CÁC NHÂN tố cơ bản ẢNH HƯỞNG đến nước dưới đất - Pdf 16

CÁC NHÂN TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN NƯỚC DƯỚI ĐẤT
VÙNG VEN BIỂN TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ
NGUYỄN ĐÌNH TIẾN
1
, PHẠM ĐÌNH CHUY
2
1
Trường đại học Khoa học, Đại học Huế,
2
Sở Tài nguyên và Môi trường Thừa Thiên - Huế
Tóm tắt: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu các nhân tố tự nhiên: khí hậu, địa hình, địa mạo
và các nhân tố nhân tạo trong vùng, các tác giả đã phân tích các nhân tố cơ bản ảnh
hưởng đến mực nước và chất lượng nước dưới đất vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên - Huế,
trong đó các nhân tố có ý nghĩa quan trọng và tác động mạnh mẽ là lượng mưa, lượng
bốc hơi, địa hình và các hoạt động kinh tế - nhân sinh.
I. MỞ ĐẦU
Vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên - Huế kéo dài theo hướng TB-ĐN và được phân thành 2 dải
do hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai và sông Ô Lâu chia cắt, với thành tạo trầm tích chủ yếu có
nguồn gốc sông-biển, biển và biển-gió. Dải phía bắc kéo dài từ ranh giới với tỉnh Quảng Trị đến
cửa Thuận An với chiều dài 32 km, phía bắc dải rộng 7,5 km và vuốt nhọn dần về phía nam rộng
400 m, bao gồm những vùng đất thấp và các đụn cát, càng về phía nam độ cao các đụn cát tăng
dần (có nơi cao đến 40 m). Dải phía nam kéo dài từ cửa Thuận An đến cửa Tư Hiền với chiều dài
39 km, phía bắc rộng 200 m và mở rộng về phía nam rộng 4 km, bao gồm những vùng đất thấp
và các đụn cát (độ cao lớn nhất 24 m), càng về phía nam địa hình càng bằng phẳng và mở rộng.
Tầng chứa nước dưới đất trong vùng kể trên lộ ra trên bề mặt toàn bộ diện tích nghiên cứu
(trừ một phần rất nhỏ ở ven đầm Cầu Hai thuộc xã Vinh Hiền, nơi phân bố và lộ ra của khối
magma xâm nhập phức hệ Hải Vân), được bao bọc bởi biển ở phía đông và hệ đầm phá Tam
Giang - Cầu Hai ở phía tây (độ mặn từ 7 đến 26‰, Hình 1). Mặc khác, vùng này lại nằm xa
thành phố Huế, nên nước dưới đất là nguồn cung cấp chủ yếu cho sự phát triển kinh tế - xã hội
của vùng. Chính vì vậy, nghiên cứu các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến trữ lượng và chất lượng
nước dưới đất trong vùng là nhu cầu bức thiết nhằm khai thác hợp lý và bảo vệ tính bền vững

2. Lượng bốc hơi
Các số liệu quan trắc cho thấy lượng bốc hơi trung bình năm của vùng nghiên cứu biến đổi
khá lớn, từ 900 đến 1009 mm/năm, bằng 30-40% tổng lượng mưa năm. Biến trình năm của bốc
hơi ngược với biến trình năm của lượng mưa, thời kỳ mưa ít nhất có lượng bốc hơi cao nhất và
thời kỳ mưa nhiều nhất có lượng bốc hơi đạt cực tiểu. Nhìn chung, khả năng bốc hơi lớn, mưa ít,
nhiệt độ cao đã gây ra thời tiết khô hạn ở dải ven biển từ tháng 3 đến tháng 8, trong đó các tháng
7 và 8 có lượng bốc hơi lớn nhất.
Bảng 1. Mối quan hệ tương quan giữa cốt cao mực nước dưới đất (H) và lượng mưa (X)
của một số lỗ khoan trong vùng nghiên cứu
Số TT
Lỗ khoan
quan trắc
Toạ độ
Hệ số tương
quan r
Phương trình tuyến tính giữa cốt
cao mực nước dưới đất (H) và
lượng mưa (X)
X Y
1 LK C03 1818934,48 797264,18 0,42 H = 2,3392 + 0,0015379X
2 LK C09 1813626,31 804574,08 0,22 H = 5,4017 + 0,001506X
3 LK C10 1810121,15 808650,49 0,42 H = 0,97801 + 0,0034731X
Hình 2. Biểu đồ biểu diễn lượng mưa và sự dao động mực nước dưới đất ở lỗ khoan C03
(theo tài liệu mưa vùng Huế, quan trắc từ 5/9/2002 đến 5/9/2003)
Hình 3. Biểu đồ biểu diễn lượng mưa và sự dao động mực nước dưới đất ở lỗ khoan C09
(theo tài liệu mưa vùng Huế, quan trắc từ 5/9/2002 đến 5/9/2003)
Hình 4. Biểu đồ biểu diễn lượng mưa và sự dao động mực nước dưới đất ở lỗ khoan C10
(theo tài liệu mưa vùng Huế, quan trắc từ 5/9/2002 đến 5/9/2003)
Bốc hơi là một trong những nguyên nhân làm hao hụt lượng nước, vì vậy nó được xem là một
thành phần quan trọng của cán cân cân bằng nước và ảnh hưởng đến trữ lượng và chất lượng của

