Máy phát điện sử dụng trấu - Pdf 16

Máy phát điện sử dụng trấu
Máy phát điện sử dụng trấu
Trấu là loại rác thải trong nông nghiệp, sẽ trở thành chất đốt để sản xuất điện với
giá rẻ hơn 30% so với mức giá hiện nay và đã được ông Giám đốc Ronnie Lo giới
thiệu tại cuộc hội thảo về máy phát điện sử dụng trấu, tổ chức tại Cần Thơ ngày
1/11/2003 do Công ty TNHH Năng lượng Sinh khối Jiangxi Peako (Trung Quốc),
thuộc Công ty Peako - Hồng Công sáng chế.
Sự hấp dẫn nhất của máy phát điện

chạy bằng trấu là giá sản xuất điện thấp. Theo
tìm hiểu của ông Ronnie Lo, các nhà máy sản xuất thép, xi măng, chế biến thủy, hải
sản,v.v của Việt Nam thường sử dụng điện ở mức độ lớn, có nhà máy phải tốn hơn
một tỷ đồng/tháng cho chi phí này. Vì thế, nếu sử dụng điện từ nguồn này, các nhà

ở các động cơ khí đốt pít-tông đến máy phát
điện để tạo ra điện năng.
Tiêu chí mà Công ty Peako đặt ra khi sản xuất chiếc máy phát điện kiểu này là
sản xuất điện giá rẻ, cải thiện môi trường. Khi vận hành, máy tạo ra khí H
2
, CH
4
, CO.
Nguồn khí này đi qua thiết bị tách bằng gió để loại bỏ các hạt thô, sau đó làm sạch và
làm nguội bằng nước. Công nghệ này có quy trình xử lý khí chính xác. Lượng nước
tiêu thụ rất nhỏ (dưới 0,5 lít/kwh) và dòng chảy được xử lý tuần hoàn dễ dàng để tái sử
dụng, hạn chế được việc gây ô nhiễm cho môi trường.
Dù chỉ mới chính thức chào hàng ở thị trường Việt Nam từ tháng 6/2003 , nhưng
ông Ronnie Lo tin tưởng khách hàng sẽ chấp nhận máy phát điện nói trên bởi những
ưu việt của công nghệ này. Sau các cuộc hội thảo và quảng bá, rất nhiều người đã tìm
đến Công ty Peako để hỏi thêm thông tin. Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Môi
trường, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cũng đánh giá rất cao công
nghệ này

Nguồn: Thời báo Kinh t
ế Sài Gòn, 8/11/2003

Làm sạch chất thải độc hại bằng sinh học

Các enzim, vi khuẩn và nấm đang được đưa vào ứng dụng làm sạch ô nhiễm đô
thị; ô nhiễm công nghiệp, khu vực khai thác mỏ, chất thải có nguồn gốc là thuốc trừ
sâu và những vùng nông nghiệp bị ô nhiễm do sử dụng hoá chất.
Tiến sỹ John Oakeshott thuộc Tổ
chức Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Ô-xtrây-lia (CSIRO) cho rằng, việc
x

ả năng của các ngành công nghiệp mới
trên cơ sở sử dụng các quy trình xử lý và các chất liệu sinh học. Một cách tiếp cận mới
là phát triển quy trình xử lý gốc enzim để khử độc các chất cặn ở các khu vực nước
thải trong sản xuất nông nghiệp, xử lý công nghiệp.
Nguồn: CSIRO, 11/2003
EPA thông qua công nghệ phát hiện Colitag E.coli đảm bảo an toàn cho
nước uống
Chỉ số vật giá hàng tiêu dùng (CPI International, California, CA) đã được Cơ
quan bảo vệ môi trường (EPA) thông qua. Phương pháp thử nghiệm của CPI dùng để
phát hiện vi khuẩn coli trong nước uống công cộng đã được đăng ký sản phẩm là
Colitag (TM) .
David Hejl, chủ tịch/ trưởng điều hành của CPI cho rằng, đây là một sự kiện nổi
bật sau 7 năm nỗ lực của công ty nhằm đảm bảo mức độ an toàn cao khi thử nghiệm
nước uống công cộng. Các phòng thí nghiệm tư nhân và các c
ơ quan trực thuộc thành
phố cũng như các tổ chức chính quyền có trách nhiệm về việc xét nghiệm nước, hiện
nay có thể bảo vệ công chúng bằng độ tin cậy đối với sản phẩm xét nghiệm này.
Colitag (TM) do tiến sĩ George Chang, giáo sư Trường Đại học California ở
Berkeley phát triển từ đầu những năm 1990. Theo TS. Chang, Colitag (TM) khác hẳn
các phương pháp xét nghiệm trước đây đã được EPA chấp nhận trong 10 năm qua vì
có thể xác định được loại E.Coli yếu, song không bị diệt bằng các biện pháp xử lý
nước. TS. Chang nhận xét “nếu xử lý không triệt để có thể sẽ có những mầm bệnh gây
hại vẫn có thể phục hồi trong cơ thể người nào đó và gây ra bệnh nguy hiểm. Một khi,
quy trình xử lý nước không tốt, thì E. coli có thể “tẩu thoát” khỏi quá trình xử lý vệ
sinh và chúng vẫn tồn tại".
Khi được thông báo Colitag (TM) đã được EPA chấ
p thuận thông qua, TS. Chang
cho biết: “hiện nay công chúng sẽ có lợi ích lâu dài về sản phẩm xét nghiệm nước
cuối cùng.
Colitag (TM) sẽ được hầu hết các tổ chức công cộng sử dụng để xét nghiệm E.

