Đề tài “Đánh giá hiệu quả cho vay đối với hộ sản xuất tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai” doc - Pdf 16

Luận văn
Đánh giá hiệu quả cho vay đối với hộ
sản xuất tại chi nhánh NHNo&PTNT
huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai
- 1 -
Contents
Luận văn 1
Đánh giá hiệu quả cho vay đối với hộ sản xuất tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Chư
Prông, tỉnh Gia Lai 1
Contents 2
- 2 -
Phần thứ nhất
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của nước ta đến năm 2020 là từ một nước
nông nghiệp cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại, có nền kinh tế hàng
hóa phát triển. Để đạt được mục tiêu đề ra chúng ta cần quán triệt quan điểm coi
sự nghiệp CNH – HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế
trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Đặc biệt là phải coi trọng sự nghiệp
CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn. Phát triển toàn diện nông – lâm – ngư
nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản, phát triển nông
nghiệp toàn diện hướng vào đảm bảo an toàn lương thực quốc gia trong mọi tình
huống, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn có hiệu quả. Đây là
mục tiêu lớn nhưng để đạt được nó cũng không ít những khó khăn bởi:
Như chúng ta đã biết nước ta vốn có xuất phát điểm thấp, ở nông thôn tỷ lệ
các hộ nghèo đói còn cao, lao động dư thừa ngày càng tăng lên, khoảng cách về
thu nhập đời sống giữa nông thôn và thành thị ngày càng xa hơn. Trong muôn
ngàn lý do đó có lý do đặc biệt quan trọng nhất là người dân thiếu vốn để sản xuất.
Vậy làm thế nào để khắc phục những khó khăn trên nhằm hoàn thành mục
tiêu đề ra? Để giải quyết câu hỏi này Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chính
sách đồng bộ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.

Huyện Chư Prông – Tỉnh Gia Lai.
- Các hộ sản xuất vay vốn trên địa bàn huyện
1.3.2.2 Thời gian
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2010
- Số liệu nghiên cứu: số liệu năm 2007,2008,2009
- 4 -
Phần thứ hai
TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Tổng quan về NHTM
2.1.1.1 Khái niệm NHTM
NHTM là một loại định chế tài chính trung gian cực kỳ quan trọng trong
nền kinh tế thị trường, là loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh
vực tiền tệ - ngân hàng với các hoạt động đa dạng.
Theo pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng mà công ty tài chính ban
hành ngày 24/5/1990 “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu
và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng và sử dụng số tiền đó để cho
vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Như vậy,
NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huy động các
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay, đầu tư và thực hiện các
nghiệp vụ tài chính khác.
2.1.1.2 Chức năng của NHTM trong nền kinh tế
a. Chức năng tổ chức trung gian tài chính
Quan hệ giữa chủ thể có tiền chưa sử dụng và chủ thể có nhu cầu vốn cần
bổ sung gặp phải nhiều hạn chế về qui mô và thời gian, ví dụ như người có nhu
cầu cần vay 20 triệu đồng đến gặp người dư thừa tiền 10 triệu đồng thì nghiệp vụ
cho vay không thể tiến hành. Do vậy người có nhu cầu vốn khó có điều kiện gặp
người có khả năng cung cấp vốn với chức năng nhiệm vụ trong hoạt động của
ngân hàng thì đã khắc phục được những hạn chế trên, đứng ra tập trung nguồn vốn
chưa sử dụng của tất cả chủ thể trong nền kinh tế và từ đó đem cung ứng cho các

