142
Hoàn thành được những công việc đó, tức là Bạn đã tự đánh giá được
kết quả học tập của mình.
chủ đề 3
văn học dân gian việt nam
( 15 tiết: 10 tiết lí thuyết, 5 tiết thực hành)
Mục tiêu
Kiến thức: Hệ thống hoá những kiến thức cơ bản nhất về Văn học dân gian
(VHDG) mà sinh viên đã được học trong chương trình phổ thông, chủ yếu
nhấn mạnh các đặc trưng cơ bản của VHDG cũng như của các thể loại
truyện cổ và thơ ca dân gian. Bên cạnh đó, chủ đề này còn giúp người học
thấy được vai trò, tác dụng của VHDG đố
i với sự phát triển của trẻ em ở lứa
tuổi tiểu học nhằm định hướng tiếp cận cho công tác giảng dạy của họ sau
này.
Kĩ năng: Hướng dẫn sinh viên cách đọc, kể, phân tích một số câu chuyện
cổ và một số bài ca dao, tục ngữ được sử dụng trong chương trình Tiếng
Việt tiểu học.
143
144
8. Hoàng Tiến Tựu, Văn học dân gian Việt Nam, tập 2, nxb Giáo dục,
1990. (Tài liệu bắt buộc)
IV. nội dung
Tiểu chủ đề 1: Giới thiệu chung về Văn học dân gian
(4 tiết)
1. Hoạt động
Hoạt động 1: Tìm hiểu khái niệm và các đặc trưng Văn học dân gian
(2 tiết)
Thông tin cho hoạt động 1:
VHDG xuất hiện ngay từ khi chưa có văn học viết, nó thuộc nền văn
hoá sơ khai của mỗi dân tộc, được gọi chung là Folklore – tức Văn hoá dân
gian. Folklore là một lĩnh vực rộng lớn, bao gồm những sáng tác nghệ thuật
dân gian thuộc nhiều loại hình: nghệ thuật tạo hình ( hội hoạ, kiến trúc ),
nghệ thuật biểu diễn ( chèo, tuồng, cải l
ương, dân ca ), nghệ thuật ngôn từ
(truyện kể, ca dao, tục ngữ…). Trong số các loại hình văn hoá dân gian kể
trên, VHDG chính là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng do
con người sáng tạo ra trong khi tham gia các sinh hoạt tập thể nhằm biểu
Xét về phương thức biểu diễn (hay hình thức diễn xướng), có thể chia
VHDG thành bốn loại hình:
a. Loại hình nói ( luận lí): tục ngữ, câu đố.
b. Loại hình kể ( tự sự): các loại truyện kể dân gian như thần thoại,
truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười.
c. Loại hình hát: ca dao, đồng dao, hát ru.
d. Loại hình diễn: tuồng, chèo, cải lương, múa rối.
Xét về phương diện thể loại, có thể chia VHDG thành ba thể loại:
a. Truyện cổ dân gian: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn,
truyện cười.
b. Thơ ca dân gian: ca dao, tục ngữ, câu đố, hát ru, đồng dao.
c. Sân khấu dân gian: chèo, tuồng, cải lương, múa rối.
Hệ thống phân loại trên về cơ bản có th
ể áp dụng chung cho cả
VHDG của người Việt cũng như của các dân tộc thiểu số khác, tuy nhiên,
vẫn còn tồn tại một số biệt loại – tức những thể loại độc đáo có mặt trong
kho tàng VHDG của một dân tộc nào đó. Đó là sử thi, hay trường ca như
Đẻ đất đẻ nước của người Mường, Đam San của người Ê Đê, Sing Nhã c
ủa
người Gia Rai; hoặc truyện thơ như Tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái.
Nhiệm vụ:
+ Nhiệm vụ 1: đọc phần thông tin cơ bản và tài liệu số 8.
+ Nhiệm vụ 2: kể tên các thể loại VHDG mà mình biết, tự sắp xếp
theo nhóm và giải thích vì sao lại sắp xếp như vậy.
Đánh giá hoạt động 2:
147
Bạn hãy chọn và kể tóm tắt một chuyện cổ và cho biết nó thuộc thể
loại nào.