ững điện
tích có khả năng hãm dầu lại, hất ra xung quanh rồi nổi lên, chỉ còn nước lọt xuống
dưới.
Hệ thống được kỹ sư Khánh chế tạo và thử nghiệm từ năm 1997 và đã được Cục
Sở hữu Công nghiệp cấp bằng Sáng chế độc quyền. Máy có thể làm việc liên tục 6
tháng mới phải rửa. Kích thước gọn nhẹ, chỉ bằng 1/6 máy ngo
ại nhập cùng công suất
và rẻ hơn máy ngoại từ 1,5 đến 2 lần. Công nghệ này thực chất là ứng dụng phối hợp
hệ thống tách dầu SOW-TD có công suất cao (do ông Khánh sáng chế), với một bể
chứa dầu không đáy. Kết cấu của "thùng chứa dầu không đáy" cũng rất đơn giản: được
làm bằng kim loại có tiết diện hình trụ và không có đáy, với kích thước tùy định.
Thùng được g
ắn kết vào xà lan ứng cứu, bên trong thùng sâu dưới mặt nước gắn một
hệ thống tách dầu - nước.
Khi xảy ra sự cố tràn dầu, người ta sẽ sử dụng phao quây, đầu hút skimmer hút
hỗn hợp dầu - nước xả vào hệ thống tách dầu - nước (được lắp sẵn trong thùng không
đáy).
Hệ thống này sẽ lập tức tách dầu cho nổi lên trên, nước tụ phía dưới thùng. Khi
lớp dầu trong thùng cao dần lên t
ới mức 1-2 m, dùng vòi hút lượng dầu sạch này lên xà
lan; trong khi vẫn tiếp tục bơm xả hỗn hợp dầu - nước vào thùng.
Theo tính toán của kỹ sư Khánh, chỉ cần đầu tư dưới 200.000 USD cho một
thùng không đáy như vậy cùng với hệ thống tách dầu - nước, và các chi tiết đi theo là
đủ để sẵn sàng ứng cứu cho các vụ tràn 1.000 tấn dầu.
Nguồn: TBKTVN, VnExpress, 17/2/2004
Vật liệu xử lý nước phèn thành nước ngọt do Việt Nam sản xuất
Vật liệu xử lý nước phèn DS3 - loại vật liệu xử lý nước đầu tiên đượ
c sản xuất ở
Việt Nam theo hiệu ứng tích số tan không những chỉ khử được tính axít của nước mà
còn có thể loại bỏ sắt, nhôm, sunphát và hầu hết các chất gây ô nhiễm khác có trong