Nghiệp vụ huy động vốn là hoạt động tiền tệ có ý nghĩa đối với bản thân
ngân hàng cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này NHTM được sử dụng
- 6 -
những biện pháp và công cụ cần thiết mà luật pháp cho phép huy động các nguồn
tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế.
Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng kinh doanh, là tài sản
bằng tiền của các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng nhưng với
nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ cả gốc và lãi khi khách hàng có yêu cầu. Nguồn
vốn huy động bao gồm:
+ Tiền gửi thanh toán: Tiền gửi thanh toán là tiền gửi của các cá nhân, các
doanh nghiệp, hợp tác xã, đoàn thể và các tổ chức kinh tế khác, mở tài khoản
thanh toán tại ngân hàng.
Việc mở tài khoản của các tổ chức kinh tế và cá nhân giúp cho ngân hàng có
thể tận dụng được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để bổ sung nguồn vốn tín dụng.
Về phía khách hàng việc mở và gửi tiền vào tài khoản này thì tiền vốn sẽ được
đảm bảo an toàn và sinh lời trong thời gian gửi và nhận được các dịch vụ tài chính
từ ngân hàng kinh doanh theo yêu cầu của chủ tài khoản.
+ Tiền gửi tiết kiệm:bao gồm các hình thức tuỳ thuộc vào thời gian gửi:
- Tiền gửi không kỳ hạn: Khách hàng có thể gửi và rút bất kỳ lúc nào mình
muốn và không cần phải báo trước, thường lãi suất thấp hơn so với các kỳ hạn
khác.
Đối tượng gởi là tất cả các đối tượng có nguồn tiền nhàn rỗi gửi vào ngân
hàng để thu lợi tức và đảm bảo an toàn cho tiền vốn. Ngân hàng dùng nguồn vốn
huy động này để cho vay ngắn hạn.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Khách hàng chỉ được rút tiền, khi thời hạn gửi tiền đến
hạn, lãi suất loại này cao hơn. Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn tín dụng mang
tính chất ổn định. Vì vậy, ngân hàng thường chú trọng biện pháp kích thích để huy
động tiền gửi này. Ngân hàng đưa ra nhiều loại thời hạn khác nhau nhằm đáp ứng
đa dạng các khoản tiền nhàn rỗi hình thành trong dân cư. Thông thường lãi suất
cao hay thấp tùy thuộc vào từng kỳ hạn và vào thị trường vốn từng thời điểm.

chức, cá nhân, tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn, các khoản tiền quản lý và giữ
hộ, trái phiếu, kỳ phiếu dưới 1 năm.
Số tiền dự trữ sau khi đã xác định sẽ đưa vào một tài khoản riêng để phong
tỏa.
- Dự trữ bắt buộc dưới hình thức không phong tỏa: NHTW quy định tỷ lệ dự
trữ bắt buộc, các ngân hàng kinh doanh phải chủ động thực hiện dự trữ theo tỷ lệ
quy định, NHTW sẽ tiến hành kiểm tra việc dự trữ của các ngân hàng kinh doanh.
Ngày nay phần lớn các ngân hàng đều áp dụng phương thức quản lý dự trữ
dưới hình thức không phong tỏa.
+ Tiền gửi thanh toán tại NHTW và ngân hàng đại lý.
Tiền gửi loại này sử dụng để thực hiện các khoản thanh toán chuyển khoản
giữa các ngân hàng khi khách hàng tiến hành các thể thức thanh toán không dùng
tiền mặt như Séc,Uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán.
• Cho vay:
Nghiệp vụ cho vay luôn là nghiệp vụ quan trọng nhất tạo ra nguồn thu nhập
chính của ngân hàng (chiếm khoảng 80% tổng thu nhập). Hoạt động cho vay của
NHTM rất đa dạng, phong phú nó bao gồm các loại hình sau:
+ Tín dụng ứng trước: Là một thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp
đồng tín dụng, trong đó khách hàng được sử dụng một mức cho vay trong một thời
hạn nhất định. Tín dụng ứng trước có 2 loại:
- Ứng trước có bảo đảm: Là loại tín dụng cấp phát triển cơ sở có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một hay nhiều người khác.
- Ứng trước không bảo đảm: Là loại tín dụng chỉ cần dựa trên cơ sở uy tín
của khách hàng mà không cần thế chấp hoặc cầm cố tài sản hoặc bảo lãnh của
người khác.
- 9 -
+ Thấu chi: Áp dụng cho các khách hàng có mở tài khoản tại ngân hàng và
có khả năng tài chính lành mạnh, khách hàng uy tín, theo đó ngân hàng cho phép
các khách hàng đó chi vượt quá số dư thực có trên tài khoản tiền gửi trong một
giới hạn thỏa thuận có ghi trong hợp đồng.

