Rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh Lớp 5.
Phần I
A - Phần mở đầu
I - Lý do chọn đề tài:
Xuất phát từ yêu cầu đặt ra trong việc đào tạo lớp ngời mới phục vụ sự
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Để tiến hành sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc,
phải hết sức coi trọng nhân tố con ngời.
Nhân tố con ngời đợc đặt vào vị trí trung tâm của chiến lợc kinh tế - xã
hội, xây dựng đất nớc có nghĩa là nguồn lực con ngời quyết định mọi sự phát
triển của xã hội. Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu,
là động lực thúc đẩy là điều kiện đảm bảo cho sự thực hiện những mục tiêu kinh
tế xã hội, xây dựng bảo vệ đất nớc.
Trớc công cuộc đổi mới đất nớc đặt ra cho ngành giáo dục một mục tiêu
quan trọng. Đào tạo ra những con ngời có bản lĩnh, năng động, sáng tạo, giàu
lòng nhân ái, yêu nớc, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng yêu cầu
phát triển của đất nớc và chuẩn bị cho tơng lai.
Xuất phát từ yêu cầu đặt ra trong công cuộc giáo dục nói chung và đổi mới
hình thức, phơng pháp dạy học ở tiểu học nói riêng.
Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ
năng cơ bản góp phần hình thành nhân cách con ngời Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Bớc đầu xây dựng t cách và trách nhiệm công dân, làm nền tảng cho học
sinh tiếp tục học trung học cơ sở. Trong những năm gần đây, nghị quyết của Đại
hội Đảng lần thứ X và những văn kiện khác của Nhà nớc, của Bộ giáo dục và đào
tạo cần phải nâng cao chất lợng giáo dục cho phù hợp với sự phát triển của đất n-
ớc để tạo ra những con ngời năng động, sáng tạo, có năng lực để giải quyết vấn
đề. Đó là Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo
dục, Học tập và làm theo tấm gơng đạo đức Hồ Chí Minh.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nớc sau năm 2007 và khắc phục những
khó khăn của việc thực hiện bốn chơng trình tiểu học. Chơng trình tiểu học năm
Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên và con
ngời, về văn hoá , văn học Việt Nam và nớc ngoài.
Bồi dỡng tình yêu Tiếng việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng
của Tiếng việt góp phần hình thành nhân cách con ngời Việt Nam xã hội chủ
nghĩa và đảm nhận trọng trách to lớn đó là chủ nhân của đất nớc sau này.
2/ Nhiệm vụ của phân môn:
Tập đọc là một phân môn học và thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của
nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc đợc tạo nên từ bốn kỹ
năng cũng là bốn yêu cầu về chất lợng của đọc, đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý
2
Rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh Lớp 5.
thức (Thông qua đó hiểu đợc nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc
hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kỹ năng này đợc hình thành trong hai hình thức đọc,
đọc thành tiếng và đọc thầm, chúng đợc rèn luyện đồng thời hỗ trợ lần nhau. Sự
hoàn thiện trong một kỹ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kỹ năng
khác. Đọc đúng là tiêu đề của đọc nhanh cũng nh cho phép thông hiểu nội dung
văn bản. Nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh và diễn
cảm đợc. Nhiều khi khó mà nói đợc rạch ròi kỹ năng nào làm cơ sở cho kỹ năng
nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hay chính nhờ hiểu đúng mà đọc đợc đúng. Vì
vậy trong dạy đọc, không thể xem nhẹ yếu tố nào.
- Đọc là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành, phơng pháp và thói quen
làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh, làm cho sách trở thành phơng
tiện, ngời bạn và chỗ dựa vững chắc cho công việc học tập của các em. Đó là một
trong những điều kiện để trờng học thực sự trở thành trung tâm văn hoá. Nói cách
khác, thông qua việc dạy đọc, phải làm cho học sinh thích đọc và thấy đợc rằng khả
năng đọc là có lợi ích cho các em trong cả cuộc đời. Phải cho học sinh thấy đó là
một trong những con đờng đặc biệt đã tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và
phát triển.
3/ Thực trạng dạy học:
Những năm qua trong vấn đề dạy và chỉ đạo đạo dạy môn Tiếng việt nói
1/ Một số vấn đề liên quan đến nội dung dạy học:
1.1/ Vị trí của dạy học ở tiểu:
+ Khái niệm:
Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ là quá trình chuyển hoá từ dạng thức
chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó là quá trình chuyển trực tiếp
từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa có âm thanh.