đoán tương lai. Đối với nền văn học nghệ thuật của mỗi dân tộc, VHDG đều
được coi là cội nguồn, là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng nó. Nhiều nhà văn, nhà thơ
lớn của dân tộc ta đã học tập, tiếp thu những tinh hoa VHDG để sáng tạo ra
hình tượng văn học của mình, nhiều thể loại văn học viết đã hình thành trên
cơ sở kế thừa và phát tri
ển các thể loại VHDG. Thể thơ lục bát là một thể
thơ dân gian đã được sử dụng rất phổ biến trong các tác phẩm văn học viết,
kể cả ở thể loại truyện (mà đỉnh cao là Truyện Kiều) lẫn thể loại thơ (nhất là
thơ hiện đại).
Giữa tâm hồn trẻ em và tâm hồn của người xưa có những điểm tươ
ng
đồng với nhau. Trẻ em vốn ưa tưởng tượng, thích ước mơ, sống với nhiều
xúc cảm mãnh liệt mà VHDG lại là thế giới của tượng và ước mơ, là sản
phẩm của tâm hồn và trí tuệ ngây thơ của nhân loại. Vì vậy, một số thể loại
VHDG đã trở thành món quà tặng đầy yêu thương của người xưa dành cho
các em. VHDG, với tính chất nguyên hợp của mình, đã cung cấp cho tr
ẻ em
những hiểu biết về đời sống tự nhiên, xã hội, trả lời một cách thú vị vô vàn
thắc mắc của các em về thế giới xung quanh. Con đường nhận thức của trẻ
em thường bắt đầu từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, VHDG đã
đáp ứng được điều này khi khái quát các bài học nhận thức, giáo dục từ
những hình ảnh, tình huống thuộ
c đời sống thực tiễn. Các bài học giáo dục
đạo đức, nhân cách đã được đúc kết trong VHDG chưa bao giờ cũ so với
mọi thời đại, bởi vì chúng luôn được khái quát từ triết lí của tình thương.
Cha ông ta muốn rằng, mặc dù cuộc sống luôn thay đổi thì cái đọng lại cuối
cùng vẫn là lòng nhân ái, sự yêu thương giữa con người với con người.
Nhiệm vụ:
+ Nhiệm vụ 1: đọc phần thông tin cơ bản và các tài liệu số3, 8.
150
+ Kể tóm tắt và nêu ý nghĩa một chuyện cổ nào đó mà bạn yêu thích.
+ Khi tiếp xúc với câu đố, trẻ em thu nhận được những gì? Phân tích
ví dụ minh hoạ
2. Thông tin phản hồi cho các hoạt động
- Thông tin phản hồi cho hoạt động 1:
+ Mối quan hệ giữa hai thuật ngữ Folklore và VHDG: Folklore là
một thuật ngữ mang nội hàm rộng chỉ những sáng tác dân gian thuộc nhiều
loại hình khác nhau. Còn VHDG là thuật ngữ mang nội hàm h
ẹp hơn chỉ
một trong những loại hình sáng tác dân gian mà thôi – loại hình này sử dụng
chất liệu cơ bản là ngôn từ.
+ Nêu và phân tích 3 đặc trưng cơ bản của VHDG:
Đặc trưng thứ nhất: VHDG là những sáng tác ngôn từ mang tính tập
thể - truyền miệng. Trước hết, nó là sản phẩm sáng tạo của nhiều người,
thuộc nhiều thế hệ qua những thời gian và không gian khác nhau. Có thể
hình dung sự ra đời và tồn tại của một tác phẩm VHDG như sau: lúc đầu,
một người nào đó, trong giây phút ngẫu hứng nghĩ ra một mẩu chuy
ện hoặc
vài câu phát ngôn trước tập thể, người nghe tiếp nhận với một tinh thần hào
hứng, để rồi tái bản bằng lời cho nhiều người khác, vòng tuần hoàn ấy
dường như không kết thúc và cũng khó đoán định được thời điểm khởi đầu,
quá trình tuần hoàn của VHDG chính là quá trình sửa chữa, bổ sung làm cho
nó ngày càng hoàn thiện. Một tác phẩm chỉ có thể trở thành một sáng tác dân
gian khi sáng tác đó do một cá nhân khở
i xướng, sau đó nhập vào đời sống
dân gian, sống cuộc đời nổi trôi trong lòng và trên cửa miệng của tập thể
nhân dân thuộc mọi thời đại, ở các địa phương khác nhau. Về chất lượng nội
dung, một tác phẩm VHDG phải phản ánh được nhiều nét sinh hoạt, tình
cho quần áo đẹp đi dự hội, vì vội vã, cô đã đánh rơi một chiếc giày dọc
đường, Vua, Hoàng tử hoặc một thanh niên quý tộc nào đó nhặt được, thấy
chiếc giày xinh xắn quá, họ liền mở hội ướm giày, nhờ có phép màu của đôi
giày mà chủ nhân của nó được thay đổi số phận, trở nên hạnh phúc. Vô số
các câu chuyện cổ tích đều coi các nhân vật Tiên, Bụt là các nhân vật có
152
chức năng thử thách lòng người để rồi ban thưởng, nếu họ là người tốt, hay
trừng phạt nếu họ là những người độc ác, ích kỉ. Ngay cả truyện thần thoại
cũng vậy, thần thoại của quốc gia nào cũng xây dựng hình tượng cây cột
chống trời với các dáng vẻ khác nhau, từ khi cây cột thần kì này xuất hiện,
thế gian mới chấm dứt là một kh
ối hỗn mang và từ đó Trời - Đất được sinh
ra.
