Chương 1: Khái niệm chung về giao thông đô thị (3 tiết)
I. Lịch sử phát triển đô thị.
1.1. Quá trình phát triển của các thành phố trên thế giới.
1.2. Quá trình hình thành và phát triển đô thị ở nước ta.
II. Khái niệm chung về giao thông đô thị.
1.3. Vị trí và vai trò của giao thông đô thị.
1.4. Phân loại giao thông đô thị.
1.5. Đặc điểm của đường đô thị.
1.6. Các bộ phận của đường đô thị.
1.7. Các yêu cầu kỹ thuật.
1.8. Yêu cầu về mặt kiến trúc và mỹ quan.
III. Tình hình và xu thế phát triển giao thông đô thị.
1.9. Giao thông đô thị trên thế giới
1.10. Giao thông đô thị ở Việt Nam.
****************
I. Lịch sử phát triển đô thị.
1. Quá trình phát triển của các thành phố trên thế giới:
Thủa sơ khai của xã hội loài người, trong một thời gian dài, khi nền kinh tế còn
kém phát triển, con người sống phân tán, mang đậm tính khép kín, tự cung tự cấp.
Khi nền kinh tế hàng hóa xuất hiện và phát triển, con người bắt đầu sống tập trung lại
và từ đó các đô thị hình thành và phát triển.
Quá trình phát triển đô thị và giao thông đô thị trên thế giới được phận chia
thành các giai đoạn co bản như sau:
Giai đoạn 1 (trước năm 1850):
Các thành phố cổ, các thành phố được xây dựng trong giai đoạn này thường có
quy mô nhỏ, tốc độ phát triển chậm về mọi mặt. Hình thức giao thông chủ yếu là đi
bộ và các phương tiện thô sơ dùng sức kéo, điển hình là xe ngựa.
Giai đoạn II (1850 – 1890):
Đây là thời kỳ các đô thị có quy mô và tốc độ phát triển nhanh do sự bùng nổ
của ngành công nghiệp, đã xuất hiện các thành phố lớn như London (1861) với 2,36
triệu dân, Paris (1861) với 1,69 triệu dân.
nước, nên sự phát triển của các đô thị chậm và không liên tục. Các đô thị chủ yếu hình
thành trong thời kỳ phong kiến. Hà Nội trở thành thủ đô nước ta từ năm 1010. Sài
Gòn có từ năm 1698, Nam Định, Thanh Hóa xuất hiện năm 1810, Vinh 1830.
Các thành phố có lịch sử phát triển lâu năm ở nước ta có thể kể ở đây là: Hà
Nội, Hải Phòng, Nam Định, Huế, Hội An, Đà Nẵng, Sài Gòn,…
Những năm 1623 đã hình thành những điểm dân cư người Việt trên vùng đất phía Nam và
nhà Nguyễn đã cho quân đội vào để trợ giúp cư dân của mình đồng thời mở mang bờ cõi. Theo
Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thông chí, Sài là tiếng mượn từ chữ Hán…có nghĩa là củi gỗ, gòn
là tiếng Nam chỉ bông gòn hay cây gòn. Về sau người Pháp đã gọi tên thành phố là Sài gòn vì họ
thấy tên đó trong các bản đồ địa lý thông qua những nhà buôn, những người truyền đạo Au Tây vẽ
sơ bộ vùng đất Sài Gòn những năm sơ khai thông qua trí nhớ. Mục đích nhằm nắm bắt tình hình
Việt Nam và đã có tư tưởng xâm lược nước ta.
Năm 1680, khoảng 3000 người Hoa bằng đường thủy đến Đà Nẵng xin quy phục nhà
Nguyễn, góp phần vào công cuộc Nam tiến khai phá đất phương Nam, sinh sống chủ yếu ở khu vực
Biên Hoà và Mỹ Tho.
Dưới thời Pháp thuộc, các đô thị có mạng lưới đường chật hẹp, chiều rộng long
đường 5 – 16m ở Hà Nội, không quá 12m ở Hải Phòng, Nam Định. Nút giao thông chủ
yếu là giao cắt cùng mức, khoảng cách giữa các nút lại ngắn nên tốc độ xe chạy chậm. Xe
cộ ít, phần lớn là xe thô sơ, hầu hết không có giao thông công cộng.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Mỹ, các đô thị hầu như không được
phát triển mà nhiều đô thị còn bị tàn phá nặng nề.