+ ý nghĩa của việc đọc:
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hoá khoa học t t-
ởng tình cảm của các thế hệ trớc và của cả những ngời đơng thời phần lớn đã đợc
ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con ngời không thể tiếp thu nền văn
minh của loài ngời, không thể sống một cuộc sống bình thờng, có hạnh phúc
đúng với nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại. Biết đọc con ngời đã nhận khả
năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây anh ta biết tìm hiểu đánh giá cuộc sống nhận
thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội t duy. Biết đọc con ngời sẽ có khả năng
chế ngự một phơng tiện văn hoá cơ bản giúp họ giao tiếp đợc với thế giới bên
trong của ngời khác. Thông hiểu t tởng, tình cảm của ngời khác. Đặc biệt khi đọc
tác phẩm văn chơng, con ngời không chỉ đợc thức tỉnh về nhận thức mà còn rung
động tình cảm, nảy nở những ớc mơ tốt đẹp đợc khơi dậy năng lực hành động,
sức mạnh sáng tạo cũng nh đợc bồi dỡng tâm tâm hồn. Không biết đọc, con ngời
sẽ không có điều kiện hởng thụ sự giáo dục mà xã hội giành cho họ, không thể
hình thành đợc một nhân cách toàn diện. Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông
4
Rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh Lớp 5.
tin thì biết đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽ giúp ngời ta sử dụng các nguồn
thông tin, đọc chính là học, học nữa, học mãi đọc để tự học, học cả đời.
+ ý nghĩa của việc đọc ở tiểu học:
Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập. Nó
là công cụ để học tập các môn học khác, nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập. Nó
tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Nó là một
khả năng không thể thiếu đợc của con ngời trong thời đại văn minh.
có khả năng thành công. Do đó, hiểu những gì đợc đọc sẽ tạo ra động cơ, hứng
thú cho việc đọc.
2/ Cơ sở ngôn ngữ học và văn học của việc dạy học:
Dạy tập đọc phải dựa trên những cơ sở của ngôn ngữ học. Nó liên quan
mật thiết với một số vấn đề của ngôn ngữ học nh vấn đề chính âm. Dạy tập
đọc phải dựa trên những kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học, việt ngữ học
để xây dựng, xác lập nội dung và phơng pháp dạy học. Bốn phẩm chất của đọc
không thể tách rời những cơ sở ngôn ngữ học. Không coi trọng đúng mức những
cơ sở này, việc dạy học sẽ mang tính tuỳ tiện và không đảm bảo hiệu quả dạy
học.
Mặt khác, cần phải thấy rằng, những kết quả nghiên cứu của việt ngữ học
còn hạn chế cha đáp ứng đợc những đòi hỏi của phơng pháp, cha thống nhất đợc
chuẩn chính âm, những nghiên cứu ít ỏi về ngữ điệu Tiếng việt, làm cho phơng
pháp dạy tập đọc không tách khỏi những lúng túng khi giải quyết những vấn đề
về đọc đúng, đọc diễn cảm. Không có đợc những chỉ dẫn cụ thể cho đọc diễn
cảm mà đành bằng lòng với cách nói chung chung, hời hợt. Những quy tắc ít ỏi
của ngữ pháp đọc kết thúc câu kể phải xuống giọng, câu hỏi phải lên giọng chỉ
đa lại những chỉ dẫn chung chung về đọc diễn cảm nh bài thơ đợc đọc với giọng
thiết tha sôi nổi, còn những chỉ dẫn có tính chất định lợng về mối tơng quan giữa
các cao độ, chỗ ngắt của đoạn, bài thơ đợc xác định. Vì vậy việc dạy đọc diễn
cảm nhiều lúc còn mang tính chủ quan, cảm tính.
+ Chính âm trong Tiếng việt:
Chính âm là chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu lực
về mặt xã hội.
Theo đa số nhà nghiên cứu, nội dung cơ bản của chính âm trong Tiếng việt
hiện nay nên lấy hệ thống ngữ âm (Cách phát âm) của phơng ngữ Bắc bộ mà tu
biến là tiếng Hà Nội làm căn cứ, bổ sung cách phát âm một số phụ âm đầu quặt
lỡi (tr, s/r) và không phát âm phân biệt d / gi.
+ Ngữ điệu trong Tiếng việt:
Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc là sự hạ
2.1/ Chuẩn bị cho việc dạy đọc diễn cảm:
Đọc diễn cảm là một yêu cầu đặt ra khi đọc đợc những văn bản, văn chơng
hoặc các yếu tố của ngôn ngữ nghệ thuật. Đó là việc thể hiện kỹ năng làm chủ
ngữ điệu, chỗ ngừng giọng, cờng độ giọng, để biểu đạt ý nghĩ và tình cảm của
tác giả đã gửi gắm trong bài đọc đồng thời biểu hiện đợc sự thông hiểu cảm thụ
của ngời đọc đối với tác phẩm. Đọc diễn cảm thể hiện năng lực đọc ở trình độ và
chỉ thực hiện đợc trên cơ sở đọc đúng và đọc lu loát.