vụ thay cho người được bảo lãnh nếu người này không thực hiện nghĩa vụ. Điều
này được cụ thể hóa bằng văn bản do ngân hàng phát hành được gọi là chứng thư
bảo lãnh. Hiện nay có rất nhiều loại bảo lãnh như bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh
đấu thầu, bảo lãnh thuế quan, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền đặt cọc,
bảo lãnh chất lượng và trọng lượng.
+ Tín dụng tiêu dùng: Được thực hiện để tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng, đối
tượng là tất cả các cá nhân tùy thuộc vào tài chính của họ.
• Đầu tư khác:
Bên cạnh hoạt động cho vay, ngân hàng còn thực hiện các hoạt động như: Tư vấn,
cho thuê két sắt… Để tìm kiếm lợi nhuận và thu nhập, nâng cao khả năng thanh toán và
đa dạng hóa các dịch vụ kinh doanh nhằm phân tán những rủi ro ngoài hoạt động cho
vay.
c. Các nghiệp vụ khác
Trong hoạt động của ngân hàng, các dịch vụ ngân hàng được xem như là
nghiệp vụ thứ 3, trên thực tế người ta phân các dịch vụ ngân hàng thành 3 loại:
+ Nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại tệ, nghiệp vụ vàng bạc đá quý, nhờ
thu kỳ phiếu, Séc….
+ Nghiệp vụ phát hành, bảo vệ và bảo quản chứng khoán.
+ Quản lý tài sản (Các nghiệp vụ ủy thác, ủy nhiệm) đây là loại nghiệp vụ có
dịch vụ phí…
2.1.2 Tổng quan về tín dụng ngân hàng
2.1.2.1 Khái niệm, đặc diểm của tín dụng Ngân hàng
- 11 -
a. Khái niệm
Tín dụng (Credit) xuất phát từ chữ la tinh là Credium (tin tưởng, tín nhiệm).
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau;
ngay cả trong quan hệ tài chính, tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín
dụng có một nội dung riêng. Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của
Ngân hàng thì tín dụng được hiểu như sau:
- Tín dụng : Là một giao dịch về tài sản ( tiền hoặc hàng hoá ) giữa bên cho

Việc mở rộng và nâng cao các hình thức tín dụng sẽ giúp cho các nhà sản
xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư mới và nâng cao năng lực sản xuất của xã
hội.
Các nguồn vốn tín dụng được cung ứng luôn kèm theo các điều kiện tín dụng
để hạn chế rủi ro đạo đức và rủi ro lựa chọn đối nghịch buộc những người đi vay
phải quan tâm thực sự đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo mối quan hệ lâu dài
với các tổ chức tín dụng
- Tín dụng là kênh chuyển tải tác động của Nhà nước đến các mục tiêu vĩ mô
Các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế bao gồm ổn định giá cả, tăng trưởng kinh
tế và tạo công ăn việc làm.
Với chức năng tập trung tận dụng những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, tín
dụng đã trực tiếp giảm khối lượng tiền mặt tồn đọng trong lưu thông, lượng tiền
dôi thừa này nếu không được huy động và sử dụng kịp thời có thể gây ảnh hưởng
xấu đến tình hình lưu thông tiền tệ, dẫn đến mất cân đối trong quan hệ H-T và hệ
thống giá cả bị biến động là điều không thể tránh khỏi. Do đó trong điều kiện lạm
phát, tín dụng được xem như là một trong những biện pháp hữu hiệu góp phần làm
giảm lạm phát.Khi nền kinh tế phát triển và ổn định về tiền tệ thì đó cũng chính là
- 13 -
điều kiện để nâng cao dần đời sống của các thành viên trong xã hội.
- Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội.
Chẳng hạn như việc tài trợ vốn cho người nghèo được thực hiện phổ biến
bằng tín dụng đối với người nghèo với lãi suất thấp, với phương thức này đây là sự
đảm bảo chắc chắn cho sự ổn định tài chính của các đối tượng chính sách và từng
bước làm cho họ có thể tồn tại độc lập với nguồn vốn tài trợ. Đó chính là mục đích
của việc sử dụng phương thức tài trợ các mục tiêu chính sách bằng con đường tín
dụng.
2.1.2.3 Nguyên tắc cơ bản của tín dụng Ngân hàng
- Nguyên tắc 1 : Vốn vay phải được hoàn trả nợ gốc và lãi đầy đủ theo đúng
thoả thuận. Đây là nguyên tắc cơ bản chủ đạo trong quan hệ tín dụng. Khi Ngân
hàng cấp phát tiền vay Ngân hàng phải có cơ sở tin rằng khách hàng có khả năng