3. Địa hình, địa mạo
Vùng nghiên cứu có dạng địa hình đồng bằng có cồn cát và đầm phá, trong đó các đụn cát và
cồn cát phân bố gần bờ, kéo dài song song với phương của bờ biển và tập trung chủ yếu ở phía
nam của dải phía bắc và phía bắc của dải phía nam. Phần còn lại là các đồng bằng thấp. Mặc
khác, vùng nghiên cứu được biển và hệ đầm phá bao bọc nên bề mặt nước dưới đất có dạng thấu
kính, mực nước dưới đất nằm nông, biến đổi từ 0,4 đến 12 m. Thành phần thạch học của tầng
chứa nước chủ yếu là cát thạch anh, lớp phủ thực vật phát triển kém. Chính tình hình đó tạo điều
kiện thuận lợi cho nước mưa thấm cung cấp cho nước dưới đất. Tuy nhiên, ở những vùng địa
hình cao, mực nước dưới đất nằm sâu, lượng nước mưa cung cấp cho nước dưới đất chậm. Khi
lượng mưa tăng thì mực nước dưới đất dâng cao chậm hơn, sự lệch pha so với lượng mưa từ
10 đến 20 ngày và građien áp lực (độ dốc mực nước) của nước dưới đất tương đối lớn, do tốc độ
thoát tăng (lỗ khoan C09 phân bố trên sườn dải cát; cao trình mặt đất tại lỗ khoan Z = 7,93 m; độ
sâu mực nước cực tiểu h
min
= 1,46 m, cực đại h
max
= 3,31 m; biên độ dao động mực nước cực
đại ∆h = 1,85 m; Hình 3). Ngược lại, ở những vùng địa hình thấp, mực nước dưới đất nằm nông,
lượng nước mưa cung cấp cho nước dưới đất nhanh, khi lượng mưa tăng thì mực nước dưới đất
cũng dâng cao, sự lệch pha so với lượng mưa là không đáng kể từ 1 đến 5 ngày và građien áp lực
của nước dưới đất tương đối nhỏ do tốc độ thoát thấp (lỗ khoan C03 phân bố dưới chân dải cát;
cao trình mặt đất tại lỗ khoan Z = 3,21 m; độ sâu mực nước cực tiểu h
min
= 0,48 m, cực đại h
max
=
1,30 m; biên độ dao động mực nước cực đại ∆h = 0,83 m; Hình 2).
II. CÁC NHÂN TỐ NHÂN TẠO ẢNH HƯỞNG ĐẾN NƯỚC DƯỚI ĐẤT
1. Khai thác nước dưới đất
Vùng nghiên cứu bị bao bọc bởi biển và hệ đầm phá, mạng lưới sông suối gần như không có,