7
Rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh Lớp 5.
Đọc diễn cảm chỉ có thể có đợc trên cơ sở hiểu thấu đáo bài đọc. Đọc diễn
cảm yêu cầu đọc đúng giọng vui, buồn, giận dữ, trang nghiêm phù hợp với từng
ý cơ bản của bài đọc, phù hợp kiểu câu, thể loại đọc có cảm xúc cao. Biết nhấn
giọng ở từ ngữ biểu cảm gợi tả, phân biệt lời nhân vật. Để đọc diễn cảm, ngời ta
phải làm chủ chỗ ngắt giọng. ở đây muốn nói đến kỹ thuật ngắt giọng biểu cảm,
làm chủ tốc độ. Khi nói đến đọc diễn cảm, ngời ta thờng nói về một số kỹ thuật
nh ngắt giọng biểu cảm, sử dụng tốc độ, cờng độ, cao độ trờng độ với ý nghĩa
cảm xúc của bài.
Để đạt đợc mức lý tởng hớng dẫn cách đọc toàn bài bằng những ký tự kèm
văn bản đọc nh các ký tự âm nhạc thì còn cần một quá trình nghiên cứu dài lâu.
ở đây chúng ta chủ đề vào xác định sự tơng hợp giữa các thông số âm thanh với
ý nghĩa cảm xúc để hớng đến làm chủ những thông số âm thanh phổ biến cho
đúng ý tình cảm các tác phẩm - đọc diễn cảm.
Để đọc diễn cảm, ngời ta phải làm chủ đợc chổ ngắt giọng, ở đây muốn
nói đến kỹ thuật ngắt giọng biểu cảm, làm chủ đợc tốc độ, làm chủ đợc cờng độ
giọng (đọc to hay nhỏ, nhấn giọng hay lơi giọng) và làm chủ tốc độ.
- Ngắt giọng biểu cảm: Là chỗ ngừng lâu hơn bình thờng hoặc chỗ ngừng
không do logíc ngữ nghĩa mà do dụng ý của ngời đọc nhằm gây ấn tợng về cảm
xúc, ngắt giọng biểu cảm đối lập với ngắt giọng logíc là chỗ dừng để tác các
nhóm từ trong câu ngắt giọng logíc hoàn toàn phụ thuộc vào ý nghĩa của quan hệ
giữa cụm từ.
- Cờng độ: Cờng độ trong đọc diễn cảm phải nói đến dạy đọc to. Khi đọc
trớc nhiều ngời, học sinh phải tính đến ngời nghe. Các em phải hiểu rằng không
chỉ đọc cho mình nghe mà phải đọc cho các bạn và cô giáo cùng nghe. nh vậy
phải đọc sao cho cả tập thể này nghe rõ. Nhng nh vậy không có nghĩa là đọc quá
to hoặc gào lên nh cách đọc dùng để gây sự chú ý ở một số học sinh.
Cờng độ đọc có giá trị diễn cảm. Cờng độ phối hợp với cao độ sẽ tạo ra
giọng vang hay giọng lắng.
- Cao độ: Cao độ để đọc diễn cảm là muốn nói đến những chỗ lên giọng,
xuống giọng dụng ý nghệ thuật, cần kết hợp giữa cao độ và cờng độ giọng đọc
để phân biệt lời tác giả và lời nhân vật. Khi đọc những lời dẫn chuyện cần đọc
với giọng nhỏ hơn, thấp hơn những lời nói trực tiếp của nhân vật ở đây có sự
chuyển giọng mà những lời dẫn nh nên thấp để cho những lời hội thoại nổi lên.
Nh vậy ngữ điệu đọc giọng, đọc diễn cảm là sự hoà đồng của tất cả những đặc
điểm âm thanh này. Chỗ ngừng, tốc độ, chỗ nhấn giọng, chỗ lên giọng, hạ giọng
tạo nên một âm hởng chung của bài tập đọc. Đọc diễn cảm là sử dụng ngữ điệu
để phô diễn cảm xúc của bài đọc. Vì vậy phải hoà nhập với câu chuyện bài văn,
bài thơ có cảm xúc mới tìm thấy ngữ điệu thích hợp. Chính tác phẩm quy định
ngữ điệu cho chúng ta chứ không phải chúng ta tự đặt ra ngữ điệu.
