Chuyên mục tăng trưởng và phát triển kinh tế - Pdf 16

Trờng Đại học Kinh tế quốc dân
Chuyên mục Tăng trởng và phát triển kinh
tế
A. Tng quan Nghiờn cu:

Tình hình sản xuất kinh doanh tháng 11 năm 2010

Tin vắn
* Tỡnh hỡnh sn xut kinh doanh thỏng 11 v 11 thỏng
u nm 2010
1. ỏnh giỏ chung
Tng sn phm trong nc (GDP) mi mt thỏng u nm 2010 tip tc
t c tc tng trng khỏ. Vi mc tng trng nh hin ti, nm 2010
tc tng trng GDP c nm d kin s t mc 6,5%.
Tuy nhiờn, tỡnh hỡnh kinh t - xó hi thỏng 11 ó cú nhng din bin phc
tp, giỏ c hng húa, dch v tng mnh v cú xu hng tip tc tng vo dp
cui nm v Tt Nguyờn ỏn, gõy khú khn cho sn xut v i sng; t giỏ,
giỏ vng tng cao gõy tõm lý lo lng trong xó hi; lói sut cho vay cao nh
hng n cỏc hot ng sn xut, kinh doanh...
Ch s giỏ tiờu dựng thỏng 11/2010 tng 1,86% so vi thỏng trc, õy l
mc tng khỏ cao k t u nm, ch sau mc tng 1,96% ca thỏng Hai l
thỏng Tt Nguyờn ỏn Canh Dn. Nguyờn nhõn ch yu lm ch s giỏ tiờu
dựng thỏng 11 tng cao l do nhúm hng n v dch v n ung cú ch s giỏ
tng cao nht vi 3,45%, (lng thc tng 6,02%; thc phm tng 3,27%).
Tip n l nh v vt liu xõy dng tng 1,74%. Riờng nhúm bu chớnh vin
thụng cú ch s giỏ gim 0,03%.
Ch s giỏ tiờu dựng thỏng 11/2010 so vi thỏng 12/2009 tng 9,58%; so
vi cựng k nm trc tng 11,09%. Tớnh bỡnh quõn 11 thỏng nm nay, ch s
giỏ tiờu dựng tng 8,96% so vi cựng k nm 2009.
Ch s giỏ vng thỏng 11/2010 tng 8,67% so vi thỏng trc; tng
23,31% so vi thỏng 12/2009 v tng 36,24% so vi cựng k nm 2009. Ch s

thao tăng 20,2%; tủ lạnh, tủ đá tăng 18,8%; quần áo người lớn tăng 18,7%;
kính thủy tinh tăng 18,3%; khí đốt thiên nhiên dạng khí tăng 18%; xi măng tăng
14,9%; xe máy tăng 14,8%. Một số sản phẩm tăng khá là: Giấy, bìa tăng
12,3%; nước máy thương phẩm tăng 12%; xà phòng tăng 10,3%; thủy hải sản
chế biến tăng 10,2%; phân hóa học tăng 8,6%; điều hòa nhiệt độ tăng 7,8%.
Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm là: Xe chở khách và thép tròn cùng tăng
4,5%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo tăng 4,2%; lốp ô tô, máy kéo
tăng 3,1%; gạch lát ceramic tăng 1,2%; than đá giảm 0,6%; dầu thực vật tinh
luyện giảm 1,8%; đường kính giảm 7,4%; tivi giảm 9%; dầu mỏ thô khai thác
giảm 11,5%.
Chỉ số tiêu thụ chung của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mười
tháng năm nay so với cùng kỳ năm 2009 tăng 10,8%, trong đó một số ngành
sản xuất có chỉ số tiêu thụ tăng cao là: Đồ uống không cồn tăng 39,5%; các sản
phẩm bơ, sữa tăng 32,8%; gạch, ngói và gốm, sứ không chịu lửa tăng 31,8%;
các sản phẩm khác bằng kim loại tăng 24,6%; bia tăng 20,6%; xi măng tăng
17,5%; sản xuất giày, dép tăng 17,4%. Một số ngành sản xuất có chỉ số tiêu thụ
mười tháng tăng chậm hoặc giảm như: Sắt, thép tăng 8,2%; phân bón và hợp
chất nitơ tăng 6,9%; bột giấy, giấy và bìa tăng 5,3%; sợi và dệt vải tăng 4,9%;
2
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n
chế biến, bảo quản thủy sản tăng 3,8%; thuốc, hoá dược tăng 2,7%; sản phẩm
từ kim loại đúc sẵn tăng 2,3%; thuốc lá, thuốc lào tăng 2,2%; chế biến và bảo
quản rau quả tăng 0,4%; mỹ phẩm, xà phòng, chất tẩy rửa giảm 0,8%; xay xát,
sản xuất bột thô giảm 3,2%; thiết bị gia đình giảm 3,4%; giấy nhăn và bao bì
giảm 3,9%; xe có động cơ giảm 12,4%; đường giảm 13,7%; đồ gốm, sứ không
chịu lửa giảm 36,9%.
Cũng trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, chỉ số tồn kho tại thời
điểm 01/10/2010 của một số sản phẩm công nghiệp tăng cao so với cùng thời
điểm năm 2009 là: Cáp đồng trục có bọc tăng 413,5%; động cơ tăng 287,5%;
sữa tươi tiệt trùng tăng 197,9%; đồ uống không ga tăng 188,7%; giày, dép vải