muối, vôi để xử lý nước phèn vốn chỉ giúp giảm vị chua trong nước chứ không loại
được kim loại nặng và các chất ô nhiễm khác, công nghệ thùng lọc nước phèn đơn
giản sử dụng DS3 rõ ràng bảo đảm nguồn nước sinh hoạt an toàn hơn cho người dân.
Thời gian sử dụng c
ủa thùng lọc nước phèn khá lâu. Thực tế ở huyện Thủ Thừa cho
thấy sau 2 năm sử dụng, khả năng khử phèn của thùng lọc suy giảm không đáng kể.
Nhìn chung, giá thành xử lý nước phèn theo công nghệ này khoảng 2.000 - 3.000
đồng/m
3
.
Phương pháp xử lý nước phèn sử dụng vật liệu DS3 mang lại lợi ích cả về kinh tế
và xã hội đã được nhiều địa phương ở ĐBSCL lựa chọn để giải quyết nước sinh hoạt
cho dân.
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, 20/2/2004
Xử lý crôm trong nước thải bằng rơm rạ
Từ phế phẩm của nông nghiệp là rơm, rạ, sinh viên Trần Thị Kiều Chinh, khoa
Hóa của Trường đại học Sư phạm Quy Nhơn, Bình Định, đã thực hiện thành công đề
tài nghiên cứu khoa học: "Thăm dò khả năng xử lý crôm trong nước thải bằng rơm rạ".
Đề tài đã được trao giải nhất "Sinh viên nghiên cứu khoa học của trường" và được Bộ
Giáo dục và Đào tạo trao tặng giải thưởng "Sinh viên nghiên cứu khoa học toàn quốc
năm 2003".
Là một nguyên tố kim loại nặng có trong n
ước thải, crôm và các hợp chất của
chúng đều độc, đặc biệt các hợp chất có bậc ôxy hóa cao như cromat, biromat,v.v Vì
vậy, mục đích ban đầu của đề tài là hướng đến xử lý các chất thải này bằng các vật liệu
tự nhiên và nếu có hiệu suất cao thì có thể ứng dụng vào thực tế.
Theo tác giả, rơm, rạ chính là dạng phế phẩm nông nghiệp rất gần gũi với người
nông dân, có quá nhi
ều ở miền đất nông nghiệp mà phần lớn hiện đang có một công
dụng đơn giản là đun bếp. Sở dĩ em chọn nghiên cứu xử lý nước thải vì hiện nay qua

diễn ra một cách tự nhiên trong các khu vực thực vật bị phân hủy như: lá rụng và cây
cối mục nát. Giun ăn cả chất hữu cơ phân hủy và các vi sinh vật.
Chất hữu cơ đi qua hệ thống tiêu hóa của giun sau đó được bài tiết thành khuôn.
Phân ủ được tạo ra theo khuôn này cùng với các chất thả
i hữu cơ khác. Sản phẩm cuối
cùng là chất tinh mịn, có độ xốp, thoáng khí và giữ ẩm tốt.
Phân tích phân ủ do giun tạo ra cho thấy loại phân ủ theo cách này giàu dinh
dưỡng hơn so với đất, canxi nhiều gấp ba lần, nitơ, phốt pho và kali cũng nhiều hơn
vài lần. Phân ủ này chứa tỷ lệ mùn cao. Mùn này giúp các hạt đất hình thành các cụm
tạo các rãnh để không khí đi qua và làm cho khả năng giữ nước tốt hơn. Axít humíc
trong đất mùn t
ạo ra những vị trí liên kết các chất dinh dưỡng trong cây và cung cấp
các chất dinh dưỡng đó theo nhu cầu của cây. Axít humíc giúp ngăn ngừa các mầm
bệnh, nấm, giun tròn và các vi khuẩn gây hại cây.
Phân giun tạo ra là mô đất có hoạt tính sinh học chứa hàng nghìn vi khuẩn,
enzym và các phế thải của cây cối. Quá trình ủ phân sẽ tiếp tục diễn ra sau khi sản
phẩm do giun tạo ra được làm lắng đọng. Hoạt động của vi sinh trong phân giun cao
hơn trong đất 10-20 lần và chất hữ
u cơ cao hơn thức ăn của giun.
Giun là những tác nhân ủ phân nhanh, mỗi ngày chúng có thể ăn chất thải bằng
nửa trọng lượng bản thân, 2000 con giun mỗi tuần có thể ăn 3kg chất thải.
Có rất nhiều loài giun khác nhau, mỗi loài có vai trò riêng trong phân hủy chất
thải hữu cơ. Loài giun phân hủy chất thải hữu cơ tốt nhất là Dedrabaena veneta,
Lumbricus rubellus và Aisenia andreii, giun hổ, giun ăn chất thải trên mặt.
Loài giun này sinh sản rất nhanh, trưởng thành trong 6 tuần, m
ỗi tuần có thể sinh
sản 3 lần trong suốt một năm, đó là tuổi thọ thông thường của chúng. Giun sinh sản có
thể làm kén mỗi tuần 2-3 lần và sẽ nở trong 21 ngày, mỗi kén nở được 2 hoặc ba con
giun, giun trưởng thành trong vòng 60-90 ngày.
Giun hô hấp qua da, do đó cần phải môi trường ẩm để trao đổi không khí. Giun