Ch ơng II
9
Rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh Lớp 5.
Một số biện pháp nâng cao dạy đọc
diễn cảm cho học sinh lớp 5
I - Đề xuất một số biện pháp:
1/ Đổi mới các phơng tiện dạy học:
- Xây dựng phổ biến các phơng tiện dạy học khác nhau.
- Khuyến khích giáo viên làm đồ dùng dạy học sẽ phát huy đợc tính sáng
tạo và nâng cao năng lực chuyên môn của giáo viên, biết sử dụng phơng tiện
khác nhau một cách có hiệu quả.
- Hớng dẫn học sinh su tầm các đồ dùng học tập sẽ có tác dụng kích thích
Ví dụ: Bài :Tiếng rao đêm
Đoạn đầu : Giọng kể chuyện , trầm buồn.
Đoạn tả đám cháy: Giọng dồn dập, căng thẳng, bất ngờ.
Đoạn cuối : Giọng trầm, ngỡ ngàng.
Những từ ngữ cần nhấn mạnh phải đợc gạch chân. Những câu đoạn trọng
tâm cần ghi ký hiệu ngắt hơi (/), nghỉ hơi (//). Ngoài ra còn có thể sử dụng
những ký hiệu đọc diễn cảm nếu thấy cần thiết nh lên giọng ( ), xuống giọng
( ), kéo dài ( ) có những từ ngữ quan trọng khi đọc bài văn. Trong giáo án
cần ghi rõ trọng tâm luyện đọc diễn cảm từng bài phù hợp với đối tợng học sinh.
Nếu giáo án còn ghi đợc cả dự kiến các loại đối tợng học sinh đọc ở từng
đoạn hoặc câu có sửa chữa và lu ý thì càng tốt. Dĩ nhiên, khi lên lớp, còn có
nhiều tình huống s phạm mới mẻ cần xử lý song sự chuẩn bị cho việc đọc
diễn cảm càng chu đáo, càng giúp cho ngời giáo viên chủ động và sáng tạo
trên lớp.
2.2/ Tăng cờng luyện đọc diễn cảm trên lớp:
Đọc và cảm thụ là hai hoạt động có mối quan hệ qua lại trong quá trình
tiếp xúc với bài văn. Cảm thụ văn học thông qua luyện đọc diễn cảm là con đơng
phù hợp với tâm sinh lý học sinh tiểu học. Tăng cờng luyện đọc diễn cảm cho
học sinh trên lớp là yêu cầu cần đợc học sinh coi trọng. ở những khâu lên lớp cơ
bản, giáo viên đều có thể giúp học sinh tìm hiểu, suy nghĩ kỹ để thật sự rung cảm
với bài văn, từ đó mới xác định đợc nhiệm vụ đọc, cách diễn tả sắc thái của từng
đoạn văn, từng nhân vật, từng mức độ và biện pháp khác nhau.
2.2.1/ Khâu kiểm tra bài cũ:
Bên cạnh việc kiểm tra yêu cầu luyện tập ở bài trớc giáo viên cần coi trọng
việc đọc diễn cảm bài học thuộc lòng hoặc đoạn văn, đoạn thơ đã luyện đọc ở
giờ trớc. Những học sinh đọc liến thoáng cần đợc uốn nắn đọc lại cho thong thả,
diễn cảm không nên cho điểm cao những học sinh chỉ thuộc mà đọc cha diễn
cảm.
2.2.2/ Hớng dẫn tìm hiểu bài mới:
Giáo viên đọc mẫu lần 1 thật diễn cảm sẽ có tác dụng vừa gây hứng thú
Hải phòng/ yên giấc ngủ say
Cây/ rung theo gió , lá/ bay xuống đờng
+ Về thời gian luyện đọc cần dành khoáng 18-20 phút (hạn chế những
câu hỏi thêm sau khi học sinh đọc diễn cảm). Tuỳ trình độ học sinh, giáo viên có
thể luyện kỹ đoạn trọng tâm rồi cho vài em đọc cả bài để cả lớp nghe.
2.3/ Xây dựng phong trào đọc diễn cảm ngoài lớp học:
Phần này đòi hỏi giáo viên phải công phu đầu t công sức và có nhiều biện
pháp, hình thức sinh động hấp dẫn. Có thể kết hợp với đội thiếu niên tiền phong,
12
Rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh Lớp 5.
tổ chức các hoạt động ngoại khoá nh "thi đọc diễn cảm", để các em có cơ hội để
thể hiện khả năng của mình và các em cha đạt cũng thấy đợc rõ hơn mình cha
đạt chỗ nào để cố gắng trong việc rèn luyện kĩ năng đọc.
