Bài học Đạo đức Doanh nhân từ văn
học dân gian
Trong xã hội cổ truyền, trong cái gọi là dân, dân chúng, có các
nhà Nho bình dân (không tham chính), nông dân, thợ thủ công và
người buôn bán (đại đa số là buôn bán nhỏ). Quan niệm của
người dân xưa về các nhà buôn lớn và những người buôn bán
nhỏ đuợc thể hiện một cách lưỡng phân qua truyện dân gian, ca
dao, tục ngữ và phong tục tập quán.
1. Những hình ảnh chưa đẹp về người buôn xưa
Trong truyện "Cái cân thuỷ ngân", tác giả dân gian kể rằng, có
cặp vợ chồng nhà buôn nọ người ta cho là có hồng phúc. Thực ra
họ là phường buôn gian bán lận. Họ chế ra một cái cân cán rỗng,
trong đổ mấy giọt thuỷ ngân, hai đầu bịt đồng, trông bề ngoài
giống trăm nghìn cái cân khác. Thành ra họ muốn cân già cũng
được, muốn cân non cũng được. Cân già thì dốc cán cân về phía
quả cân, mấy giọt thuỷ ngân sẽ về phía ấy, cân non thì dốc cán
cân về phía đằng đĩa cân, mấy giọt thuỷ ngân sẽ chạy về phía
này. Cũng cái cân này khi bán hàng thì khác, mà khi mua hàng
thì khác, bao giờ phần lợi cũng thuộc về họ. Ai kêu ca, họ nói
trơn như nước chảy: “Thì các ông các bà cứ xem mặt cân. Nó có
thiên vị ai đâu! Chúng tôi buôn bán ngay thật chỉ lấy công làm lãi,
chứ hay gì cái thói lừa đảo buôn năm bán mười. Tội để cho ai?
Giàu như thế có bền đâu!”.
Truyện "Con mụ Lường" khắc hoạ hình ảnh một người đàn bà
gian xảo. Bằng vẻ sang trọng, tốt bụng bề ngoài, mụ đã lừa gạt
không biết bao nhiêu người, làm cho họ mất hết hàng hoá, tài
sản, trở thành nông nô cho mụ, phải làm việc quần quật nhiều
năm trời, bặt tin người thân.
Một thói xấu của những nhà buôn lớn là thói háo sắc. Trong
truyện "Sự tích con muỗi", một khách thương sang trọng, thấy
nhan sắc vợ người diễm lệ thì nảy tà tâm, dùng tiền của và lời lẽ
tính nết tốt của những người tuỳ tùng, tin tưởng vào sự thông
minh, chung thuỷ của vợ, chàng đã nghĩ cách để bán thân mình
và nhờ đó những kẻ tuỳ tùng được trả tự do, vợ chồng lại được
đoàn tụ và có ngờ đâu của cải lại giàu lên gấp bội.
Trong truyện "Người đàn bà bị vu oan", nếu người lái buôn tên
Lý Thông không tin vào sự chính chuyên của phụ nữ, thì người
lái buôn tên là Tình lại khẳng định sự đoan chính, tiết hạnh của
người phụ nữ, nhất là người vợ của chàng, một người đã đẹp
người lại tốt nết.
Trong ca dao, tục ngữ cũng có nhiều lúc người dân xưa thông
cảm với nỗi vất vả của người buôn bán:
- “Đi buôn bữa lỗ bữa lời/ ra cãi giữa vời bữa có bữa không”.
- “Làm bạn với sông giang mất cả quang lẫn gánh”.
(Đi buôn bán phải qua thuyền bè có khi gặp nguy hiểm sông
nước, mất cả vốn).
- “Nằm đất hàng hương hơn nằm giường hàng cá”.
- “Thứ nhất thì mồ côi cha, thứ nhì gánh vã, thứ ba kéo thuyền”.
Dường như người bình dân chủ yếu hướng tới sự chê bai, bày tỏ
thái độ thiếu thiện cảm với lái buôn gia súc, với những người
buôn bán lớn, những người buôn bán ở đô thị sau này. Còn đối
với những người làm nghề buôn bán nhỏ, đặc biệt là đối với
những người phụ nữ buôn bán nhỏ thì tình cảm, sự nhìn nhận,
đánh giá của người bình dân lại khác.
Bởi người phục nữ buôn bán đâu phải vì mình, mà vì những
người khác, vì để nuôi con nên người, vì mẹ già bóng xế:
- "Bấy lâu buôn bán nuôi ai,
Cái áo em rách cái vai em mòn?"
- " Bấy lâu buôn bán nuôi con,
Áo rách mặc áo, vai mòn mặc vai !"
Trong xã hội cổ truyền, nguời vợ tần tảo buôn bán nuôi chồng ăn
học là một hình mẫu đẹp:
Em ơi, em ở cho ngoan!
Một hai năm nữa lo toan cửa nhà.
Em ơi đừng phụ mẹ già!
Một hai năm nữa lo nhà cho anh.
Em thời buôn bán cho lanh,
Để anh chăm chỉ học hành cho thông.
Mai sau anh đậu quân công,
Em làm chính thất xem trông cửa nhà.
Trước thời nên thất nên gia,
Sau thời trả nghĩa mẹ cha sinh thành.
3. Từ bảng xếp loại "Tứ dân" thời quân chủ và cái nhìn phân cực
của người dân xưa đến cái nhìn cách mạng trong thời đại Hồ Chí
Minh về doanh nhân Việt Nam.
3.1/ Dưới thời quân chủ, nhìn chung nghề buôn được đánh giá
thấp hơn nghề nông. Trong bảng xếp hạng về bốn loại dân thì
người buôn bán đứng cuối cùng, "sĩ, nông, công, thương".
3.2 / Người xưa ít thấy tác dụng to lớn của nghề buôn, “chưa biết
đầu tư vốn nhằm mở rộng sản xuất để sinh lợi”. Thời nhà Mạc
được đánh giá là “thời kỳ mở cửa nền kinh tế, mà ở đó sản xuất
thủ công và buôn bán khá sôi động”. Thời này có nhà sản xuất
gốm nổi tiếng Đặng Huyền Thông. Vợ chồng ông rất giàu có. Ấy
vậy mà khi về già, ông không mở rộng sản xuất kinh doanh mà lại
“bỏ ra khá nhiều tiền bạc để xây dựng nên một ngôi chùa (chùa
An Định cho làng) và mua ruộng làm hưong hoả”.
3.3 / Từ những điều nêu trên, chúng ta thấy một mặt, tác giả dân
gian cũng hiểu rằng “phi thương bất phú”, mặt khác họ lại nghĩ
rằng, sự giàu có do nghề buôn bán đem lại không đáng kể:
nguồn từ thành công của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi
xướng và lãnh đạo thực hiện. Thủ tướng mong muốn doanh
nghiệp và doanh nhân Việt Nam nâng cao trình độ ngang tầm khu
vực và quốc tế, góp sức xây dựng thành công sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện cho được mục tiêu
đến năm 2020, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp.
Trên con đường tiến lên phía trước của doanh nhân Việt Nam,
thiết nghĩ, bài học về đạo lý của ngưòi buôn bán đã được khắc
hoạ trong sáng tác dân gian cổ xưa vẫn luôn luôn có ý nghĩa thời
sự.