Tuy nhiên, gần đây của Hoa Kỳ đã phối hợp điều tra nghiên cứ
u vấn đề này cùng
với Cơ quan Bảo vệ Môi trường của quận Cam, Công ty Giun đất Hoa Kỳ và Thành
phố Ocoee, Florida. Nghiên cứu được tiến hành trong hai khu vực: khu vực thứ nhất
trong hai đống chất rắn sinh học (15-20%) đã làm vô hiệu hoá salmonella, các dạng
coli trong phân và các vi khuẩn đường ruột, khu thứ hai, trong hai đống chất rắn sinh
học đã làm vô hiệu hoá chứng giun. Kết quả là tất cả các mức độ mầm bệnh đạt được
nh
ững yêu cầu của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ quy định đối với phân ủ trong
144 giờ.
Những kết quả nghiên cứu của Đại học Mississipi cho thấy rằng phân ủ bằng
giun làm tăng sinh trưởng cây trồng, phát triển rễ, tăng trọng lượng khô, tăng số lượng
hoa ban đầu so với sử dụng phân bằng rêu mùn.
Hàm lượng dinh dưỡng của phân ủ liên quan chặt chẽ với dạng th
ức ăn của giun.
Phân ủ bằng giun nuôi bằng chất thải sinh hoạt không phù hợp để xử lý số lượng lớn
chất thải từ vườn tược và cần phải pha trộn các loại chất thải hữu cơ để hoạt động hiệu
quả .
Phân ủ bằng giun theo quy mô gia đình
Phân ủ bằng giun ở quy mô nhỏ hầu như ít gặp những vấn đề nan giải hơn các hệ
thống phân ủ trên quy mô thương mại. Hệ thống ủ phân trên quy mô gia đình chỉ tận
dụng tốt nhất các chất thải lương thực, thực phẩm với chất thải vườn tược như cỏ, lá
cây thường được ủ thành đống. Quy trình xử lý này tạo ra hai sản phẩm giá trị; phân ủ

và chất lỏng có thể được sử dụng để bón cây trong vườn và trong nhà ươm.
Các thùng ủ phân gia đình chiếm khoảng không gian nhỏ và có thể đặt gần cửa
bếp, ít phát ra mùi hôi vì giun ăn hết chất thải trước khi phân hủy. Để làm thùng nuôi
giun, có thể tận dụng bất kỳ loại thùng hàng nào. Có thể dùng thêm vật liệu đệm lót
như phân bón hoặc phân ủ đã ngấu với một ít giấy báo vụn và một ít giun.
Quần thể giun được hình thành chậm bằng thức ăn bổ sung như bã cà phê, túi chè

Phân ủ bằng giun theo quy mô này thường gặp khó khăn khi kiểm soát nhiệt độ
vì quá trình ủ sẽ sinh ra nhiệt độ cao hơn và thời gian ủ cũng lâu hơn so với các hệ
thống ủ ở quy mô nhỏ. Phần lớn các hệ thống ủ ở quy mô thương mại sử dụng cơ giới
để lấy phân ủ vào giai đoạn cuối của quá trình ủ phân.
Có nhiều ph
ương pháp khác nhau được áp dụng ở quy mô thương mại, chẳng
hạn, một trong những phương pháp ủ phân ở Yelm thuộc Oashington, Hoa Kỳ đã sử
dụng 15 tấn giun đỏ trong quá trình ủ phân và dùng nhiều loại thức ăn cho giun như
phân gia súc, vỏ bào, giấy bìa và chất thải lương thực.
Kết luận
Sử dụng những tập tính tự nhiên của giun để biến các chất thải hữu cơ thành phân
ủ mang lại nhiều lợi ích. Kết quả là: giảm được khối lượng chất thải đáng lẽ cơ quan
chính quyền địa phương phải thu gom mang đi chôn lấp, tiết kiệm tiền của và giảm
những tác động về vận chuyển. ủ phân bằng giun cũng làm thay đổ
i thành phần chất
thải, giảm khả năng gây ô nhiễm. Phân ủ bằng giun tốt và chứa nhiều chất dinh dưỡng
hơn so với phân ủ truyền thống.
Tuy nhiên, quy trình sản xuất phân ủ nhạy cảm hơn phân ủ thông thường và cần
phải rất chú ý, nhất là khi sản xuất ở quy mô lớn.
Phân ủ bằng giun ở quy mô gia đình rất giàu dinh dưỡng, vì vậy khi sử dụng
riêng để bón cây cần phải tr
ộn thêm với đất và các vật liệu khác, do đó kết hợp lý
tưởng là phải có một đống phân ủ thông thường cho các chất thải vườn tược và đống
phân ủ bằng giun dùng cho các chất thải gia đình.
Nguồn: Warmer Bulletin, 1/2004.