Ví dụ 1: Bài Ê- mi- li, con Tiếng việt 5, tập I
Sau khi tìm hiểu kỹ bài thơ và dự kiến cách đọc diễn cảm của mình, em
đối chiếu với phần đọc của bạn xem:
- Những chỗ nào em đọc đúng, những chỗ nào em đọc sai? lý do vì sao?
- Chỗ nào em chú ý thêm? (Về giọng đọc từ ngữ cần nhấn mạnh?
- Những câu thơ nào cần đặc biệt lu ý cách ngắt nhịp? Vì sao vậy?
Ví dụ 2: Bài Lòng dân Tiếng việt 5 tập II
Sau khi tìm hiểu bài, em đọc diễn cảm thể loại văn đối thoại nhằm diễn tả
tính cách từng nhân vật nh trong sách giáo khoa đã hớng dẫn. Em hãy ghi ký
hiệu đọc cụ thể về cách đọc của em vào bài đọc kể luyện đọc.
Lu ý: Chép bài ra giấy, có thể sáng tạo thêm những ký hiệu khác nh giọng
trầm xuống ( ), giọng lên cao ( ) từ ngữ đọc có độ rung ( )
Với cách luyện nh những ví dụ ở trên giáo viên, phụ huynh, học sinh có
thể lựa chọn thêm hoặc cho học sinh tự chọn bài văn, bài thơ hay phù hợp với lứa
tuổi các em. Qua đó, giáo viên cần chú ý bồi dỡng những hạt nhân đọc diễn cảm
để cùng tham dự những đợt thi ở khối, trờng.
2.4/ Giáo viên tích cực tự bồi dỡng chuyên môn nghiệp vụ để dạy đọc
tác và khả năng thích ứng với hoàn cảnh xung quanh. Thông qua thảo luận, ngôn
ngữ t duy của học sinh trở nên linh hoạt và sinh động hơn.
+ Phơng pháp sử dụng các trò chơi học tập:
Là hình thức học tập thông qua trò chơi. Trò chơi học tập không chỉ nhằm vui
chơi giải trí mà còn nhằm góp phần củng cố tri thức, kỹ năng học tập của học sinh.
Trong quá trình dạy học nhằm làm cho việc hình thành kiến thức và rèn luyện
kỹ năng của học sinh bớt đi vẻ khô khan tăng thêm phần sinh động hấp dẫn.
Đổi mới phơng pháp dạy học đợc thực hiện trong bối cảnh đổi mới giáo
dục tiểu học nói chung và đổi mới hình thức tổ chức lớp học nói riêng.
Hình thức tổ chức lớp học là cách thức tổ chức sắp xếp học sinh của lớp
thành các đơn vị học tập khác nhau trong quá trình dạy học. Các hình thức tổ
chức lớp học.
- Học theo lớp : Tổ chức học chung toàn lớp.
- Học theo nhóm: Tạo bầu không khí hợp tác học tập. Học tập có tổ chức,
có trách nhiệm giữa các thành viên trong một nhóm học sinh.Khi học theo
nhóm, mỗi học sinh phải phát biểu ý kiến riêng của mình. Phải thực hiện những
nhiệm vụ cụ thể để hoàn thành nhiệm vụ chung của các nhóm.
- Học cặp đôi: Hai cá nhân gần nhau cùng trao đổi thảo luận về một nội
dung, về một câu hỏi đợc giáo viên nêu ra.
- Học cá nhân: Tạo điều kiện phát huy tối đa năng lực của học sinh để các
em giải quyết các nhiệm vụ học tập ở lớp.
Đổi mới phơng pháp dạy học trong điều kiện hiện nay đợc hiểu là chuyển
từ phơng pháp truyền thụ thụ động sang phơng pháp tích cực hoá hoạt động ngời
học, trong đó thầy đóng vai trò ngời tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học
sinh đều đợc bộc lộ và phát triển.
Đổi mới phơng pháp dạy học vận dụng quan điểm tích hợp. Vừa hình
thành kỹ năng, vừa cung cấp tri thức. Trong các tri thức cung cấp cho học sinh,
ngoài những tri thức tiếng việt còn có các tri thức về khoa học tự nhiên và xã hội.
