ĐẠI CƯƠNG VỀ TÂM THẦN HỌC
(Kỳ 3)
VI. CÁC NGUY CƠ VỀ SỨC KHOẺ TÂM THẦN HIỆN NAY
Ở nước ta trong khoảng hơn chục năm trở lại đây, nền kinh tế đã có
những chuyển biến mang tính chất bước ngoặt. Từ nền kinh tế tập trung quan liêu
bao cấp chuyển nhanh sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần. Đi đôi với
những mặt tích cực thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của các chỉ số thu nhập quốc nội,
ổn định tốt hơn đời sống nhân dân, giữ gìn được an ninh chính trị xã hội là điều
kiện để hoà nhập với các nước trong khu vực, Cũng đã xuất hiện một số mặt
tiêu cực như nạn tham nhũng, cạnh tranh không lành mạnh, quá trình đô thị hoá,
sự tăng dân số cơ học tập trung ở các thành phố lớn, mở rộng giao lưu quốc tế khó
kiểm soát, sự phân hoá giai cấp giàu nghèo, thất nghiệp là những nhân tố môi
trường ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ tâm thần xã hội, đã làm nảy sinh và gia tăng
một số bệnh lý và những rối loạn như:
A. Các rối loạn hành vi của thanh thiếu niên (TTN): (Conductive
Disorders of Aldolescence).
- Rối loạn hành vi được xếp ở mục F.91 bảng phân loại quốc tế 10 (ICD-
10) đó là những hành vi xâm phạm, bạo lực, gây thương tích, đâm chém, càn quấy,
do những nguyên cớ không tương xứng Khi những hành vi trên tái diễn, lặp
đi lặp lại kéo dài ở TTN thì chúng thoả mãn để xếp vào mục rối loạn tập tính
(hành vi).
- Rối loạn hành vi của TTN có chiều hướng gia tăng trong những năm gần
đây, thể hiện ở tội phạm do TTN gây ra tăng, theo số liệu của Sở công an Hà Nội
năm 1987 trong tổng số 7824 người bị bắt vì phạm tội, TTN dưới 18 tuổi có 801
người chiếm 10,2%. Gần đây, hiện tượng bạo lực, chống đối người thi hành công
vụ, nói năng thô tục nơi công cộng, trộm cắp, cướp giật, cưỡng dâm, đua xe máy
trên đường phố đông đúc, trốn học, cờ bạc, rạch mặt trẻ em, luôn được các hệ
thống thông tin đại chúng cảnh báo, đã gây cho xã hội nhiều lo lắng, gây tổn thiệt
cho sức khoẻ, sự thoải mái của cộng đồng.
- Theo nghiên cứu của ngành tâm thần học Việt nam 1990, rối loạn hành vi
TTN 10-17 tuổi là 3,7%; ở thành thị cao hơn ở nông thôn, trẻ trai nhiều hơn trẻ
thứ hai sau tai nạn giao thông (Cao Văn Tuân, 1997), còn Nguyễn Hữu Kỳ nghiên
cứu 415 trường hợp toan tự sát (Tự sát không thành-parasuicide) đến cấp cứu ở
bệnh viên đa khoa TW Thừa Thiên - Huế 1996 nhận thấy 13,2% là thanh thiếu
niên.
- Tìm hiểu nguyên nhân tự sát, nhiều tác giả trong nước và ngoài nước nhận
thấy như sau:
+ Sự gia tăng tiềm ẩn các rối loạn tâm thần chưa phát hiện được sớm, kịp
thời như trầm cảm (depression), lo âu (anxiety), hoảng loạn (panic disorder),
nghiện ma tuý, rối loạn hành vi, mà các rối loạn này dễ phát sinh trong những
điều kiện kinh tế thị trường mở cửa thiếu kiểm tra, nhất quán với nhận định của
Robins 1986, Klerman 1989.
+ Nhân tố tâm lý xã hội không thuận lợi (stress):
a. Thất bại, đổ bể trong làm ăn, cạnh tranh thua lỗ.
b. Mâu thuẫn kéo dài giữa các thành viên trong gia đình không giải quyết
được.
c. Cấu trúc gia đình bị đảo lộn: ly thân, ly hôn, các thành viên trong gia
đình thiếu gắn bó, không có điểm nương tựa, người thân cha hoặc mẹ nghiện rượu.
d. Cô đơn ở những người cao tuổi. Giống với nhận định của các nghiên cứu
Holinger & Offer - 1982; Weissaman - 1989.
e. Do không được quản lý tốt các phương tiện dễ dàng gây tự sát như hoá
chất trừ sâu diệt cỏ ở nước ta, súng ống bán tự do ở Hoa Kỳ (Blumenthel - 1988).