nông nghiệp, hộ SXNN còn tham gia các các hoạt động khác như: tiểu thủ công
nghiệp, dịch vụ, thương mại…
Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là
một đơn vị tiêu dùng. Tuy vậy, kinh tế hộ sản xuất thường nằm trong hệ thống
kinh tế lớn hơn, chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có
xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao. Như vậy hộ sản xuất không
thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, và còn phải phụ thuộc vào
hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân. Khi trình độ phát triển lên mức
cao của CNH – HĐH, thị trường xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, các hộ
sản xuất càng phụ thuộc nhiều hơn và hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong
phạm vi một vùng, một nước. Điều này càng có ý nghĩa đối với các hộ sản xuất
nước ta trong tình hình hiện nay.
2.1.3.2 Vai trò của kinh tế hộ sản xuất đối với nền kinh tế
a. Kinh tế hộ sản xuất góp phần phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
- 15 -
trong nông nghiệp và nông thôn.
Trong các nền kinh tế chậm phát triển hay đang phát triển, nhất là đối với
khu vực Châu Á nói chung và khu vực Đông Nam Á nói riêng, hộ sản xuất mà chủ
yếu là hộ nông dân chiếm tỷ lệ đông trong tổng số hộ của toàn quốc. Hộ sản xuất
là đơn vị kinh tế, đơn vị sản xuất kinh doanh đông đảo nhất trong nền kinh tế. Việt
Nam với xuất phát điểm nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp…
với gần 80% dân số sống ở nông thôn, hơn 70% lực lượng lao động trong nông
nghiệp, do đó cũng ở trong bối cảnh chung nói trên.
Kinh tế hộ sản xuất phát triển đã góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn
nhân lực ở nông thôn, tạo công ăn việc làm cho các lao động nhàn rỗi, góp phần
giải quyết phần nào số lao động đang thất nghiệp.
b. Kinh tế hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường thúc đẩy sản
xuất hàng hoá, thúc đẩy phân công lao động dẫn tới chuyên môn hoá.
Với tinh thần tự chủ, năng động và sáng tạo,kinh tế hộ sản xuất đã sớm thích
ứng với những biến đổi thường xuyên của thị trường và ngày càng khẳng định vai

202/CT về cho vay hộ sản xuất. Chỉ thị nêu rõ "Việc cho vay của Ngân hàng để
phát triển nông – lâm – ngư nghiệp cần được chuyển sang cho vay trực tiếp đến
hộ sản xuất, tạo điều kiện cho các hộ sản xuất ở nông thôn thực sự trở thành đơn
vị kinh tế tự chủ”. Chỉ thị 202/CT có ý nghĩa rất quan trọng, chính thức công nhận
cho vay trực tiếp hộ nông dân là một chính sách của chính phủ, một hoạt động
quan trọng của Ngân hàng. Như vậy chỉ thị 202 đã giúp cho hộ sản xuất mà chủ
yếu là hộ nông dân tiếp cận đựơc với nguồn vốn vay, tạo điều kiện cho kinh tế hộ
phát triển.
Thực hiện nghị định 14/CP và, ngày 2/9/1993 Chủ tịch hội đồng quản trị
kiêm tổng Giám đốc Phạm Văn Thực ban hành đặt dấu ấn quan trọng về biện pháp
- 17 -
cho vay hộ nông dân.
Với việc ra đời của nghị định 14/CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ, thông tư
số 01/TT-NH1 ngày 26/03/1999 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước và văn bản
499A/NHNo-TDNT đã tạo tiền đề cho kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển.
Tuy nhiên so với yêu cầu CNH – HĐH nông nghiêp, nông thôn và nhu cầu vốn để
phát triển sản xuất hàng hoá của các hộ nông dân thì hoạt động tín dụng đối với hộ
nông dân còn bất cập, hạn chế. Cụ thể như: Điều kiện cho vay vốn đối với hộ nông
dân còn khó khăn, nhất là yêu cầu về tài sản thế chấp " vay dưới 500.000 đồng
không phải thế chấp tài sản nhưng phải có vật tư tương đương đảm bảo; vay từ
500 ngàn đồng đến 10 triệu đồng phải thế chấp hoặc cầm cố tài sản, bảo lãnh của
bên thứ ba, nếu ko thì phải có vật tư tương đương đảm bảo; vay từ trên 10 triệu
đồng nhất thiết phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh" trong khi đó giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) đựoc cấp ít, nên nhiều hộ không đủ điều
kiên vay vốn.
Xuất phát từ thực tế nói trên, để giải quyết các khó khăn vướng mắc nhằm
thúc đẩy tín dụng đối với kinh tế hộ phát triển, ngày 30/3/1999 Thủ tướng Chính
Phủ ban hành quyết định số 67/1999/QĐ-TTg về một số chính sách tín dụng ngân
hàng phục vụ phát triển nông nghiệp,nông thôn. Quyết định 67 ra đời tạo điều kiện
thông thoáng hơn cho hộ sản xuất vay vốn phát triển kinh tế. “Đối với hộ gia đình,