Sau khi thống nhất đất nước, nhiệm vụ khôi phục, cải tạo, phát triển, xây dựng
mới các đô thị đã đạt được những thành tựu lớn. Tuy nhiên, do thị trường phát triển,
nhu cầu đi lại của nhân dân tăng cao, trong khi cơ sở hạ tầng phát triển chậm, giao
thông công cộng vẫn trong tình trạng yếu kém, hiện tượng ùn tắc giao thông thường
xuyên xảy ra và số tai nạn giao thông có xu hướng gia tăng.
Nước ta hiện nay có một số thành phố lớn như:
Hà Nội với 3,4 triệu dân trước khi mở rộng và từ tháng 8/2008 lên đến 6,1 triệu
dân (mật độ dân số vào khoảng 3 490 người/km
2
- Đường thủy (đường song, đường biển): có thể vận chuyển được khối lượng
lớn hàng hóa cồng kềnh, đi được đường xa, giá thành hạ, đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng không cao; tuy nhiên phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, điều
kiện thời tiết và tốc độ chậm.
- Đường hàng không: ngày nay trở thành phương tiện giao thông quan trọng.
Vận tải hàng không có tốc độ cao nhất, phạm vi hoạt động rộng, thích hợp vận tải
đường dài hoặc có thể vận tải đến những nơi mà thực hiện bằng các loại hình vận
tải khác gặp khó khăn.
- Đường ô tô: được sử dụng phổ biến nhất vì rất cơ động, có thể thực hiện từ
cửa đến cửa, không phải qua trung chuyển, thiết bị vận tải đơn giản, dễ
thích ứng với mọi trường hợp, cự ly di chuyến ngắn và có xu hướng gia
tăng nhờ vào sự phát triển của phương tiện vận tải và mạng lưới đường bộ
cả về chất lượng và số lượng
2.2. Giao thông đối nội:
Giao thông đối nội đảm bảo việc lưu thông giữa các khu vực trong thành phố
và thường gọi là giao thông đô thị. Giao thông đối nội bao gồm việc vận tải hàng hóa,
hành khách với các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Vận chuyển nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, vận tải hàng hóa phục vụ đời
sống nhân dân trong vùng.
- Vận tải hành khách là phục vụ nhu cầu của người lao động từ nhà tới nơi
làm việc, học sinh sinh viên từ nhà đến trường, phục vụ nhu cầu của khách
tham quan, khách vãng lai quá cánh và các nhu cầu đi lại khác.
Tuy nhiên, với giao thông đối nội thì quan trọng nhất vẫn là vận tải hành khách
vì nhu cầu này rất lớn, số lượt đi của người dân không ngừng tăng cao (năm 2004, TP
HCM với 5,8 triệu dân, đã có tới 19 triệu lượt đi trong ngày), và đây cũng là nguyên
nhân chính gây ùn tắc giao thông trên các tuyến đường.
Các phương tiện giao thông đối nội có thể kể đến như sau:
- Đường bộ: xe bus, xe con, ô tô khách, xe tải, mô tô, xe đạp, bộ hành.
- Đường sắt: tàu điện, tàu điện ngầm, đường sắt trên cao.
- Đường thủy: tàu thủy, ca nô, thuyền.
đường cũ thường phức tạp và tốn kém, thường phải vừa xây dựng vừa đảm bảo
giao thông;
- Yêu cầu về nghệ thuật kiến trúc cao, đường và các công trình xây dựng phải
tạo thành một quần thể kiến trúc hài hòa thống nhất.
- Quy hoạch mạng lưới đường phải tuân theo quy định kiến trúc chung của đô thị.
4. Các bộ phận của đường đô thị:
• Phần xe chạy (long đường) dùng để cho các loại xe đi lại. Trong đô thị
thường có các loại xe cơ giới (ô tô, xe máy, xe điện bánh sắt, bánh hơi)
và xe thô sơ (xe đạp, xích lô,…);
• Hè phố dùng cho người đi bộ;
• Các công trình thoát nước ở nền, mặt đường như rãnh biên, cống thoát
nước, giếng thăm, giếng thu nước mưa trên đường phố,…;
• Dải cây xanh có tác dụng chống bụi, chống ồn, làm tăng vẻ đẹp, làm
râm mát đường phố,…;
• Các thiết bị giao thông đảm bảo cho xe chạy an toàn, xe chạy có tổ
chức như đèn tín hiệu, biển báo giao thông, vạch sơn,…;
• Nút giao thông và quảng trường giao thông;
• Điểm đỗ xe, bãi để xe;
• Các công trình ngầm dưới mặt đất: ống cấp nước, cống thoát nước, cáp
điện, cáp điện thoại, ống dẫn khí đốt,…;
• Đối với các đô thị lớn hiện đại còn có cầu vượt, đường ngầm hoặc cầu
vượt cho người đi bộ,…
5. Các yêu cầu kỹ thuật:
Đường đô thị có liên quan tới nhiều yêu cầu đòi hỏi của quy hoạch đô thị, vì
vậy về mặt kỹ thuật cần phải giải quyết những vấn đề sau:
- Phải tổ chức giao thông trong đô thị (đặc biệt là tại các nút giao thông) hợp
lý để đảm bảo an toàn, tiện lợi và kinh tế. Các tuyến đường phải có chức
năng rõ rang, tạo thành mạng lưới vận tải hợp lý, đảm bảo sự liên hệ chặt
chẽ và thuận tiện giữa các khu vực trong đô thị. Các khu vực có lưu lượng
xe lớn phải đảm bảo giao thông nhanh chóng, thông suốt.
