MỞ ĐẦU
Trong tiến trình đổi mới đất nước, xây dựng cơ sở hạ tầng toàn diện, sâu
sắc, triệt để là nhiệm vụ hàng đầu, đồng thời cũng là điều kiện tiên quyết để các
ngành khác có điều kiện vật chất phát triển. Do đó nhiều công trình, hạng mục
công trình đã được đầu tư xây dựng với mục tiêu thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã
hội, giáo dục, y tế… đặc biệt là đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đất nước. Tình hình đó đòi hỏi các doanh nghiệp xây lắp đã và đang chuyển
mình để đạt dược những thành tựu đáng khích lệ, song song với nó là công tác kế
toán được quan tâm chỉ đạo xát sao, có nhiều sự điều chỉnh thích hợp với tốc độ
phát triển. Nhiều mô hình đã được đề xuất áp dụng nhưng thực tiễn đã chứng tỏ
quản lý chí phí theo phương thức khoán là phù hợp nhất, hiệu quả nhất.
Với sự quan tâm, hướng dẫn của các thầy cô trong Khoa Kế toán, nhằm
mục đích cho sinh viên chuyên ngành đi sâu tìm hiểu và có cách nhìn sâu rộng
về một nội dung của công tác kế toán đặc thù. Vì vậy, em đã thực hiện nghiên
cứu đề tài về Kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp kinh doanh xây lắp
theo phương thức khoán, để thấy được những đổi thay nhanh chóng của vấn đề
đang được nhiều ngành, nhiều cấp quan tâm.
Nội dung kết cấu cơ bản của Đề án, bao gồm:
Phần 1: Khái quát chung về khoán kinh doanh xây lắp
1. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh xây lắp.
2. Khoán – Phương thức quản lý thích hợp của cơ chế thị trường
Phần 2: Thực trạng hạch toán kế toán chi phí sản xuất kinh doanh trong
điều kiện khoán kinh doanh xây lắp
1. Thời kỳ trước năm 1998
2. Đặc điểm hạch toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
theo phương thức khoán từ 1998 đến nay
Phần 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất kinh
doanh theo phương thức khoán
lượng công trình.
-Chính những đặc điểm nêu trên đã quyết định đến quá trình tổ chức công tác
kế toán có đặc trưng riêng biệt so với các ngành công nghiệp khác như:
+ Đối tượng hạch toán chi phí có thể là hạng mục công trình, các giai đoạn
công việc của hạng mục công trình hoặc nhóm các hạng mục công công
trình… từ đó xác định phương pháp hạch toán chi phí thích hợp.
+ Đối tượng tính giá thành là các hạng mục công trình đã hoàn thành, các
giai đoạn công việc đã hoàn thành, khối lượng xây lắp có tính dự toán riêng
đã hoàn thành… từ đó xác định phương pháp tính giá thành thích hợp như
2
phương pháp tính trực tiếp, phương pháp tổng cộng chi phí, phương pháp hệ
số hoặc tỉ lệ.
+ Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất thường áp dụng phương pháp
hạch toán trực tiếp đối với chi phí nguyên vật liệu, nhân công trực tiếp, chi
phí sử dụng máy thi công. Riêng chi phí sản xuất chung thường được tập hợp
theo đội xây dựng, công trường xây dựng sau đó phân bổ cho từng công trình,
hạng mục công trình theo tiêu thức phù hợp.
2. Khoán – Phương thức quản lý thích hợp của cơ chế thị trường.
2.1 Khái niệm:
Phương thức khoán là việc khoán sản phẩm xây lắp cho xí nghiệp xây lắp
thành viên, các tổ đội thi công.
2.2 Phân loại:
2.2.1 Mô hình tổ chức doanh nghiệp xây lắp phổ biến hiện nay.
-Các đơn vị thành viên hạch toán độc lập là đơn vị hoạt động dựa vào tư cách
pháp nhân của công ty. Công tác điều hành quản lý sx kinh doanh tuân thủ sự ủy
quyền và phân cấp của giám đốc công ty. Công tác hạch toán kế toán theo mô
hình tổ chức kế toán công ty và chịu sự điều hành của kế toán trưởng công ty.
Các đơn vị này chịu trách nhiệm hạch toán đầy đủ các chỉ tiêu để lập báo cáo
KQKD và lập bảng CĐKT.
CÔNG TY XÂY LẮP
trình và thời gian thi công.
Tuy nhiên hiện nay việc khoán gon còn có hiện tượng “khoán trắng”, đơn vị
giao khoán chỉ quan tâm đến các khoản phải thu của đơn vị nhận khoán, chưa
giám sát chặt chẽ sẽ chi phí dẫn đến việc xây dựng giá thành thực tế không chính
xác. Trong khi đó các đơn vị nhận khoán thường tính theo giá nhận khoán không
xây dựng được khoản lãi do hạ giá thành.
* Phương thức khoán gọn khoản mục chi phí:
Theo phương thức này đơn vị giao khoán chỉa khoán các khoản mục chi phí
nhất định (thường là tiền công) còn các khoản chi phí khác do đơn vị tự chi phí
và hạch toán, tự chịu trách nhiệm giám sát kỹ thuật và chất lượng công trình.