Việc hình thành các kỹ năng sử dụng tiếng việt muốn có hiệu quả cao phải
đợc thực hiện không chỉ ở bài học tiếng việt mà còn ở các bài học thuộc những
năm
Cuối
năm
đầu
năm
Cuối
năm
đầu
năm
Cuối
năm
5a
(TN)
27 2 8 5 16 17 3 3 0
5B
(ĐC )
30 2 4 4 7 20 17 4 2
5C
(ĐC )
29 1 3 3 6 22 18 3 2
5Đ
(ĐC )
31 2 4 5 7 20 17 6 3
5E
(ĐC )
30 2 4 4 7 20 17 4 2
Ghi chú: TN- Lớp thực nghiệm; ĐC - Lớp đối chứng
Sau khi kiểm tra kết quả học tập của học sinh ở lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng ở trên chúng tôi nhận thấy.
+ ở lớp đối chứng: Hoạt động chính là giáo viên truyền thụ tri thức và đa
cho bản thân và đồng nghiệp.
- Tìm hiểu và nắm đợc một số vấn đề cơ bản về dạy học, đổi mới phơng
pháp dạy học ở Tiểu học nói chung và đổi mới phơng pháp dạy học môn Tiếng
việt ở lớp 5 nói riêng.
- Tìm hiểu việc rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5.
- Tìm hiểu thực trạng việc dạy đọc diễn cảm ở lớp 5, thấy đợc những u
điểm, khuyết điểm của giáo viên và học sinh. Từ đó rút ra một đề xuất nhằm
hoàn thiện việc dạy và học đọc diễn cảm.
- Tìm hiểu cách thiết kế một bài dạy theo kiểu đổi mới phơng pháp dạy
học, thực hành một tiết dạy thực nghiệm. Bớc đầu thấy đợc một số kết quả nhất
định chứng tỏ tính khả thi và hiệu quả với phơng pháp, biện pháp đã đa ra
- Quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã bớc đầu tập dợt nghiên cứu khoa
học làm cơ sở cho việc học tập và nghiên cứu sau này.
Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy và đặc biệt là qua một thời gian đi sâu
tìm hiểu những khó khăn, sai sót trong việc dạy và học tiếng việc ở lớp 5. Tôi
thấy rằng là ngời giáo viên tiểu học phải luôn luôn trau dồi kinh nghiệm để nâng
cao trình độ nghiệp vụ, hớng dẫn và giúp đỡ học sinh có kiến thức và kỹ năng về
Tiếng việt phải chú trọng đầu t đều ở các môn học không xem nhẹ bất cứ môn
nào. Giáo viên phải nhiệt tình, yêu nghề và quan tâm tìm hiểu tâm lý học sinh.
Giáo viên phải luôn tham khảo tài liệu có liên quan đến bộ môn Tiếng việt
để lựa chọn phơng pháp đầu t thích hợp vào từng giờ học gây hứng thú học tập
cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chủ động và sáng tạo. Phải tôn trọng
nhân cách học sinh.
Mặt khác giáo viên phải luôn kết hợp các biện pháp giáo dục. Khi thực
hiện dạy tập đọc theo định hớng giao tiếp chúng tôi dễ dạy và học sinh rất hứng
thú học tập.
Đặc biệt trong thời đại hiện nay giáo dục Tiểu học là rất quan trọng vì
bậc tiểu học là nền tảng phải đổi mới giáo dục là tiền đề cho sự phát triển xã
hội mà con ngời là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Bởi vậy nâng cao chất lợng
dạy học Tiếng việt nói chung và phân môn tập đọc nói riêng trong trờng học là
Để tiến hành sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc,
phải hết sức coi trọng nhân tố con ngời.
Nhân tố con ngời đợc đặt vào vị trí trung tâm của chiến lợc kinh tế - xã
hội, xây dựng đất nớc có nghĩa là nguồn lực con ngời quyết định mọi sự phát
triển của xã hội. Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu,
là động lực thúc đẩy là điều kiện đảm bảo cho sự thực hiện những mục tiêu kinh
tế xã hội, xây dựng bảo vệ đất nớc.
Trớc công cuộc đổi mới đất nớc đặt ra cho ngành giáo dục một mục tiêu
quan trọng. Đào tạo ra những con ngời có bản lĩnh, năng động, sáng tạo, giàu
lòng nhân ái, yêu nớc, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng yêu cầu
phát triển của đất nớc và chuẩn bị cho tơng lai.
Xuất phát từ yêu cầu đặt ra trong công cuộc giáo dục nói chung và đổi mới
hình thức, phơng pháp dạy học ở tiểu học nói riêng.
Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ
năng cơ bản góp phần hình thành nhân cách con ngời Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Bớc đầu xây dựng t cách và trách nhiệm công dân, làm nền tảng cho học
sinh tiếp tục học trung học cơ sở. Trong những năm gần đây, nghị quyết của Đại
hội Đảng lần thứ X và những văn kiện khác của Nhà nớc, của Bộ giáo dục và đào
tạo cần phải nâng cao chất lợng giáo dục cho phù hợp với sự phát triển của đất n-
ớc để tạo ra những con ngời năng động, sáng tạo, có năng lực để giải quyết vấn
đề. Đó là Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo
dục, Học tập và làm theo tấm gơng đạo đức Hồ Chí Minh.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nớc sau năm 2007 và khắc phục những
khó khăn của việc thực hiện bốn chơng trình tiểu học. Chơng trình tiểu học năm
2000 ra đời với 9 môn học bắt buộc và một số môn học tự chọn, trong đó tập
trung vào đổi mới phơng pháp dạy học và nâng cao chất lợng dạy các môn toán,
tiếng việt, đạo đức Nh vậy tất cả các phân môn trong đó môn Tiếng việt là một
trong những môn đợc thay đổi về nội dung, phơng pháp và hình thức dạy học.
19
2/ Nhiệm vụ của phân môn:
Tập đọc là một phân môn học và thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của
nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc đợc tạo nên từ bốn kỹ
năng cũng là bốn yêu cầu về chất lợng của đọc, đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý
thức (Thông qua đó hiểu đợc nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc
hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kỹ năng này đợc hình thành trong hai hình thức đọc,
20
Rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh Lớp 5.
đọc thành tiếng và đọc thầm, chúng đợc rèn luyện đồng thời hỗ trợ lần nhau. Sự
hoàn thiện trong một kỹ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kỹ năng
khác. Đọc đúng là tiêu đề của đọc nhanh cũng nh cho phép thông hiểu nội dung
văn bản, nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh và diễn
cảm đợc nhiều khi khó mà nói đợc rạch ròi. kỹ năng nào làm cơ sở cho kỹ năng
nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hay chính nhờ hiểu đúng mà đọc đợc đúng. Vì
vậy trong dạy đọc, không thể xem nhẹ yếu tố nào.
- Đọc là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành, phơng pháp và thói quen
làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh, làm cho sách trở thành phơng
tiện, ngời bạn và chỗ dựa vững chắc cho công việc học tập của các em. Đó là một
trong những điều kiện để trờng học thực sự trở thành trung tâm văn hoá. Nói cách
khác, thông qua việc dạy đọc, phải làm cho học sinh tích đọc và thấy đợc rằng khả
năng đọc là có lợi ích cho các em trong cả cuộc đời. Phải cho học sinh thấy đó là
một trong những con đờng đặc biệt đã tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và
phát triển.
3/ Thực trạng dạy học:
Những năm qua trong vấn đề dạy và chỉ đạo đạo dạy môn Tiếng việt nói
chung và phân môn tập đọc nói riêng chúng tôi thấy rằng môn tập đọc ở lớp 5 là
môn mang tính nghệ thuật cảm thụ tốt cũng trên cơ sở đề rèn đọc tốt. Đọc diễn
cảm là đọc nghệ thuật và vật chất hoá khâu cảm thụ chất nghệ thuật của tập đọc
phải đợc quán triệt trong mọi khó khâu giảng dạy. Nhng hiện nay mặc dù trong
quá trình giảng dạy việc nâng cao dạy tập đọc, đọc diễn cảm đã đợc chú trọng,
từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa có âm thanh.
+ ý nghĩa của việc đọc:
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hoá khoa học t t-
ởng tình cảm của các thế hệ trớc và của cả những ngời đơng thời phần lớn đã đợc
ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con ngời không thể tiếp thu nền văn
minh của loài ngời, không thể sống một cuộc sống bình thờng, có hạnh phúc
đúng với nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại. Biết đọc con ngời đã nhận khả
năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây anh ta biết tìm hiểu đánh giá cuộc sống nhận
thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội t duy. Biết đọc con ngời sẽ có khả năng
chế ngự một phơng tiện văn hoá cơ bản giúp họ giao tiếp đợc với thế giới bên
trong của ngời khác. Thông hiểu t tởng, tình cảm của ngời khác. Đặc biệt khi đọc
tác phẩm văn chơng, con ngời không chỉ đợc thức tỉnh về nhận thức mà còn rung
động tình cảm, nảy nở những ớc mơ tốt đẹp đợc khơi dậy năng lực hành động,
sức mạnh sáng tạo cũng nh đợc bồi dỡng tâm hồn không biết đọc, con ngời sẽ
không có điều kiện hởng thụ sự giáo dục mà xã hội giành cho họ, không thể hình
thành đợc một nhân cách toàn diện. Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin thì
biết đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽ giúp ngời ta sử dụng các nguồn thông tin,
đọc chính là học, học nữa, học mãi đọc để tự học, học cả đời.