Th«ng tin kinh tÕ – x· héi
của một số tỉnh nhưng năm nay do không bị ảnh hưởng nặng của sâu bệnh
nên năng suất lúa mùa của các địa phương phía Bắc ước tính đạt 47,8 tạ/ha,
tăng 0,4 tạ/ha so với vụ mùa trước; sản lượng đạt 5,7 triệu tấn, tăng 19,6 nghìn
tấn. Tại phía Nam, nhiều địa phương đã chủ động chuyển đổi phần diện tích
lúa mùa thường bị ảnh hưởng của mưa lũ sang vụ hè thu và đông xuân nên
năng suất lúa mùa của các địa phương ước tính đạt 42 tạ/ha, tăng 1,9 tạ/ha so
với vụ mùa trước.
Các địa phương phía Bắc, cùng với việc thu hoạch lúa mùa, đã gieo trồng
được 155,5 nghìn ha ngô, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước; 45,7 nghìn ha
khoai lang, tăng 2,4%; 92,9 nghìn ha đậu tương, tăng 16,6%; 6,9 nghìn ha lạc,
giảm 6,5%; 111,3 nghìn ha rau đậu, tăng 2,1%.
Các tỉnh phía Nam, đến trung tuần tháng 11, đã gieo sạ được 379,1 nghìn
ha lúa đông xuân, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng
bằng sông Cửu Long đạt 300,7 nghìn ha, tăng 34,4%. Một số địa phương có tiến
độ gieo sạ nhanh là: Đồng Tháp tăng 103,5%; Kiên Giang tăng 63%.
b) Chăn nuôi
Theo kết quả sơ bộ điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/10/2010 đàn trâu
cả nước có 2,9 triệu con, tăng 2% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò có
5,9 triệu con, giảm 3,1%, chủ yếu do diện tích thả nuôi bị thu hẹp; đàn lợn có
27,4 triệu con, giảm 1% do ảnh hưởng của dịch bệnh tai xanh xuất hiện ở hầu
hết các địa phương; đàn gia cầm 301 triệu con, tăng 7,5%.
Giá thịt lợn hơi trên thị trường đang có xu hướng tăng lên, cùng với nhu
cầu thực phẩm cuối năm đáp ứng tiêu dùng của dân cư trong dịp Tết Nguyên
đán đang khuyến khích các hộ đầu tư mở rộng quy mô đàn lợn.
Tình hình dịch bệnh
Công tác phòng, chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm tại các địa
phương tiếp tục được tăng cường.
- Dịch cúm gia cầm: đến 30/11 cả nước cả nước còn 02 tỉnh là Nam Định
và Nghệ An có dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày

Tính chung 11 tháng, sản lượng thủy sản cả nước ước tính đạt 4682,5
nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản
nuôi trồng đạt 2488 nghìn tấn, tăng 4,9%; sản lượng thủy sản khai thác đạt
2194,5 nghìn tấn, tăng 4,7% (khai thác biển đạt 2017,6 nghìn tấn, tăng 4,9%).
Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng tháng 11 ước tính đạt 235,5 nghìn tấn,
tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó cá 181 nghìn tấn, tăng 6,5%; tôm
40,5 nghìn tấn, tăng 6,6%. Mặc dù sản lượng thủy sản nuôi trồng cả nước tăng
nhưng mưa lũ lớn xảy ra tại khu vực miền Trung đã ảnh hưởng đến nuôi trồng
thủy sản của một số địa phương, trong đó Hà Tĩnh bị ngập 3914 ha diện tích
thả nuôi, làm thiệt hại 864 tấn thủy sản; Quảng Bình bị ngập trên 1600 ha nuôi
tôm và cá; Ninh Thuận bị trôi 260 ha đìa tôm.
Trong nuôi trồng thủy sản, nuôi cá tra còn gặp khó khăn do chi phí đầu
vào vẫn ở mức cao, lợi nhuận thấp nên không khuyến khích người dân mở
rộng diện tích thả nuôi. Trong tháng, một số địa phương có diện tích thả nuôi cá
tra giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước là: Cần Thơ giảm 20%; Đồng Tháp
giảm 7,5%; Bến Tre giảm 6,5%. Giá cá tra đang có xu hướng tăng cao do sản
lượng không đáp ứng được nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất phục vụ tiêu
dùng cuối năm.
Ngược lại, nuôi tôm sú đang phát triển khá ổn định, dịch bệnh xảy ra ít
nên năng suất thu hoạch đạt khá. Hầu hết các địa phương đều duy trì được
diện tích thả nuôi. Tính từ đầu năm, diện tích nuôi tôm sú tại Cà Mau ước tính
đạt 254 nghìn ha, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước; Bạc Liêu 122 nghìn ha,
tăng 1,7%; Trà Vinh 22 nghìn ha, tăng 7,9%.
5
Th«ng tin kinh tÕ – x· héi
Sản lượng thủy sản khai thác tháng 11/2010 ước tính đạt 206,1 nghìn tấn,
tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó khai thác biển 190,6 nghìn tấn,
tăng 5,3%. Sản lượng thủy sản khai thác tăng khá chủ yếu do giá tiêu thụ
tương đối ổn định, cùng với chính sách của Nhà nước hỗ trợ đóng mới và cải
hoán tàu đã khuyến khích ngư dân tranh thủ thời tiết thuận lợi, tích cực ra khơi