/giờ, một ngày khai thác 16 giờ, tương
đương 2400 m
3
/ngày. Trong quá trình khai thác đã làm nhiễm mặn cục bộ tầng nước dưới đất tại
chỗ, dẫn đến các giếng khai thác nước dưới đất bị mặn và độ mặn tăng dần theo thời gian và độ
sâu. Các giếng khai thác nước dưới đất dân sinh trước đây trong vùng ở độ sâu 12-14 m là loại
nước nhạt (M = 0,2 – 0,25 g/l), nhưng sau khi Công ty Khoáng sản sử dụng nước biển để khai
thác titan, độ mặn trong các giếng khai thác tăng lên. Đến tháng 4/2005, ở một số giếng, độ mặn
của nước khá cao (M = 3-5 g/l) vượt giới hạn cho phép, không thể sử dụng cho ăn uống và sinh
hoạt nên phải giảm dần độ sâu khai thác so với mặt đất, đến tháng 12/2005, toàn bộ các giếng
trong vùng đều bị nhiễm mặn cao, không thể sử dụng được và chỉ khai thác tương đối đảm bảo ở
độ sâu 4 m so với mặt đất. Ở vùng địa hình thấp, nước dưới đất mặn tràn ra các vũng nước mặt,
nơi cấp nước cho nông nghiệp, đã làm hư hỏng 10,3 ha lúa vào tháng 5/2006.
Trước tình hình sử dụng nước mặn khai thác sa khoáng làm nhiễm mặn tầng nước dưới đất
trong vùng, từ 12/2005 đến nay, Công ty Khoáng sản chuyển sang sử dụng nước dưới đất bằng
hệ thống giếng UNICEF (gồm 18 giếng, độ sâu giếng 12-14 m, cách biển 100 m) để tách sa
khoáng. Do hệ thống giếng bố trí trong diện hẹp, lưu lượng khai thác lớn, gần biên mặn nên bán
kính ảnh hưởng của hệ thống lan đến biên mặn làm thay đổi chất lượng nước dưới đất tại vùng
khai thác theo hướng tăng độ mặn (khảo sát ngày 30/5/2006, nước dưới đất do công ty khai thác
có hàm lượng NaCl là 260 mg/l đạt yêu cầu sử dụng cho sinh hoạt, nhưng đến 25/11/2006, hàm
lượng NaCl tăng lên là 500 mg/l, không thể sử dụng được).
Chính các vấn đề nêu trên trong khai thác nước dưới đất đã làm cho trữ lượng nước dưới đất
ngày càng giảm sút và độ tổng khoáng hoá của nước một số vùng tăng cao.
Bảng 3. Bảng tổng hợp các hình thức khai thác nước dưới đất
Số TT Mục đích khai thác Dạng công trình Số lượng
Lưu lượng khai
thác (m
3
/ngày)
1 Dân sinh Giếng khoan đơn 9490 4600

bẩn nước dưới đất do thấm rỉ qua lớp vải địa kỹ thuật, việc che phủ bề mặt để nuôi tôm trên cát
đã làm cho 31.300 người không có nguồn nước để dùng.
3. Các nghĩa trang và các công trình vệ sinh
Trong vùng nghiên cứu tồn tại các dải cát với độ cao khá lớn so với xung quanh, có khá nhiều
diện tích được sử dụng làm nghĩa trang. Tại các vùng này, thành phần thạch học đới thông khí và
tầng chứa nước là cát nguồn gốc biển-gió, nên các nghĩa trang với diện tích lớn (do sự phân huỷ
của xác người sau khi an táng) sẽ làm biến đổi mạnh chất lượng của nước dưới đất. Mặc khác,
quá trình bê tông hoá các nghĩa trang ngày càng nhiều cũng là một nhân tố làm giảm lượng cung
cấp của nước mưa cho nước dưới đất. Điều đó cho thấy sự phát triển các nghĩa trang trong vùng
phần nào làm giảm chất và lượng của nước dưới đất.
Do mức sống của dân cư trong vùng nghiên cứu thấp, nên hầu hết các gia đình đều có hoặc
không có các nhà vệ sinh hợp quy cách (hố xí tự huỷ), chúng chủ yếu là các hố đào thô sơ và thải
vào đới thông khí, khi nước mưa thấm xuống tầng nước dưới đất một lượng chất thải đi theo đã
làm nhiễm bẩn tầng nước dưới đất.
Qua đó ta thấy sự phát triển các nghĩa trang, sự thiếu hiểu biết và thiếu bảo vệ nguồn nước
trong phần lớn cư dân của vùng là một nhân tố góp phần vào việc làm giảm chất lượng nguồn
nước dưới đất (nguồn cung cấp nước duy nhất của vùng).
IV. KẾT LUẬN
Sự phân tích các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng nước dưới đất trong vùng ven biển
Thừa Thiên - Huế cho thấy:
- Các nhân tố tự nhiên cơ bản ánh hưởng đến nước dưới đất là lượng mưa, lượng bốc hơi, địa
hình. Lượng mưa là nhân tố đóng vai trò quan trọng nhất trong việc cung cấp cho nước dưới đất,
làm tăng trữ lượng và giảm độ khoáng hoá của nước. Lượng bốc hơi lại có vai trò ngược lại, làm
giảm trữ lượng nước dưới đất và tăng độ khoáng hoá của nước (nhất là tăng độ khuếch tán của
nước mặn ở các biên cung cấp). Nhân tố địa hình, địa mạo có tác động làm thay đổi những đặc
điểm địa chất thuỷ văn, dẫn đến thay đổi trữ lượng, chất lượng và động thái của nước dưới đất.
- Các nhân tố nhân tạo hiện tại trong vùng như khai thác nước (phục vụ dân sinh, khai khoáng
và nuôi trồng thuỷ sản), nuôi trồng thuỷ sản, các nghĩa trang và nhà vệ sinh có tác động mạnh mẽ
và một phần nào đã làm thay đổi theo chiều có hại về chất lượng và trữ lượng nước dưới đất
trong vùng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status