22
Rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh Lớp 5.
+ ý nghĩa của việc đọc ở tiểu học:
Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập. Nó
là công cụ để học tập các môn học khác, nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập. Nó
tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Nó là một
khả năng không thể thiếu đợc của con ngời trong thời đại văn minh.
Đọc một cách có ý thức sẽ có tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng
nh t duy của ngời đọc, đọc giúp trẻ hiểu biết hơn, bồi dỡng ở các em lòng yêu cái
thiện và cái đẹp. Các em biết suy nghĩ một cách lôgíc cũng nh biết t duy có hình
ảnh. Nh vậy đọc có một ý nghĩa to lớn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dỡng,
giáo dục và phát triển.
phải dựa trên những kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học việt ngữ học vấn đề
nói trên để xây dựng xác lập nội dung và phơng pháp dạy học. Bốn phẩm chất
của đọc không thể tách rời những cơ sở ngôn ngữ học. Không coi trọng đúng
mức những cơ sở này, việc dạy học sẽ mang tính tuỳ tiện và không đảm bảo hiệu
quả dạy học.
Mặt khác, cần phải thấy rằng, những kết quả nghiên cứu của việt ngữ học
còn hạn chế cha đáp ứng đợc những đòi hỏi của phơng pháp, cha thống nhất đợc
chuẩn chính âm, những nghiên cứu ít ỏi về ngữ điệu Tiếng việt, làm cho phơng
pháp dạy tập đọc không tách khỏi những lúng túng khi giải quyết những vấn đề
về đọc đúng, đọc diễn cảm. Không có đợc những chỉ dẫn cụ thể cho đọc diễn
cảm mà đành bằng lòng với cách nói chung chung, hời hợt. Những quy tắc ít ỏi
của ngữ pháp đọc kết thúc câu kể phải xuống giọng, câu hỏi phải lên giọng chỉ
đa lại những chỉ dẫn chung chung về đọc diễn cảm nh bài thơ đợc đọc với giọng
thiết tha sôi nổi, còn những chỉ dẫn có tính chất định lợng về mối tơng quan giữa
các cao độ, chỗ ngắt của đoạn, bài thơ đợc xác định. Vì vậy việc dạy đọc diễn
cảm nhiều lúc còn mang tính chủ quan, cảm tính.
+ Chính âm trong Tiếng việt:
Chính âm là chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu lực
về mặt xã hội.
Theo đa số nhà nghiên cứu, nội dung cơ bản của chính âm trong Tiếng việt
hiện nay nên lấy hệ thống ngữ âm (Cách phát âm) của phơng ngữ Bắc bộ mà tu
biến là tiếng Hà Nội làm căn cứ, bổ sung cách phát âm một số phụ âm đầu quặt
lỡi (tr, s/r) và không phát âm phân biệt d / gi.
+ Ngữ điệu trong Tiếng việt:
Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc là sự hạ
thấp giọng đọc, giọng nói ngữ điệu là một trong những thành phần của ngôn
điệu. Ngữ điệu gồm toàn bộ các phơng tiện siêu đoạn tính đợc sử dụng ở bình
diện câu nh: Cao độ, cờng độ, trờng độ Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói,
là yếu tố tham gia tại thành lời nói.
Trong cấu trúc các ngữ điệu phần cứng là những đặc trng vốn có của các
của ngời đọc đối với tác phẩm. Đọc diễn cảm thể hiện năng lực đọc ở trình độ và
chỉ thực hiện đợc trên cơ sở đọc đúng và đọc lu loát.
Đọc diễn cảm chỉ có thể có đợc trên cơ sở hiểu thấu đáo bài đọc. Đọc diễn
cảm yêu cầu đọc đúng giọng vui, buồn, giận dữ, trang nghiêm phù hợp với từng
ý cơ bản của bài đọc, phù hợp kiểu câu, thể loại đọc có cảm xúc cao. Biết nhấn
giọng ở từ ngữ biểu cảm gợi tả, phân biệt lời nhân vật. Để đọc diễn cảm, ngời ta
phải làm chủ chỗ ngắt giọng. ở đây muốn nói đến kỹ thuật ngắt giọng biểu cảm,
làm chủ tốc độ. Khi nói đến đọc diễn cảm, ngời ta thờng nói về một số kỹ thuật
25