- Tháng 11/2010: Lượng khách đến Việt Nam du lịch, nghỉ ngơi là 246.041
lượt người, tăng 8,5% so với cùng kỳ 2009; khách đến vì công việc là 88.762 lượt
người, tăng 12,2% so với cùng kỳ 2009; khách đến thăm thân nhân là 49.757 lượt
6
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n
người, tăng 43,2% so với cùng kỳ 2009; khách đến vì các mục đích khác là 43.735
lượt người, tăng 56,5% so với cùng kỳ 2009.
- Ước tính 11 tháng đầu năm 2010: Lượng khách đến Việt Nam du lịch, nghỉ
ngơi là 2.851.726 lượt người, tăng 42,3% so với cùng kỳ 2009; khách đến vì công
việc là 932.486 lượt người, tăng 39,3% so với cùng kỳ 2009; khách đến thăm thân
nhân là 520.241 lượt người, tăng 10,7% so với cùng kỳ 2009; khách đến vì các
mục đích khác là 295.832 lượt người, tăng 31,0% so với cùng kỳ 2009.
Trong 11 tháng đầu năm, tất cả các thị trường khách đều tăng so với cùng kỳ
năm 2009, cụ thể: tăng nhiều nhất là khách từ Cămpuchia: 99,9%, từ Trung Quốc
tăng 76,7%, từ Thái Lan tăng 42,6%, từ Hàn Quốc tăng 38,0%, từ Úc tăng 31,0%,
từ Malaysia tăng 29,1%, từ Đài Loan tăng 25,0%, từ Nhật tăng 22,8%, từ Pháp
tăng 15,5%, từ Mỹ tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2009.
4.2 Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 tháng năm
2010 ước tính đạt 1425,2 nghìn tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2009, nếu
loại trừ yếu tố giá thì tăng 14,7%. Trong đó, kinh doanh thương nghiệp đạt 1121,9
nghìn tỷ đồng, tăng 25,4%; khách sạn, nhà hàng đạt 157,6 nghìn tỷ đồng, tăng
22,3%; dịch vụ đạt 131,4 nghìn tỷ đồng, tăng 23,9%; du lịch đạt 14,2 nghìn tỷ
đồng, tăng 30,8%.
Nhìn chung, trong 11 tháng qua, sức mua và tiêu dùng toàn xã hội tăng cao
hơn so với cùng kỳ 2009. Nhiều mặt hàng thiết yếu trên thị trường như sắt thép, xi
măng, phân bón, lương thực, hàng tiêu dùng, thực phẩm… sức mua đã tăng rất
cao trong thời điểm hiện nay
4.3. Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2010 tăng 1,86% so với tháng trước, đây là

khách.km, tăng 5,1%; đường sắt đạt 10,4 triệu lượt khách, tăng 4,2% và 3,8 tỷ
lượt khách.km, tăng 6,4% .
Vận tải hàng hóa 11 tháng ước tính đạt 649,3 triệu tấn, tăng 12,4% và
200,9 tỷ tấn.km, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vận tải trong
nước đạt 605,9 triệu tấn, tăng 12,5% và 57,7 tỷ tấn.km, tăng 10,2%; vận tải
ngoài nước đạt 43,4 triệu tấn, tăng 11,2% và 143,2 tỷ tấn.km, tăng 8,6%. Vận
tải hàng hoá đường bộ đạt 484,3 triệu tấn, tăng 13,5% và 26,6 tỷ tấn.km, tăng
14,7%; đường sông đạt 108,4 triệu tấn, tăng 5,1% và 17,3 tỷ tấn.km, tăng 1%;
đường biển đạt 49,3 triệu tấn, tăng 21% và 153,1 tỷ tấn.km, tăng 10,2%; đường
sắt đạt 7,1 triệu tấn, giảm 5% và 3,5 tỷ tấn.km, tăng 1%.
4.5. Bưu chính, viễn thông
Số thuê bao điện thoại phát triển mới từ đầu năm đến hết tháng 11/2010
đạt 38,1 triệu thuê bao, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2009, bao gồm 786,5
nghìn thuê bao cố định, giảm 44,3% và 37,3 triệu thuê bao di động, tăng 8,1%.
Số thuê bao điện thoại cả nước tính đến cuối tháng 11/2010 ước tính đạt 163,7
triệu thuê bao, tăng 39,7% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 16,4
triệu thuê bao cố định, tăng 6% và 147,3 triệu thuê bao di động, tăng 44,8%. Số
thuê bao điện thoại của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông tính đến cuối tháng
11/2010 ước tính đạt 86,6 triệu thuê bao, tăng 35,8% so với cùng thời điểm
năm trước, bao gồm 11,7 triệu thuê bao cố định, tăng 2,4% và 74,9 triệu thuê
bao di động, tăng 43,1%.
Số thuê bao internet trên cả nước tính đến cuối tháng 11/2010 ước tính
đạt 3,7 triệu thuê bao, tăng 29,1% so với cùng thời điểm năm 2009, trong đó
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông đạt 2,6 triệu thuê bao, tăng 25,5%. Số người
sử dụng internet tính đến cuối tháng 11/2010 đạt 27,3 triệu người, tăng 21,3%
8
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n
so với cùng thời điểm năm trước. Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông
11 tháng năm 2010 ước tính đạt 119,7 nghìn tỷ đồng, tăng 26,8% so với cùng
kỳ năm trước, trong đó Tập đoàn Bưu chính Viễn thông đạt 76,9 nghìn tỷ đồng,