Nghiên cứu tái chế bóng đèn huỳnh quang ở Anh
Hiện nay ở Anh, hàng năm có khoảng 100 triệu bóng đèn tuýp huỳnh quang phế
thải và đại đại đa số người sử dụng không có giải pháp nào hơn các thông lệ truyền
thống là vứt bỏ rồi đưa ra bãi thải.

một trong các dạng chất thả
i đang tăng nhanh nhất. Để giải quyết vấn đề này, Chỉ thị
WEEE buộc nhà sản xuất phải có trách nhiệm và sẽ yêu cầu các Công ty phải thu hồi
và tái chế các sản phẩm của họ. Rào cản chủ yếu đối với tái sử dụng các bóng đèn thuỷ
tinh được thu hồi không phải tập trung vào hàm lượng thuỷ ngân mà vào hàm lượng
chì khi vận hành lò nung và các phát tán chì vào không khí. Tuy nhiên, đã có các
phương pháp khắc phục những vấn
đề nan giải này.
Nguồn: Warmer Bulletin, 19/2004
Nhật Bản đang thử nghiệm pin nhiên liệu hyđro không gây ô nhiễm
Một Công ty của Nhật Bản có ý định kiểm tra hệ thống thử nghiệm sử dụng điện
- hyđrô để cung cấp nguồn điện cho các phương tiện giao thông không gây ô nhiễm,
ưu việt hơn dùng nhiên liệu hóa thạch.
Công ty Môtô Honda cho biết cuộc thử nghiệm đối với phương tiện chạy bằng
pin nhiên liệu FCX sẽ b
ắt đầu vào cuối tháng 4 ở đảo Yakushima, Nam Nhật Bản, đây
là một nội dung của dự án “không có phát thải”.
Các nhà sản xuất ô tô trên thế giới đang cạnh tranh dành vị trí đứng đầu trong
phát triển pin nhiên liệu, mà sản phẩm chủ yếu của các loại xe cộ thân thiện với môi
trường là nước.
Nhưng các phương pháp sản xuất pin nhiên liệu hydro cũ lại dựa vào nhiên liệu
hóa thạch gồm dầu lử
a và khí thiên nhiên, đã tạo ra CO
2
trong quá trình sản xuất -
những chất này đã góp phần làm nóng lên toàn cầu.
Theo dự án mới, hyđrô được sản xuất thông qua quá trình điện phân nước bằng
cách dùng điện phát ra từ các nhà máy điện ở trên các đảo nhỏ, nơi có điều kiện lý
tưởng do các dòng chảy từ những dốc núi xuống, nằm ở phía Đông Nam cách Kyoto
khoảng 1000 km .

