-
30
-
Chương 7: Tín
hiệu
Trong một hệ thống truyền thông, dữ liệu được truyền từ một
điểm này đến
một
điểm khác bằng ý nghĩa của các tín hiệu. Một
tín hi
ệu tương tự là một dạng sóng
điện
từ biến đổi một cách liên
t
ục được truyền qua nhiều môi trường truyền khác nhau
phụ
thuộc
vào ph
ổ của chúng. Một tín hiệu số là một chuỗi các xung hiệu
điện thế
(voltage
pulses) có thể được truyền qua một môi trường
truy
ền dẫn có dây; ví dụ, một hằng
số
hiệu điện thế dương có thể
biểu diễn số 1 nhị phân và một hằng số hiệu điện thế âm
có
thể
biểu diễn số 0 nhị
phân.
ại tiếng nói trong khả năng chấp
nhận
được. Phổ chuNn của một
tín hiệu tiếng nói là từ 300 đến 3400 Hz đủ để phát sinh
lại
tiếng
nói. Ph
ổ chuNn này làm giảm được độ yêu cầu về khả năng truyền
t
ải của
môi
trường truyền và nó cho phép người sử dụng có thể
sử dụng hệ thống điện thoại
với
giá thành rẻ. Do đó, hệ thống
truy
ền của điện thoại sẽ chuyển đổi tín hiệu âm
thanh
đầu vào
thành m
ột tín hiệu điện từ có tần số từ 300 đến 2400 Hz. Tín
hi
ệu này sau
đó
sẽ được truyền qua hệ thống điện thoại đến hệ
thống thu của điện thoại nhận và
hệ
thống này sẽ làm nhiệm vụ
-
31
và
cường độ
của nó phụ thuộc vào độ sáng của điểm tương ứng trong cảnh
đang
quay.
Hình 2.10a minh họa 3 dòng của tín hiệu video. Trong hình
v
ẽ này, màu
trắng
được biểu diễn bằng hiệu điện thế dương nhỏ
hơn
và màu đen được biểu diễn
bằng
hiệu điện thế dương lớn
hơn. Ví dụ, dòng 3 là dòng biểu diễn cấp độ sáng trung
bình
tại
h
ầu hết các điểm và biểu diễn độ sáng trắng tại vài điểm ở giữa.
Khi tia
electron
này hoàn thành một dòng quét từ trái sang phải,
nó s
ẽ quay lại theo chiều ngang
về
biên trái để tiếp tục tiến
trình quét dòng ti
ếp theo. Trong thời gian tia này quay
lại,
hình
trở lại đỉnh và điều này yêu cầu các xung trống với thời gian diễn
ra l
ớn hơn. Điều
này
được minh họa trên hình 2.10b. Xung trống
d
ọc thực tế là một chuỗi các xung đồng
bộ
và các xung trống. Chi
ti
ết về xung trống dọc không cần phải thảo luận ở
đây.
Tiếp theo, ta hãy xét đến thời gian của hệ thống. Ở phần trước
ta đã biết rằng
có
tổng cộng 483 dòng được quét với tốc độ 30 lần
quét hoàn thành trong 1 giây.
Đây
là
khoảng thời gian xấp xỉ với
khoảng thời gian quay trở lại theo chiều dọc. ChuNn
thực
tế của Mỹ là 525 dòng, nhưng trong số này, có 42 dòng bị mất
trong quá trình quay
trở
lại theo chiều dọc. Do đó, tần số
quét ngang
là
512
dòng
ảnh quay là
cảnh
đan xen liên tiếp giữa màu đen và
màu tr
ắng. Ta có thể tính toán giá trị tần số lớn
nhất
bằng cách
xem
độ phân giải của hình ảnh video là bao nhiêu. Theo chiều
d
ọc, có
483
dòng, vì vậy, độ phân giải tối đa theo chiều dọc là
483. Ki
ểm nghiệm thực tế cho
thấy
độ phân giải tối đa chỉ
bằng 70% độ phân giải này cho nên độ phân giải tối đa thực
tế
theo chiều dọc sẽ là 338 dòng. Vì tỷ lệ chiều rộng: chiều cao
c
ủa màn hình TV là
4:3
cho nên độ phân giải tối đa theo chiều
ngang s
ẽ là 4 x 338/3 = 450 dòng. Trong
trường
hợp tồi nhất,
m
ột dòng quét sẽ bao gồm 450 thành phần đan xen giữa đen
dải
thông cỡ
khoảng 4
MHz.
Cuối cùng, ví dụ thứ ba được đưa ra ở trên là một trường
h
ợp chung của dữ
liệu
số. Thông thường, tín hiệu được sử
dụng để biểu diễn loại dữ liệu này bao gồm 2
mức
giá trị hiệu
điện thế hằng, một mức giá trị cho bit 1 và mức còn lại cho bit
-
35
-
0.
(Trong
Chương 4, ta sẽ thấy đó chính là mã NRZ). Điều
này, v
ới từng trường hợp cụ thể
sẽ
phụ thuộc vào dạng sóng
và trình t
ự các bit 1 và
0.