Từ ngày 15/10, các công ty sản xuất, kinh doanh xi măng đã tăng giá bán
50 nghìn đồng/tấn (riêng Công ty Cổ phần Xi măng Hà Tiên 1 tăng 80 nghìn
đồng/tấn) so với mức điều chỉnh ngày 11/8 và được giữ ổn định cho đến nay.
9
Th«ng tin kinh tÕ – x· héi
Trên thị trường, giá xi măng ổn định so cùng kỳ tháng trước, tại các tỉnh
phía Bắc ở mức 920 nghìn đên 1 triệu đồng/tấn; tại các tỉnh phía Nam ở mức
1,24-1,34 triệu đồng/tấn.
4.7. Xuất, nhập khẩu hàng hóa
4.7.1 Xuất khẩu
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 11/2010 ước tính đạt 6,5 tỷ USD,
tăng 3,6% so với tháng trước và tăng 35,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính
chung 11 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 64,3 tỷ USD, tăng 24,5% so
với cùng kỳ năm 2009, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 29,5 tỷ USD,
tăng 21,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 34,8 tỷ USD, tăng 27%, nếu
không kể dầu thô thì đạt 30,3 tỷ USD, tăng 40,3%.
Trong 11 tháng năm 2010, nhiều mặt hàng xuất khẩu vẫn duy trì được kim
ngạch xuất khẩu tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Hàng dệt may đạt 10 tỷ
USD, tăng 22,6%; giày dép đạt 4,5 tỷ USD, tăng 25,3%; thủy sản đạt 4,5 tỷ
USD, tăng 16,3%; điện tử máy tính đạt 3,2 tỷ USD, tăng 28,5%; gỗ và sản
phẩm gỗ đạt 3 tỷ USD, tăng 33,1%; gạo đạt 2,9 tỷ USD, tăng 15,8%; máy móc
thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 2,8 tỷ USD, tăng 51,3%; cao su đạt 2 tỷ USD,
tăng 92,8%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 1,4 tỷ USD, tăng 64,4%; dây
điện và dây cáp điện đạt 1,2 tỷ USD, tăng 53,8%; hạt điều đạt 1 tỷ USD, tăng
32,4%; sản phẩm từ chất dẻo đạt 937 triệu USD, tăng 28,6%; sắt thép đạt 909
triệu USD, tăng 179,1%. Riêng dầu thô do giảm lượng xuất khẩu để cung cấp
cho nhà máy lọc dầu Dung Quất nên kim ngạch xuất khẩu 11 tháng chỉ đạt 4,5
tỷ USD, giảm 22,6% so với cùng kỳ năm trước (lượng giảm 42,2%).
Một số mặt hàng xuất khẩu mặc dù lượng xuất khẩu giảm mạnh nhưng đơn
giá bình quân tăng nên kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm 2009 là: Than

đạt 12,1 tỷ USD, tăng 7,6%; sắt thép đạt 5,6 tỷ USD, tăng 14,7%; vải đạt 4,8 tỷ
USD, tăng 26,1%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 4,6 tỷ USD, tăng 31,5%; chất
dẻo đạt 3,4 tỷ USD, tăng 33%; nguyên, phụ liệu dệt may, giày dép đạt 2,4 tỷ
USD, tăng 36,4%; kim loại thường đạt 2,3 tỷ USD, tăng 61,9%; hóa chất đạt 1,8
tỷ USD, tăng 25,3%; sản phẩm hóa chất đạt 1,8 tỷ USD, tăng 30,2%. Nhập khẩu
ô tô đã có xu hướng giảm, kim ngạch 11 tháng đạt 2,6 tỷ USD, giảm 3,9% so với
cùng kỳ năm trước (trong đó ô tô nguyên chiếc đạt 836 triệu USD, giảm 22,4%).
Trong mười tháng năm 2010, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn
nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 15,9 tỷ USD, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm
2009 (Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 3,6 tỷ USD; vải 1,8 tỷ USD; máy
tính và linh kiện 1,3 tỷ USD; sắt thép 1,3 tỷ USD); ASEAN đạt 13,1 tỷ USD, tăng
22% (Xăng dầu đạt 2,4 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng 802 triệu
USD); Hàn Quốc đạt 7,6 tỷ USD, tăng 39,8% (Sắt thép đạt 945 triệu USD; vải 894
triệu USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng 659 triệu USD); Nhật Bản đạt 7,2 tỷ
USD, tăng 22,4% (Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 2 tỷ USD; sắt thép 966
triệu USD); EU đạt 5 tỷ USD, tăng 11,6% (Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt
1,6 tỷ USD).
Nhập siêu hàng hóa tháng 11/2010 ước tính 1,25 tỷ USD, bằng 19,4%
kim ngạch xuất khẩu. Tính chung 11 tháng, nhập siêu hàng hóa đạt 10,66 tỷ
USD, giảm 2,5% so với mức nhập siêu cùng kỳ năm trước và bằng 16,6% kim
ngạch xuất khẩu. Nếu loại trừ xuất khẩu vàng và các sản phẩm vàng, nhập siêu
11 tháng ước tính 13,48 tỷ USD, bằng 21% kim ngạch xuất khẩu.
11
Th«ng tin kinh tÕ – x· héi
* Tin vắn
1. GS.Michael Porter: Tư nhân phải là khu vực dẫn đầu nền kinh tế
"Tư nhân phải là khu vực dẫn đầu trong phát triển nền kinh tế, Nhà
nước phải nhìn nhận nó như là một tài sản cực kỳ quan trọng", GS
Michael Porter nhấn mạnh tại Hội thảo công bố báo cáo năng lực cạnh
tranh Việt Nam sáng nay (30/11).