hành đã mở rộng vốn cho vay vào các mục đích “ Sản xuất nông – lâm – ngư
nghiệp; dịch vụ phục vụ sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp; phát triển công nghệ
chế biến nông sản và tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn; tiêu thụ sản phẩm nông -
lâm - ngư nghiệp và sản phẩm tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn." Như vậy cho
vay hộ nông nghiệp không giới hạn ở sản xuất nông nghiệp là trồng trọt và chăn
nuôi mà mở rộng đến mọi lĩnh vực kinh tế ở nông thôn, tạo lập thị trường sản xuất
lưu thông hàng hoá ở nông thôn.
- 19 -
d. TDNH là kênh truyền tải vốn tài trợ của Nhà nước, vốn uỷ thác đầu tư nước
ngoài đối với nông nghiệp, nông thôn.
Thông qua tín dụng ngân hàng nguồn vốn tài trợ của nhà nước, vốn uỷ thác
đầu tư của nước ngoài đã đến được với hộ nông dân thông qua các chương trình
2561 của Ngân hàng Thế giới, quỹ AFD của Pháp, dự án ADB của Ngân hàng
phát triển Châu Á.
2.1.3. Hiệu quả tín dụng đối với hộ sản xuất
2.1.3.1 Quan niệm về hiệu quả tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường bất kỳ một loại sản phẩm nào sản xuất ra cũng
phải là sản phẩm mang tính cạnh tranh. Điều này có nghĩa là mọi sản phẩm sản
xuất ra đều phải có chất lượng. Các nhà kinh tế đã nhận xét “chất lượng là sự phù
hợp mục đích của người sản xuất và người sử dụng về một loại hàng hóa nào đó”.
Tín dụng là phạm trù kinh tế mang tính lịch sử, ra đời và tồn tại trong nền kinh
tế sản xuất và trao đổi hàng hóa. Nó là một trong những sản phẩm chính của Ngân
hàng. Đây là hình thức sản phẩm mang hình thái phi vật chất, là dịch vụ đặc biệt.
Sản phẩm này chỉ có khả năng đánh giá được sau khi khách hàng đã sử dụng. Do
vậy có thể quan niệm chất lượng tín dụng Ngân hàng là việc đáp ứng nhu cầu của
khách hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển Ngân hàng và mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội.
Như vậy, chất lượng tín dụng ngân hàng được thể hiện qua các quan điểm sau:
- Đối với khách hàng: Tín dụng Ngân hàng đưa ra phải phù hợp với yêu cầu
của khách hàng về lãi suất (giá sản phẩm), kỳ hạn, phương thức thanh toán, hình