Phương thức này chỉ áp dụng cho các tổ đội thi công không có đủ điều kiện tự
cung ứng vật tư, giám sát kỹ thuật và chưa thực hiện hạch toán kinh tế.
2.2.3. Quy chế khoán:
Đứng trước tình hình “thất thoát vốn” hiện nay ở các công trình, hạng mục
công trình xây lắp, đặc biệt với nhà nước là chủ đầu tư, thì quy chế khoán của
doanh nghiệp xây lắp cần phải được xây dựng một cách thống nhất, công khai
toàn doanh nghiệp về giá giao khoán, cơ chế phân phối lợi nhuận và xây dựng rõ
trách nhiệm, quyền lợi của từng bên.
4
PHẦN II:
THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH
XÂY LẮP TRONG ĐIỀU KIỆN KHOÁN KINH DOANH XÂY LẮP
1. Thời kỳ trước năm 1998:
Quản lý chi phí là nội dung hết sức quan trọng và thường được xem như cái
“lõi” của quản lý kinh tế trong đầu tư xây dựng trong suốt thời kỳ kế hoạch hóa
tập trung, giá xây dựng và quản lý chi phí thống nhất được xem là chuẩn mực
mang tính nguyên tắc để quản lý vốn đầu tư xây dựng của Nhà nước.
Hơn 15 năm đổi mới, tính đa dạng của vốn đầu tư gắn với đa dạng hóa chế độ
sở hữu trong nền kinh tế nhiều thành phần, hoạt động trong khuôn khổ cạnh
tranh có định hướng và điều tiết của nhà nước thì giá xây dựng thống nhất và cơ
công nhân hợp đồng (khoản chi phí này không bao gồm các khoản trích BHXH,
BHYT, KPCĐ, tiền ăn ca của công nhân trực tiếp xây lắp).
-Chi phí sử dụng máy thi công: là chi phí cho các máy thi công nhằm thực hiện
khối lượng xây lắp bằng máy (không được tính vào chi phí này các khoản trích
theo lương, tiền ăn ca của công nhân điều khiển máy thi công)
-Chi phí sản xuất chung: là các chi phí của đội, công trình xây dựng gồm có
tiền lương của nhân viên, các khoản trích theo lương của công nhân viên, tiền ăn
ca của công nhân viên, các chi phí vật liệu công cụ, chi phí khấu hao, phí mua
ngoài bằng tiền… mà liên quan đến đội và công trình xây dựng.
Vì phương thức khoán được chia làm hai hình thức khoán nên sẽ có hai
phương pháp hạch toán kế toán khác nhau nhưng những nội dung chi phí sản
xuất trên đều là cốt lõi cấu thành nên thực thể công trình, hạng mục công trình
xây lắp.
2.2 Kế toán chi phí sản xuất trong phương thức khoán gọn công trình, hạng mục
công trình:
2.2.1. Về chứng từ kế toán:
*Hợp đồng giao khoán: Ngoài những tác dụng của chứng từ kế toán, các
điều khoản ghi trong hợp đồng là căn cứ quan trọng để xử lý các vi phạm trong
quá trình thực hiện hợp đồng, là cơ sở để thanh toán quyết toán giữa hai bên giao
và nhận khoán và quy định trách nhiệm vật chất sau khi hoàn thành hợp đồng.
Điều đó đòi hỏi khi ký kết hợp đồng phải đảm bảo nội dung các điều khoản rõ
rang, chặt chẽ, chi tiết.
*Các chứng từ về chi phí phát sinh:
- Hóa đơn mua hàng nguyên vật liệu, dịch vụ mua ngoài…
- Phiếu nhập.
- PHiếu xuất.
- Giấy đề nghị tạm ứng và thanh toán tạm ứng.
- Các giấy tờ, bảng kê liên quan đến tiền lương.
*Các văn bản quản lý của giám đốc doanh nghiệp:
Quá trình thực hiện hợp đồng giao khoán, thực chất là quá trình sản xuất sản
Có TK 111, 112, 152
- Khi phát sinh các khoản chi phí thuộc nội dung chi phí quản lý, kế toán
ghi:
Nợ TK 642
Có TK liên quan
- Khi phát sinh các chi phí tại doanh nghiệp không thuộc nội dung chi phí
quản lý, kế toán ghi:
Nợ TK 632
Có TK liên quan
- Khi công trình hoàn thành giao cho bên A, kế toán ghi:
Nợ TK 131: giá thanh toán
7
Có TK 511: Phần thu nhập của doanh nghiệp (tỷ lệ để lại
doanh nghiệp)
Có TK 336: giá giao khoán cho đơn vị nhận khoán
- Khi thanh toán với đơn vị nhận khoán, kế toán ghi:
Nợ TK 336 (giá giao khoán)
Có TK 141 (số đã ứng trước)
Có TK 111, 112 (số còn lại)
- Cuối kỳ, kết chuyển doanh thu xây dựng kết quả:
Nợ TK 511
Có TK 911
- Kết chuyển chi phí để xây dựng kết quả:
Nợ TK 911
Có TK 632, 642
- Xây dựng lỗ lãi phải thu của đơn vị nhận khoán:
Nợ TK 141
Có TK 421
- Xây dựng thuế GTGT đơn vị nhận khoán phải nộp
Nợ TK 141