Porter nhấn mạnh.
12
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n
Khu vực Tư nhân là tài sản cực kỳ quan trọng
Thừa nhận thực tế các DNNN vẫn là một bộ phận quan trọng của nền kinh
tế Việt Nam và sẽ vấn tiếp tục giữ vai trò này trong thời gian tới nhưng GS cho
rằng cách tiếp cận chính sách hiện nay trong quản lý DNNN không tạo ra được
các doanh nghiệp mạnh, có năng lực cạnh tranh cao nhưng mong đợi ban đầu
của các nhà hoạch định chính sách.
"Cách tiếp cận chính sách mới cần tách biệt vai trò của Chính phủ với tư
cách là chủ sở hữu với vai trò quản lý điều tiết và ra quy định, cùng với đó phải
xây dựng và thực thi các tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp hiện đại đối với các
DNNN", ông nhấn mạnh.
Ngoài ra, GS cũng nói thêm rằng các DNNN cần phải tuân thủ các quy
định chặt chẽ về công bố thông tin như các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là
thông tin về kết quả tài chính của doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động, các mối
liên hệ về tài chính với Chính phủ..."
Cũng theo GS Michael Porter, Việt Nam cần thay đổi từ việc chỉ tập trung
vào khu vực DNNN và FDI sang sự kết hợp do thị trường điều chỉnh giữa
doanh nghiệp tư nhân trong nước, FDI và các DNNN được cải cách.
Theo đó, cần có sự cạnh tranh bình đẳng giữa các khu vực, từ đó cho
phép những doanh nghiệp có đóng góp nhiều nhất vào sự thịnh vượng và hiệu
quả của nền kinh tế được phát triển.
"Tôi tin Tư nhân phải là khu vực dẫn đầu trong phát triển nền kinh tế, Nhà
nước phải nhìn nhận nó như là một tài sản cực kỳ quan trọng để dẫn dắt và
thúc đẩy sự cải thiện năng lực cạnh tranh", GS Michael Porter nhấn mạnh.
Theo GS, thảo luận chính sách hiện nay của Việt Nam thường tập trung
vào quan điểm chính trị về sở hữu nhưng thực ra cấu trúc thị trường, gồm
những yếu tố như mức độ cạnh tranh, quan trọng hơn nhiều so với yếu tố sở
hữu trong việc quyết định năng suất của một doanh nghiệp.

Hội đồng năng lực cạnh tranh nói riêng.
"Chúng tôi sẽ báo cáo lên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và sẽ có những
bàn bạc cụ thể đổi với những đề xuất này", ông Hoàng Trung Hải khẳng định.
2. Mô hình tăng trưởng của Việt Nam đang mất dần động lực
(VEF) - "Nếu Việt Nam không vượt qua được cách thức tăng trưởng
hiện nay, quốc gia sẽ bị tắc ở mức thu nhập trung bình thấp và phải đối
mặt với sự cạnh tranh từ các nước thu nhập thấp hơn mới trỗi dậy".
Trong khi đó, việc quá phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài để gia tăng
đầu tư nhằm tạo tăng trưởng sẽ tạo ra các mất cân đối vĩ mô nguy hiểm và có
thể dẫn tới khủng hoảng.
Đó là những cảnh báo đáng suy nghẫm từ Báo cáo Năng lực cạnh tranh
Việt Nam 2010, do Học viện Năng lực cạnh tranh châu Á (Singapore) hợp tác
với Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) thực hiện dưới sự
chỉ đạo nội dung của GS. Michael Porter - chuyên gia uy tín trong lĩnh vực cạnh
tranh tới từ Trường Kinh doanh Harvard - được công bố hôm qua 30/11.
Ba mất cân đối vĩ mô không thể xem thường
Theo phân tích của Báo cáo, hiện Việt Nam đang đối mặt với ba mất cân
đối kinh tế vĩ mô khá nghiêm trọng.
14
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n
Đầu tiên là lo lắng về thâm hụt thương mại đang ngày càng tăng: "Mặc dù
được coi là một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, Việt Nam đang nhập khẩu
nhiều hơn xuất khẩu một cách có hệ thống".
Cùng với đó là quan ngại về khả năng trang trải các thâm hụt đối ngoại
của Việt Nam ngày càng tăng với mức nợ công tăng lên và dự trữ ngoại hối
giảm đi đáng kể, ảnh hưởng tới triển vọng của nền kinh tế.
Một điểm nữa cũng được nhóm nghiên cứu nhắc đến là tỷ lệ lạm phát của
Việt Nam trong những năm qua ngày càng dao động mạnh, với xu hướng tăng
lên đáng kể. Những dòng vốn ngoại lớn đổ vào cùng với tăng trưởng tín dụng
trong nước đã gây ra áp lực đáng kể đối với lạm phát.