đường, của cột đèn chiếu sang, các biển báo tổ chức giao thông, đèn tín hiệu với nhà
cửa và cảnh quan xung quanh.
Mối quan hệ giữa chiều rộng nền đường và chiều cao kiến trúc của các công trình
ven đường phải tương xứng với nhau. Nếu gọi B là chiều rộng nền đường, H là chiều cao
kiến trúc các công trình ven đường, thì chiều rộng của nền đường phải đủ lớn để chiếu
sang cho các công trình, đồng thời có thể nhìn thấy kiến trúc ven đường.
Nếu H > B thì chiều đứng của các công trình ven đường, đặc biệt là các tang
trên không nhìn thấy được.
Nếu H = B thì chỉ nhìn thấy mặt đứng của một số công trình.
Nếu H = (0,5 ÷ 0,75)B thì đảm bảo nhìn được toàn cảnh nhà ven đường.
Chính vì thế, tối thiểu nên đảm bảo H = B. Hiện nay, ở nhiều thành phố của
chúng ta có tình trạng các khu dân cư tự xây dựng không sát với quy hoạch chung,
chiều rộng nền đường hẹp, nhưng nhà cao đến 4,5 tầng. Khi đi vào đường có cảm
giác như đi vào đường hầm, ảnh sang mặt trời không thể chiếu đến được. Đó là điều
không tốt về mặt kiến trúc cũng như vệ sinh môi trường.
III. Tình hình và xu thế phát triển giao thông đô thị.
1. Giao thông đô thị trên thế giới:
1.1. Về mật độ mạng lưới đường chính:
Các thành phố như Paris, London,… đều đảm bảo diện tích đường chiếm trên
20% diện tích đất thành phố. Tỷ lệ này đáp ứng tốt cho việc phục vụ của hệ thống
giao thông đô thị.
1.2. Về mặt cắt ngang đường:
Trừ một số tuyến phố ở các khu trung tâm theo thiết kế từ những thời kỳ đầu
xây dựng thành phố là nhỏ hẹp, còn hầu hết là những con đường rộng rãi, với những
quảng trường rộng lớn.
1.3. Các nút giao thông:
Tại các giao cắt đều có đèn điều khiển hay tổ chức đảo tự điều chỉnh hoặc giao
cắt khác mức.
1.4. Phương tiện vận chuyển hành khách trong thành phố:
Mô hình hệ thống phương tiện giao thông trong giai đoạn hiện nay là phát triển
b. Giao thông đối nội
- Dành đủ quỹ đất để xây dựng các công trình giao thông đầu mối, mạng
lưới đường phố và giao thông tĩnh.
- Hoàn chỉnh mạng lưới đường đô thị, cụ thể là tại các khu đô thị hiện có
cần tiến hành phân loại lưới đường, tổ chức lại giao thông cho hợp lý; tại
các đô thị mới phát triển, phải đảm bảo có các bản quy hoạch tổng thể mặt
bằng, và quy hoạch một mạng lưới đường phù hợp đạt các chỉ tiêu cần
thiết.
- Tăng cường đầu tư và phát triển giao thông công cộng ở các đô thị lớn
như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh (và các đô thị khác), nhằm làm tăng
tỷ lệ vận tải khách của hình thức vận tải này lên chủ đạo, tối thiểu phải đạt
30% vào năm 2010.
- Đưa ra các biện pháp quản lý tổ chức giao thông hiệu quả như lắp đặt hệ
thống đèn tín hiệu, hệ thống camera tại các nút giao thông nhằm phân luồng và cảnh
báo giao thông cho các phương tiện; chống lấn chiếm lòng lề đường; dịch chuyển cơ
cấu phương tiện vận tải (công cộng); mở rộng, tổ chức lại các nút giao thông hay gây
tắc nghẽn (phân làn xe, tổ chức rẽ phải ).