Sử dụng các thuốc chống viêm không Steroid
(Kỳ 3)
TS. Đoàn Văn Đệ (Bệnh học nội khoa HVQY)
3.2. ức chế sinh tổng hợp prostaglandin:
- Năm 1971, Sir-J.Vane cho rằng aspirin và các thuốc chống viêm
không steroid khác phát huy tác dụng thông qua việc ức chế quá trình sinh tổng
hợp các prostaglandin, cụ thể là ức chế men cyclooxygenase (COX) xúc tác
quá trình tổng hợp prostagalandin từ axit arachidonic. Hiệu quả của thuốc liên
quan với mức độ ức chế men COX.
Người ta đã chứng minh được rằng khi sốt và khi dùng các chất gây sốt
thấy nồng độ prostaglandin trong dịch não tủy tăng. Ngoài ra, khi tiêm
prostaglandin vào não thất III gây
được sốt, khi tiêm prostaglandin vào chân chuột gây được hiện tượng
viêm. Khi truyền
prostaglandin dưới da gây cảm giác đau. Do vậy tác dụng chống viêm,
giảm đau, hạ sốt là
do ức chế sự tổng hợp prostaglandin. Lý thuyết này được công nhận và
năm 1982. J.Vane
được giải thưởng Nobel về y học về phát minh này.
Mặt khác prostaglandin có tác dụng sinh lý, bảo vệ niêm mạc dạ dày
thông qua việc ức chế bài tiết dịch vị, tăng dòng máu đến lớp dưới niêm
mạc. Khi ức chế tổng hợp prostaglandin sẽ làm giảm khả năng thích ứng bảo
vệ, mất cân bằng so với yếu tố tấn công dẫn đến viêm-loét hoặc chảy máu dạ
dày, tá tràng. Ngoài ra, tác dụng giảm dòng máu đến thận và ức chế ngưng
kết tiểu cầu cũng có liên quan đến cơ chế ức chế tổng hợp prostaglandin.
Giả thiết cho rằng: cơ chế tác dụng và cơ chế tác dụng phụ có thể cùng
chung một con
đường ức chế tổng hợp prostaglandin. Tuy nhiên người ta chưa tìm được
cơ sở chứng minh.
3.3. Phát hiện men COX2 vai trò của COX1 và COX2:
Từ năm 1990 cho rằng có các đồng phân khác nhau của COX trong từng
- Phản ứng viêm
- PGE2
- Thuốc có tác dụng ức chế chọn lọc COX2 có tác dụng chống viêm cao
nhưng ít có tai
biến, ngược lại thuốc ức chế COX1 là chủ yếu thì tỉ lệ, mức độ biến chứng
nặng hơn.
- Đánh giá mức độ chọn lọc của thuốc chống viêm trong phòng thí
nghiệm dựa vào tỉ lệ IC50 COX2/IC50 COX1 (IC50 là nồng độ cần để ức chế
50% tác dụng của men COX). Khi tỉ lệ càng thấp chứng tỏ thuốc ức chế COX2
nhiều hơn, sẽ ít gây biến chứng hơn.
- Tuy nhiên từ 1999 đến nay thấy rằng hoạt tính chống viêm cần phải
có tỉ lệ ức chế
COX1 và COX2 ở mức thích hợp nào đó. Tính chất chọn lọc COX2
không chỉ dựa vào tỉ lệ IC50AX2/IC50 C0X mà còn phải chú ý đến tác dụng tại
cơ quan đích và cuối cùng là tác dụng trên lâm sàng: đảm bảo tác dụng chống
viêm- đồng thời hạn chế tác dụng phụ đến mức thấp nhất.
- Hiện nay, COX2 còn có thể có vai trò trong việc điều hoà muối, thể
tích và huyết áp qua việc kích thích hệ thống renin-angiotensin. Men này còn
tham gia vào qúa trình làm liền vết loét ở niêm mạc dạ dày, điều hoà chức năng
tiểu cầu, làm trung gian cho sự phóng noãn và rụng trứng.
- Ngoài ra còn thấy nồng độ cao của COX2 ở não người bị bệnh
Alzheimer và ở tổ chức polip đại tràng, nên liệu thuốc ức chế chọn lọc COX2
còn có vai trò gì với các bệnh trên hiện đang được nghiên cứu.
- Hiện nay người ta hay dùng tỉ lệ % ức chế COX1 ở mức độ ức chế 80%
COX2 để đánh giá mức độ tác dụng chọn lọc trên COX2 của một thuốc chống
viêm nào đó.