"Đến nay, trọng tâm của chính sách chủ yếu tập trung vào gia tăng đầu tư,
nhất là đầu tư vào DNNN và cơ sở hạ tầng để tạo ra tăng trưởng hơn là dựa
trên năng suất và hiệu quả", báo cáo đưa ra nhận định.
Phân tích cũng cho thấy tăng trưởng hiện tại của Việt Nam đang dựa trên
một mô hình kinh tế mà dư địa còn lại không nhiều. Với mô hình này, mức độ
phồn thịnh cao nhất mà Việt Nam có thể đạt tới sẽ bị giới hạn bởi mức năng
suất mà các lao động sản xuất chế biến, chế tạo.
Từ những nghiên cứu của mình, nhóm nghiên cứu cho rằng cách tiếp cận
chính sách hiện nay vẫn dựa vào việc xây dựng các DNNN trở thành các tập
đoàn anh cả của quốc gia, cấp tín dụng cho các công ty riêng lẻ và xây dựng
những khu vực có hạ tầng hoàn chỉnh và chuyên biệt.
Cách tiếp cận chính sách mới cần tập trung vào các cụm ngành thay vì
các công ty riêng lẻ, "mục tiêu của chính sách là tăng năng suất chứ không
phải chỉ tăng lợi nhuận của một vài công ty đơn lẻ nào đó, Chính phủ cần
khuyến khích các doanh nghiệp trong cụm ngành cạnh tranh ở mức độ cao hơn
thay vì bảo hộ cho họ tránh khỏi áp lực cạnh tranh".
Điểm yếu phân cấp và phối hợp thực hiện
Một vấn đề nữa cũng rất được lưu ý là với quy mô và đặc điểm địa lý của
Việt Nam, việc phân bổ hợp lý, hiệu quả quyền hạn và trách nhiệm giữa chính
quyền trung ương và các địa phương là vô cùng quan trọng.
Lý do là vì các công ty bao giờ cũng có cơ sở sản xuất kinh doanh đặt tại
một địa phương nào đó, do đó họ sẽ chịu tác động tổng hợp của các hiệu ứng
chính sách từ cấp trung ương tới địa phương.
Nhưng thực tế là cơ cấu phân cấp và phối hợp hiện nay của Việt Nam
đang có nhiều điểm yếu, các vùng hay địa phương cần được khuyến khích
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình dựa trên những lợi thế và định vị đặc
thù của địa phương.
"Thay vì cạnh tranh, cần khuyến khích mạnh sự hợp tác, kết hợp và làm
lợi lẫn nhau giữa các tỉnh, nhất là các tỉnh trong cùng một vùng, thông qua các
chính sách phát triển cụm ngành", báo cáo đề xuất.

nhận môi trường kinh doanh năm 2010 tại Việt Nam. Theo ban tổ chức, bao
gồm Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Tài chính Quốc tế
(IFC), kết quả của báo cáo năm nay tương đối khả quan.
75% trong số 227 doanh nghiệp được hỏi cho biết đang có kế hoạch mở
rộng hoạt động tại Việt Nam. Điểm số được các doanh nghiệp "chấm" cho môi
trường kinh doanh cũng được nâng từ mức 2,28 của năm 2009 lên 2,52 điểm
(trên thang điểm 5).
Tuy nhiên, cảm nhận chung của doanh nghiệp về các điều kiện kinh
doanh tại Việt Nam chỉ dừng lại ở mức "tạm được", trong đó, các nhà đầu tư
nước ngoài có xu hướng kém lạc quan hơn so với các doanh nghiệp nội. Trong
số 14 lĩnh vực cụ thể của môi trường kinh doanh (tiếp cận thông tin, kinh tế vĩ
mô, hệ thống pháp luật...), Việt Nam cũng không nhận được điểm số trên trung
bình ở bất cứ một lĩnh vực nào.
Tiếp nối việc công bố báo cáo nói trên, lần lượt cộng đồng các nhà đầu tư
châu Âu, Mỹ, Australia và các doanh nghiệp trẻ Việt Nam đã có cơ hội đưa ra
quan điểm cũng như kiến nghị đối với Chính phủ về môi trường kinh doanh tại
Việt Nam. Trong đó, các đại diện doanh nghiệp bày tỏ sự quan ngại sâu sắc
nhất tới tình trạng bất ổn của kinh tế vĩ mô hiện nay.
17
Th«ng tin kinh tÕ – x· héi
Theo Chủ tịch Phóng thương mại Mỹ (AmCham) Hank Tomlinson, thành
công của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài thời gian qua phần lớn
được dựa vào kỳ vọng về một nền kinh tế - chính trị ổn định. Tuy nhiên, cách
tiếp cận của cơ quan chức năng đối với một số chính sách kinh tế, tiền tệ đã
gây ra các vấn đề về tín nhiệm và lòng tin.
AmCham cho rằng kỳ vọng của nhà đầu tư về giá trị tiền đồng hiện không
ổn định, do đồng tiền này liên tục bị mất giá. Điều này, theo ông Tomlinson,
điều này không chỉ ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng mà còn gây hệ lụy đối
với hầu hết các doanh nghiệp.
Chia sẻ quan điểm này, Chủ tịch Phòng thương mại châu Âu (EuroCham)

Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n
nguồn nhân lực cho Việt Nam. Tuy nhiên, các quy định cho phép tổ chức giáo
dục nước ngoài hoạt động tại Việt Nam hiện vẫn còn nhiều hạn chế.
Cũng liên quan đến vấn đề hành lang pháp lý, hầu hết các doanh nghiệp
đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ trong việc cải cách hệ thống thủ tục hành
chính. Tuy vậy, những tiến bộ đạt được vẫn còn chưa đạt được như kỳ vọng.
Một vấn đề quan trọng khác cũng được cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt
là các doanh nghiệp trẻ tại Việt Nam quan tâm là việc quản lý các khối doanh
nghiệp Nhà nước.
Đại diện Hội Doanh nhân trẻ TP HCM cho rằng yêu cầu đổi mới khối
doanh nghiệp quốc doanh, song song với việc tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân
tham gia sâu vào quá trình phát triển kinh tế đã trở nên vô cùng bức thiết. Hiệp
hội này cũng đề nghị cơ quan chức năng thúc đẩy hơn nữa quá trình cổ phần
hóa, tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, để tăng hiệu quả sử dụng vốn
cũng như giảm gánh nặng quản lý của Chính phủ.
Chăm chú lắng nghe ý kiến giãi bày của các doanh nghiệp trong suốt 4 giờ
thảo luận, Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư Võ Hồng Phúc tỏ ra tâm đắc với hầu
hết các vấn đề được nêu lên. Với tư cách là đồng Chủ tịch, đồng thời là đại
diện của Chính phủ tại Diễn đàn, Bộ trưởng cho biết sẽ tiếp thu đầy đủ các kiến
nghị được doanh nghiệp phản ánh.
Những kiến nghị này, theo Bộ trưởng, sẽ tiếp tục được xem xét trong quá
trình xây dựng chính sách, pháp luật nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động
của các doanh nghiệp, nhà đầu tư cũng như đảm bảo lợi ích quốc gia. Bản
tổng hợp ý kiến của các doanh nghiệp cũng sẽ được gửi tới Hội nghị Nhóm tư
vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) diễn ra trong 2 ngày 7-8/12 tới để tiếp
tục trao đổi, thảo luận.
4. Áp lực gia tăng lên ổn định vĩ mô
Tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ CG năm nay, những lo ngại về bất
ổn kinh tế vĩ mô, về vấn đề lòng tin suy giảm thậm chí được nêu ra thẳng
thắn và tập trung hơn so với các kỳ hội nghị năm 2008 và 2009, khi Việt

