Về tính đa dạng
sinh học v
ùng Ba tơ
- Đức Phổ (p-1)
Trước đây vùng Ba Tơ - Đức
Phổ, tỉnh Quảng Ngãi là nơi có
tính đa dạng sinh học khá cao,
nhưng do nhiều nguyên nhân
khác nhau nên đến nay tính đa
dạng sinh học nơi đây đã bị giảm
sút nghiêm trọng. Những kiến
nghị của tác giả nhằm bảo tồn
tính đa dạng sinh học trong vùng
là rất đáng quan tâm đối với các
cơ quan chức năng, đặc biệt là
các cấp chính quyền v
à nhân dân
địa phương.
Vùng Ba Tơ - Đức Phổ là các
huyện tận cùng phía tây - nam của
tỉnh Quảng Ngãi. Đây cũng l
à vùng
bán sơn đ
Việt Nam của Thái Văn Trừng
(1978), rừng vùng Ba Tơ trước đây
thuộc kiểu rừng kín thường xanh
mưa mùa nhiệt đới. Tuy nhiên, do
quá trình tác động lâu dài, do chiến
tranh, do khai thác, chặt phá rừng
của con người mà từ kiểu rừng kín
thường xanh mưa mùa nhiệt đới
trong khu vực đã phân hóa thành
các hệ sinh thái và sinh cảnh khác
nhau. Ngoại trừ các khu rừng già
nguyên sinh còn sót lại tại vài đỉnh
núi cao ở phía tây - nam huyện Ba
Tơ, phần còn lại của khu vực
nghiên cứu có thể chia thành các
loại thảm thực vật sau:
· Thảm thực vật thứ sinh: Phần
lớn rừng phía tây - nam khu vực
(Ba Tơ, Mộ Đức, Đức Phổ) bị tàn
phá mạnh và hiện nay đang độ
phục hồi. Rừng thứ sinh được hình
thành với thành ph
ần thực vật phức
tạp, gồm các loài cây thân gỗ, thân
thảo đủ các cỡ chiều cao, các cấp
đường kính, nhiều dây leo, tạo nên
một cấu trúc hỗn độn, phân tầng
cây không rõ rệt. Thành phần các
loài cây chủ đạo thuộc các họ
Khảo sát trảng cây này ở vùng núi
Ba Tơ và Đức Phổ chúng tôi thấy
thành phần chủ yếu tạo nên chúng
trước hết là họ Poaceae, mà đại
diện ưu thế là các loài: Impereta
cylindrica, Chrysopogon aciculatus,
Eupatorium odoralum Ưu hợp
phát triển mạnh vào mùa mưa chủ
yếu là các loài cây cỏ tranh
(Impereta cylindrica) và cỏ lào
(Eupatorium odoratum); sau đó kéo
theo những cây ưa sáng chịu hạn
như: Sida corlfolia, Urena lobata,
Melaa sp., Randia sp.
Thảm cỏ và cây bụi được xem như
các quần xã tiên phong trong các
dạng hệ sinh thái này. Nhờ chúng
phát triển mà giữ được độ ẩm cho
đất, tạo điều kiện cho các loài cây
gỗ khác sinh trưởng.
Nhìn chung các tr
ảng cỏ, cây bụi có
mật độ cây rất lớn, nhưng số loài
lại rất nghèo. Do đó việc khôi phục
lại thảm cây rừng ở những khu vực
nương rẫy bỏ hoang là r
ất khó khăn
và lâu dài.
phát triển trên cơ sở cạnh tranh với
các cây trồng phủ đồi, cây lương
thực, cây màu của nhân dân trong
vùng. Thực vật hoang dại còn lại là
những cây bụi như loài me
(Tarmarindus indicus), mua
(Melastoma dodecandrum), lau
(Saccharum arundinaeum). Các cây
thân gỗ có giá trị chỉ gặp các loài
xoan (Archis hypogaca), bời lời
(Lisea umbellata) với số lượng
không nhiều. Các cây hoang dại
thuộc họ Poaceae, Arteracae h
ình
thành nên thảm che phủ bề mặt l
àm
tăng độ ẩm, chống xói mòn và tạo
màu xanh cho vùng đất.
Đáng kể nhất là các loài cây trồng
v
ới nhiều mục đích khác nhau. Cây
trồng lấy gỗ và tạo tán cho vùng
đồi là các loài phi lao (Casuarina
equisetifolia), bạch đàn trắng
(Eucalyptus camphora), bạch đàn
cú (Eucalyptus camaldulensis),
tràm hoa vàng (Melalenca
leucadendra), Nhiều loài cây ăn
quả và cây màu của nhân dân trong
ven Biển Đông. Đó là những việc
làm rất thiết thực, cần phải tăng
cường nhằm góp phần bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên, bảo vệ nguồn
gen đa dạng sinh học và b
ảo vệ môi
trường sống.