và giá thành của việc giảm điều
khiển. Các nhà khai thác phải chòu trách nhiệm giải quyết vấn

mạng thông qua các vấn đề sau:
+ Chất lượng dòch vụ mà mạng cung cấp.
+ Các thông số về lưu lượng xác đònh đặc tính của luồng cell.
+ Nguyên tắc kiểm tra sự tuân thủ của luồng cell.
+ Đònh nghóa của mạng về một kết nối tuân thủ.
Trong các phần tiếp theo ta sẽ đề cập đến các vấn đề trong
hợp đồng lưu lượng bao gồm: cấu hình tham khảo đầu cuối
tương đương, các thông số chất lượng dòch vụ (QoS), các thông
số mô tả lưu lượng và giải thuật thùng rò rỉ (Leaky Bucket) để
kiểm tra sự tuân thủ của luồng cell.
Trước hết ta khảo sát một yếu tố cơ bản của hợp đồng lưu
lượng đó là cấu hình tham khảo đầu cuối tương đương.
2 Cấu hình tham khảo đầu cuối tương đương:
Cấu trúc của nó được mô tả ở hình trang bên. Một đầu cuối
tương đương (Equivalent Terminal) không hẳn là một thiết bò mà
có thể là một tập các thiết bò. Mỗi thiết bò này là một nguồn lưu
lượng, các nguồn lưu lượng này được ghép kênh với nhau tạo
thành luồng tế bào ATM bởi bộ ghép kênh (MUX). Trong thực
tế các thiết bò này có thể là các trạm làm việc (Workstation)
trong một mạng cụa bộ mà mỗi Workstation này có một kết nối
VPC hoặc VCC riêng; còn bộ ghép kênh có thể là chuyển mạch
ATM, Router hoặc Hub. Kết hợp với chức năng ghép kênh là
một bộ điều chỉnh lưu lượng (Shaper), mục đích của việc điều
chỉnh lưu lượng là để đảm bảo sao cho luồng cell phù hợp với
một tập các thông số lưu lượng xác đònh bởi một giải thuật kiểm
tra sự phù hợp đặc biệt. Đầu ra của bộ điều chỉnh là điểm truy
xuất dòch vụ của lớp vật lý (PHY-SAP) trong mô hình giao thức
của ATM.

Sau chức năng điều chỉnh, một vài chức năng của lớp vật lý

Lớp vật lý
Lớp ATM
PHY-SAP
Điểm cuối
kết nối
Đầu cuối tương đương
CPE khác
Biến đổi
lưu lượng
UNI
riêng
UNI
công cộng
S


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status