tháng đầu năm 2010). Có nghĩa là, báo cáo của Ngân hàng Thế giới nhận xét,
vấn đề ngoại hối của Việt Nam không chỉ xuất phát từ các bất ổn kinh tế vĩ mô,
mà còn là kết quả của sự suy giảm niềm tin của thị trường vào khả năng của
các cơ quan hữu quan trong việc khắc phục các bất ổn đó.
Bà Kwakwa nhận định: "Bản thân mục tiêu hoạch định chính sách của Việt
Nam dường như đã có thiên vị cố hữu, coi trọng mục tiêu tăng trưởng cao hơn
là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô."
Nhận xét thẳng thắn của Giám đốc Ngân hàng thế giới được hầu hết các
đối tác phát triển của Việt Nam chia sẻ. Trong bản tuyên bố chung của các đối
tác phát triển do Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB và Austrailia dẫn đầu được
phổ biến tại hội nghị, các nhà tài trợ yêu cầu chính phủ phải xem ổn định kinh
tế là điều kiện tiên quyết.
Các nhà tài trợ khuyến nghị, Việt Nam phải xây dựng một chính sách tiền
tệ rõ ràng trong dài hạn để có thể xếp hàng ngang với các nước láng giềng
trong ASEAN về mục tiêu lạm phát đang chỉ ở mức trung bình khoảng 2-4%.
Bên cạnh đó, các nhà tài trợ quốc tế yêu cầu Chính phủ cần củng cố tài
khóa bằng việc tăng cường giám sát các khoản chi tiêu công, nhất là với nhiều
doanh nghiệp nhà nước lớn đang tiến hành các hoạt động đầu tư và vay nợ
mang nhiều rủi ro và thiếu hiệu quả; cũng như giảm nợ công.
20
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n
Tuyên bố chung của các nhà tài trợ nhấn mạnh: "Việt Nam cần gửi đi một
tín hiệu rõ rằng với thị trường rằng, quốc gia nghiêm túc trong việc ổn định kinh
tế vĩ mô, dỡ bỏ áp lực đè nặng lên tiền đồng và duy trì tăng trưởng bền vững".
Tuy vậy, nhận định thẳng thắn nhất - như mọi khi - đến từ Quỹ tiền tệ quốc
tế, cơ quan chỉ duy trì những hoạt động mang tính hỗ trợ kỹ thuật cho Việt
Nam, thay vì cung cấp các khoản vay trị giá lớn.
Trưởng phòng Vụ Châu Á và Thái Bình Dương Quỹ Tiền tệ Quốc tế
Masato Miyazaki nói: "Chúng tôi tin rằng, sự bất ổn định của các điều kiện kinh
tế vĩ mô phần nhiều là do sự mất niềm tin của thị trường vào định hướng chính

21
Th«ng tin kinh tÕ – x· héi
Quan ngại trên lại được nêu ra trong bối cảnh hầu hết các quốc gia trong
khu vực đã dần trở lại quỹ đạo phát triển, với GDP tăng cao và CPI giảm nhiều
so với Việt Nam vào cuối năm 2010.
Mặc dù vậy, báo cáo của Chính phủ Việt Nam do Thứ trưởng Kế hoạch và
Đầu tư Cao Viết Sinh trình bày cho rằng, việc đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô là
một thách thức lớn, nhưng nhờ những biện pháp điều hành linh hoạt, phù hợp
nên tình hình "đã có bước cải thiện".
Bản báo có này không đề cập đến con số lạm phát lên tới 9,58% trong 11
tháng đầu năm nay mà Tổng cục thống kê công bố.
Tuy nhiên, trong thông điệp nhằm trấn an các nhà tài trợ quốc tế, Bộ
trưởng Kế hoạch và Đầu tư khẳng định, chính phủ đặt mục tiêu cho năm 2011
là tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.
Cũng như ông Phúc, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cam kết, Ngân hàng
Nhà nước sẽ điều hành chính sách tiền tệ "chủ động, linh hoạt và thận trọng"
nhằm mục tiêu hàng đầu là kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô trong
năm tới.
Nhìn nhận lại khả năng điều hành tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước,
Thống đốc khẳng định, tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng khoảng
25-27% trong năm nay là phù hợp với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, góp
phần hỗ trợ hai mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát.
Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận, lạm phát tăng cao trở lại, thâm hụt ngân
sách, đầu tư công và nợ công lớn, và đặc biệt cơ chế điều hành thiên về hỗ trợ
tăng trưởng là những thách thức cho Việt Nam.
5. Ngồi trên núi vàng, sao Việt Nam vẫn nghèo?
Nhìn về Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu và người dân quốc đảo
Singapore thường đặt câu hỏi, tại sao Việt Nam ngồi trên nhiều núi vàng
mà vẫn nghèo?
Đó là câu hỏi mà Ts Vũ Minh Khương, giảng viên trường Đại học Quốc gia

