BỆNH NHƯỢC CƠ (Kỳ 2) - Pdf 16

BỆNH NHƯỢC CƠ
(Kỳ 2)

III. TRIỆU CHỨNG HỌC
- Yếu cơ trong bệnh nhược cơ chủ yếu là các cơ do các dây thần kinh sọ chi
phối đó là cơ vận nhãn, cơ mặt, cơ nuốt và cơ vùng cổ (cơ gấp bị nhiều và nặng
hơn cơ duỗi).
Khởi đầu thường âm thầm nhưng đôi khi xảy ra sau nhiễm trùng cấp, sau
phẫu thuật, sau nhiễm độc
Ðặc tính chung về lâm sàng là các cơ yếu nhanh chóng sau vận động, gắng
sức và hồi phục sau nghỉ ngơi. Các triệu chứng của bệnh nhược cơ thường dễ phát
hiện như sụp mi, lác mắt, mỏi đầu, nói nuốt khó, nhai mỏi
Khoảng 50-60% bệnh nhân đến khám vì lý do sụp mi và song thị do cơ vận
nhãn bị yếu. Lúc đầu tiên triệu chứng có thể thoáng qua, sau đó lại tái lại không
những số cơ đó mà còn có thể yếu cơ khác.
- Teo cơ trong bệnh lý này khoảng 10%, chủ yếu là bệnh nhân nhược cơ
toàn thân nặng, là do mất phân bố thần kinh (denervation). Thấy rằng yếu cơ vận
nhãn và cơ nâng mi kéo dài trên 12 tháng thì hầu như không tiến triển lan tỏa toàn
thân. Có 15% là thể mắt đơn thuần.
Phân bố yếu cơ thường là hai bên, ở gốc chi tuy nhiên cũng có thể không
đối xứng. Quyết định chẩn đoán là test Prostigmine 1-1,5 mg tiêm bắp nếu các
triệu chứng giảm nhanh sau 30 phút hoặc test Tensilon (edrophonium) lúc đầu
tiêm 2mg tĩnh mạch, sau 1 phút không đỡ thì tiêm thêm 4mg và nếu 1-2 phút sau
thấy không đỡ lại tiêm thêm 4mg, có nghĩa tổng liều là 10 mg, thuốc này tác dụng
nhanh và chỉ kéo dài trong 3 đến 10 phút.
Thuốc này chống chỉ định tương đối khi bệnh nhân bị nhịp tim chậm hay
bị hen phế quản. Khi làm test cũng nên chuẩn bị Atropin 1-2 mg để xử trí khi có
tác dụng phụ muscarinic của các thuốc trên. Lưu ý test Tensilon không phải đặc
hiệu cho tất cả bệnh nhược cơ, nó âm tính ở nhược cơ bẩm sinh do thiếu Ach ở
tấm vận động cơ vân, ở bệnh nhân khiếm khuyết tái tổng hợp Ach. Test này dương
tính không ổn định ở hội chứng kênh chậm (slow channel syndrome) và trong hội

Những nguyên nhân có thể gây nhược cơ nặng, thường có những nguyên
nhân sau:
- Do thuốc: dùng một trong các loại thuốc nhóm cura (alloferine,
celocurine, pavulon, succicurarine), quinin, quinidin, procainamide, chẹn beta
Ngoài ra một số thuốc khác cũng làm bệnh nhược cơ nặng ra như phenobarbital,
benzodiazepine, phenothiazine và kháng sinh nhóm aminoside, colistine,
neomycine; hydantoine, chế phẩm có chứa muối magnesium, chẹn beta, thuốc dãn

- Do phẫu thuật và gây mê: sử dụng các thuốc ức chế trung tâm hô hấp như
morphine hoặc các dẫn chất của nó hay các thuốc gây mê làm cho bệnh nhược cơ
nặng lên nhanh chóng.
- Có thai và ngay sau sinh: nhược cơ nặng ra thường vào 4 tháng đầu của
thai kỳ và ngay lập tức sau sinh, còn 6 tháng cuối thường không làm bệnh nặng ra
nhưng khuyên nên nhập viện 15 ngày trước khi sinh trong khoa hồi sức sản khoa.
Chú ý trẻ sơ sinh có thể bị nhược cơ thoáng qua 8-18% với biểu hiện
giảm trương lực cơ, rối loạn bú, nuốt và hô hấp xảy ra trong 24 giờ đầu sau sinh
và có thể kéo dài đến 18 ngày hay 2 tháng.
- Do nhiễm trùng (vi khuẩn/siêu vi) là yếu tố khởi động thường gặp ngay cả
nhiễm trùng nhẹ nên phải sử dụng kháng sinh ngay, chú ý loại kháng sinh gây bloc
thần kinh cơ.
- Do chấn thương.
- Do gắng sức.
- Thời kỳ dậy thì và trước lúc có kinh cũng làm nhược cơ nặng lên.
- Cường giáp đi kèm.
- Quá liều prostigmine.
* Xét nghiệm: khí máu, ion đồ để đánh giá suy hô hấp và để phục vụ điều
trị.
Cần phân biệt cơn nhược cơ nặng và cơn cholinergic do quá liều kháng
cholinesterase: đang dùng các thuốc kháng cholinesterase mà nhược cơ nặng lên
đặt ra cho người thầy thuốc 2 vấn đề: đó là điều trị chưa đủ liều hay đã quá liều.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status