Cũng chính vì tính tập thể – truyền miệng này mà văn bản VHDG
luôn có sự thay đổi theo thời gian tuỳ theo xu thế tình cảm, tư tưởng của
quần chúng nhân dân. Có thể coi văn bản truyện Tấm Cám là một ví dụ điển
hình cho điều này. Ban đầu, truyện được kết bằng chi tiết mẹ con Cám tuy
được Tấm tha bổng nhưng dọc đường b
ị Thiên Lôi đánh chết. Bằng cách đó
người xưa muốn nói rằng lưới Trời lồng lộng, tuy thưa nhưng khó lọt. Thế
nhưng càng về sau, khi mà mâu thuẫn giai cấp trong xã hội càng trở nên sâu
sắc và khó bề hoá giải, với một tâm trạng luôn bị ức chế, người ta càng
không thoả mãn với kết thúc này. Đó là lí do vì sao truyện lại được kết theo
một kiểu khác: cô Tấm không thoả hiệp, đã tr
ực tiếp thực thi công lí với một
hình phạt vô cùng tàn khốc. Người thời nay vẫn luôn bị ám ảnh bởi điều này,
rằng như vậy cô Tấm có còn là một cô gái nhu mì, nhân hậu nữa không? ở
đây, chúng ta phải thấy rằng mọi chuyện không phải do cô Tấm – nhân vật –
quyết định, mà do tác giả dân gian quyết định.
như âm nhạc, vũ điệu, động tác. Chẳng hạn như khi kể chuyện cổ tích có thể
kết hợp với các yếu tố ngữ điệu của giọng kể, yếu tố kịch của vẻ mặt, động
tác… Một câu lục bát có thể đượ
c dùng trong cả hát ru, hát dân ca, hát chèo
với những làn điệu âm nhạc khác nhau cùng các động tác vũ điệu khác nhau,
với những mục đích khác nhau. Hát ru được dùng trong khuôn khổ sinh hoạt
gia đình với mục đích trước hết là để đưa trẻ vào giấc ngủ êm đềm; hát dân
ca được dùng trong sinh hoạt cộng đồng nhằm trao gửi tình cảm giữa nam và
nữ hoặc nhằm bộc bạch nỗi lòng của một chủ thể trữ
tình nào đó
Đặc trưng thứ ba: VHDG là những sáng tác nghệ thuật
mang tính thực hành. Đây chính là chức năng sinh hoạt của VHDG, nó thể
hiện sự gắn bó của VHDG với đời sống cộng đồng mà tác phẩm văn học viết
154
không thể nào có được. Việc sáng tác, trình diễn, nhận thức tác phẩm
VHDG, ngoài mục đích thẩm mĩ, còn nhằm một mục đích khác hơn là đáp
ứng một yêu cầu, nhu cầu nào đó trong đời sống sinh hoạt của con người. Ví
dụ: câu đố vừa được dùng để thử thách trí tuệ trẻ em vừa được coi là một
phương tiện phản ánh gián tiếp các quan hệ xã hội; việc diễn xướng sử
thi
vừa thoả mãn nhu cầu thưởng thức nghệ thuật vừa là một nghi lễ văn hoá, tín
ngưỡng của bà con các dân tộc thiểu số; ca dao được dùng trong hát ru còn
trở thành phương tiện bộc lộ tâm tình của người ru; hát dân ca vừa là
phương tiện trao đổi tình cảm vừa gắn với cấc hình thức lễ hội văn hoá
- Thông tin phản hồi cho hoạt động 2:
Sinh viên có thể sưu tầm và kể một trong số các câu chuy
ện thuộc các
thể loại sau:
- Thần thoại: Thần trụ trời; truyện trăm trứng