bao nhiêu khách, mà là mỗi ngày, du khách sẽ tiêu bao nhiêu tiền. "Người ta
chỉ tiêu dùng nhiều khi Việt Nam có sẵn nhiều hoạt động chất lượng cao, dịch
vụ tốt, nhiều sản phẩm hay để họ mua", chuyên gia về năng lực cạnh tranh, GS
Michael Porter phân tích. Thế nhưng, đó lại là điều Việt Nam hoàn toàn thiếu
sự đầu tư.
Câu chuyện Quảng Ninh không phải là ngoại lệ ở Việt Nam. Đến ngay cả
các tỉnh đồng bằng sông Hồng bây giờ cũng ngồi lo suy tính làm thế nào để
khai thác được bể than sông Hồng nằm ngay dưới vựa lúa, điều nhiều nơi khác
thèm được sở hữu trong bối cảnh an ninh lương thực đang là mối nguy, mà
không cân nhắc hết thiệt hơn, mạnh yếu.
Định hướng bởi cách nghĩ làm thế nào để thực hiện mục tiêu tăng trưởng
cao, tỉ trọng công nghiệp lớn cho cái gọi là "nền kinh tế GDP tỉnh", các địa
phương mải mê vận động để xin được nhiều tiền ngân sách, thêm được nhiều
vốn đầu tư vào tỉnh, có được các dự án... nhưng lại chưa suy tính xem thực sự
mình mạnh gì và nên phát triển theo hướng nào.
Các quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển của các tỉnh thành là
một sự sao chép lẫn nhau, không dựa trên đặc thù riêng của địa phương mình,
cả về lợi thế và vị trí riêng. Thế mạnh địa phương không được phát huy, trong
khi đó, "bạn không thể ra sức để trở thành mọi thứ", GS Michael Porter đã đúc
kết quy luật chung trong phát triển như vậy.
23
Th«ng tin kinh tÕ – x· héi
Và triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau
Không chỉ triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình, các địa phương còn
khai thác tiềm năng theo kiểu triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau, khi chính sách
phát triển của các địa phương không được đặt trong mối liên kết với các địa
phương khác trong vùng và trong tổng thể phát triển chung của đất nước.
Hãy nhìn câu chuyện phát triển cảng biển Việt Nam. Dọc bờ biển Việt
Nam chi chít những dự án cảng biển, tỉnh nào cũng muốn sở hữu cảng biển
của riêng mình. 10 năm tới, Việt Nam có kế hoạch phát triển 39 cảng biển với

24
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n
Có một ví dụ thường được các chuyên gia dẫn chứng như một minh họa
sinh động cho những ràng buộc về lợi ích cục bộ, địa phương gây cản ngại cho
một chiến lược đầu tư sáng suốt trong câu chuyện cảng biển. Hiện tại, cảng
Cái Mép - Thị Vải của Vũng Tàu đã được một số tàu mẹ các nước đến ăn
hàng. Xét về mọi mặt, đây là cảng biển có nhiều lợi thế hơn cả để phát triển
thành cảng trung chuyển quốc tế.
Thế nhưng, Tp.HCM và Long An cũng đòi đầu tư để cảng của mình thành
trung chuyển quốc tế! Trong khi nguồn lực đầu tư của đất nước vào cơ sở hạ
tầng vốn đang vô cùng khan hiếm.
Câu chuyện thu hút đầu tư nước ngoài của các tỉnh cũng là một ví dụ khác.
Mặc dù đã có quy định về khuyến khích và ưu đãi đầu tư, thế nhưng, thực tế, các
địa phương vẫn làm theo kiểu "mạnh ai nấy làm". Ngoài các chính sách thu hút
đầu tư của nhà nước, nhiều tỉnh đã phá rào, đưa thêm nhiều quy định khuyến
khích đầu tư, từ ưu đãi đầu tư, miễn giảm thuế và giảm tiền thuê đất.
Cuộc khảo sát do Bộ Tài chính tiến hành năm 2006 tại 48 tỉnh, thành phố
cho thấy có tới 32 tỉnh (chiếm 2/3) ban hành thêm các văn bản pháp lý trái luật
nhằm quy định các ưu đãi đặc biệt để thu hút các dự án đầu tư. Theo khảo sát
này, có 18 tỉnh vi phạm các quy định về ngân sách, 21 tỉnh đưa ra những ưu
đãi về đất đai nằm ngoài những quy định của chính sách đất đai quốc gia, 11
tỉnh vi phạm quy định về thuế thu nhập DN và nhiều tỉnh có nhiều hơn 2 vi
phạm. Hầu hết các tỉnh đưa ra các khuyến khích rất hào phóng về phí sử dụng
đất, mở rộng thời kì miễn giảm thuế lên tới 10-20 năm.
Rút cuộc, cuộc đua của các tỉnh không mang lại lợi ích chung cho cả nền
kinh tế. Quy hoạch tổng thể bị xới tung, cày nát. Đến nỗi có chuyên gia đã phải
kêu lên rằng: cuộc đua thu hút FDI giữa các tỉnh chẳng khác nào cuộc "chạy
đua xuống đáy", khi các tỉnh hoặc là cùng chạy, hoặc là cùng chờ.
Nói như TS Vũ Minh Khương, ĐHQG Singapore, cách làm này tạo nên sự
phát đạt cho một vài người nhưng lại gây hại cho sự phát triển chung của đất nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status