những thành tựu to lớn, nhất là ngành nông nghiệp. Nhiều vùng của đất nước đã
chuyển dịch nền cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn để ngày càng có nhiều
hàng hóa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế quốc dân. Làm được điều này , trong
- 21 -
nền kinh tế nông nghiệp không thể không nhờ vào sự đóng góp của
NHNo&PTNT Việt Nam về việc đưa vốn đến tận tay người nông dân thông qua
công tác cho vay.
Hơn 15 năm qua, NHNo&PTNT Việt Nam ( Agribank) đã nỗ lực hết mình,
đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển nông nghiệp, nông thôn vì sự thịnh vượng
của bà con nông dân. Đến nay Agribank đã tiếp cận được 100% tổng số hơn
12.000 đơn vị hành chính xã của cả nước. từ năm 1991 đến nay, đã có hàng chục
triệu lượt hộ sản xuất được vay vốn doanh số gần 500.000 tỷ đồng, dư nợ cho vay
hộ sản xuất đến nay là 113.000 tỷ đồng, với gần 10 triệu hộ. Cho vay vốn hộ sản
xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh, đặc biệt từ sau
quyết định 67/1999/QĐ-TTg. Đại diện cho vay cũng như các kênh dẫn vốn tới hộ
sản xuất, doanh nghiệp cũng được mở rộng, phát triển khắp các vùng kinh tế của
đất nước, trở thành tín dụng chủ yếu của các chi nhánh thuộc khu vực nông thôn.
Thông qua các tổ chức chính trị xã hộ ở cơ sở, đến nay, đã có hơn 110.000 tổ cho
vay vốn do các tổ viên hội nông dân thành lập. Hoạt động tín dụng của Agribank
thực sự gắn với làng, bản, xóm, thôn gần gủi với bà con nông dân. Vốn cho vay đã
tạo thêm nghề mới, khôi phục các làng nghề truyền thống, góp phần chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, công
nghiệp dịch vụ. Đặc biệt Agribank đã đáp ứng với khối lượng lớn cho các hộ gia
đình làm kinh tế trang trại với số tiền trên 10.000 tỷ đồng; cho xây dựng cơ sở hạ
tầng nông thôn ( điện, thủy lợi, nhà ở) tới hàng ngàn tỷ đồng. góp phần thực hiện
một bước CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn
2.2.2 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới trong hoạt động tín dụng nông
thôn.
Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng giúp người nghèo vượt ra khỏi đói nghèo
bằng cách nuôi sống các hoạt động tạo thu nhập. Trong nhiều thập niên vừa qua,

quản trị, Bộ trưởng bộ tài chính là chủ tịch
- 23 -
Về Vốn: Chính phủ cấp 100% vốn tự có, các NHTM khác phải dành 20% số
dư tiền gửi để cho vay nông nghiệp ( gửi vào BAAC hoặc cho vay khu vực nông
nghiệp). Vốn huy động của BAAC rất cao chiếm 90% tổng nguồn vốn. Ngoài ra
BAAC còn được hưởng các khoản vay ưu đãi đặt biệt do Chính phủ ký hiệp định
với nước ngoài , do các tổ chức ngân hàng, tài chính quốc tế như WB (World
bank), ADB (Asian Development Bank), OECF (ovesea Economic Corporation
Fund) cấp vốn lãi xuất thấp.
Trong tổng dư nợ của BAAC có 30% cho vay trung hạn và 70% cho vay
ngắn hạn, gồm 87% cho vay trực tiếp hộ nông dân và 13% cho vay qua nhóm hộ
nông dân và hợp tác xã.
Hoạt động tín dụng của BAAC gồm: hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông
thôn, thực hiện và kiểm soát TD thuộc nguồn vốn Chính phủ cấp cho nông
nghiệp, cho vay hoạt động sản xuất, tiêu thụ nông sản và các hoạt động liên quan
đến nông nghiệp.
• Ở Malaisia
Ngân hàng nông nghiệp Malaysia (BPM) là NHTM quốc doanh được Chính
phủ cấp vốn tự có 100% và cho vay ưu đãi để tạo nguồn vốn hoạt động. BPM là
công cụ của Nhà nước để góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội vùng
nông thôn trong quá trình sản xuất nông nghiệp.
Để khuyến khích và góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, các
NHTM phải gửi 20,5% số dư tiền gửi và huy động tiết kiệm cho đầu tư nông
nghiệp của BPM vào NHTM Malaysia.
BPM được hưởng ưu tiên các khoảng ưu đãi đặc biệt do Chính phủ ký hiệp
định với nước ngoài, được hưởng thuế lợi tức.
BPM chú trọng cho vay trung hạn và dài hạn theo dự án và chương trình tín
dụng đặc biệt BPM cho vay trực tiếp hộ nông dân và qua hợp tác xã TD; cho vay
hộ nông dân nghèo không tính lãi.
- 24 -

Trích đoạn Nguyên nhân của những tồn tại trên kiến của các hộ SXNN về hoạt động cho vay và tình hình sử dụng vốn vay ngân hàng của họ. Về chủ quan Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với hộ SXNN tại nhno&PTNT huyện Chư Prông Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay đối với các hộ SXNN trên địa bàn huyện Chư Prông
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status