lược và là nguồn cung cấp nước đáng tin cậy để đáp ứng những nhu cầu sinh hoạt.
Hiện nay, có hơn 13.600 nhà máy khử mặn các loại khác nhau ở hơn 120 nước
thuộc các khu vực Trung Đông, châu Âu, Đị
a Trung Hải, cũng như Bắc Mỹ và Caribe.
Công suất khử mặn trên thế giới đạt gần 9,6 tỷ m
3
, trong đó các nước thuộc Hội đồng
Hợp tác Vùng vịnh (GCC) như ả Rập , Cô oét, Tiểu Vương quốc ả Rập thồng nhất,
Bahrain, Qatar và Oman chiếm 47% tổng công suất.
Các nhà máy khử mặn thải ra các khí, nước muối nóng, các hóa chất xử lý và các
nguyên tố vi lượng gây ô nhiễm môi trường xung quanh. Những tác động tiêu cực của
quá trình khử mặn đối với sức khỏe và môi trường cho đến nay đã được hạn chế. Hơ
n
nữa, về lâu dài thì công suất khử mặn sẽ tăng lên, vì vậy hiệu quả tiềm năng của các
nhà máy khử mặn ở cả vùng ven biển lẫn trong đất liền cần phải được chú ý.
Cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất nước khử mặn
Các quốc gia thuộc GCC là một ví dụ điển hình về đô thị hóa nhanh và gia tăng
dân số đã làm tăng mạnh nhu cầu nướ
c sinh họat. Tỷ lệ gia tăng dân số trung bình của
khu vực (hơn 3,4%) đã làm cho dân số tăng từ 14 triệu năm 1970 lên gần 30 triệu dân
năm 2000. Nhu cầu nước sinh hoạt tăng từ 2,6 tỷ m
3
lên gần 4 tỷ m
3
trong giai đoạn
1990-2000. Nhu cầu này sẽ tăng lên tới 10,4 tỷ m
3
vào năm 2030.
Trong hơn 30 năm qua các nước thuộc GCC đã tiến hành xây dựng và mở rộng
các nhà máy khử mặn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên. Hiện nay, có 6 quốc

ổng lượng điện sản xuất của nước Anh.
Giá thành của khử mặn nước biển ở ả Rập Saudi vào khoảng 0,7 USD/m
3
đối với
các nhà máy MSF hai tác dụng, nếu như năng lượng đã sử dụng theo giá mua trên thế
giới. Chi phí khử mặn nước biển thực tế nhiều hơn của một nhà máy có công suất
trung bình cũng sản xuất điện năng vào khoảng 0,9 USD/m
3
. Chi phí khử mặn nước sử
dụng RO và nước lợ ở các nước GCC vào khoảng từ 0,3 đến 0,85 USD/m
3
phụ thuộc
vào độ mặn của nước cấp và khối lượng sản xuất nước. Chi phí này chưa tính đến năng
lượng tăng thêm để bơm nước khử mặn vào các thành phố trong đất liền.
Năm 1978, chi phí khử mặn ở ả Rập Saudi là khoảng 3 USD/m
3
. Chi phí này sẽ
giảm xuống nếu cải tiến tiêu thụ và hiệu quả năng lượng trong vận hành và các công
nghệ màng.
Những tác động của các nhà máy khử mặn
+
ảnh
hưởng của sử dụng năng lượng tới chất lượng không khí
Nhiều nhà máy khử mặn sử dụng dầu làm nhiên liệu, một số sử dụng dầu thô và
một số nhà máy dùng khí thiên nhiên. Hàm lượng lưu huỳnh trong dầu thô là 2,9%
theo trọng lượng, còn dùng dầu làm nhiên liệu thì hàm lượng lưu huỳnh là 1,7 – 3,7%
theo trọng lượng. Những chất ô nhiễm chủ yếu đầu tiên phát tán là sunfua dioxit
(SO
2
), oxit nitơ (NOx), cacbon monoxit (CO) và các hạt (PM). Các phát tán khác là

Nhiệt độ nước gần các cửa cống xả của nhà máy khử mặn đo được cao hơn
khoảng 5-6
0
C so với môi trường xung quanh. Vào mùa đông nhiệt độ tăng sẽ kích
thích họat động sinh học, còn về mùa hạ họat động sinh học lại giảm đáng kể. Cần
phải tiến hành nghiên cứu mô phỏng chi tiết bằng các mô hình thủy động học thích
hợp để dự báo về tăng nhiệt độ và độ mặn.
Nồng độ muối cao của nước thải và những dao động của độ m
ặn có thể làm chết
các sinh vật gần các cửa cống xả của nhà máy. Ngoài ra, nước thải của các nhà máy
khử mặn mặn hơn nước biển và có thể lắng xuống đáy gây nguy hiểm tiềm tàng cho
các quần xã sinh vật đáy.
Có thể giảm đáng kể những ảnh hưởng này nếu như nước thải của nhà máy khử
mặn được hoà với nước thải được làm mát (hoặc dùng nước th
ải của nhà máy xử lý
nước thải) thì độ mặn thấp hơn độ mặn nước biển.
Nước mặn thải từ các nhà máy khử mặn chứa một lượng nhỏ đồng, niken và
mangan do các kim loại bị ăn mòn từ ống dẫn, thùng nước và các buồng chưng cất.
Các kim loại tập trung ở lớp cao hơn vài milimét trên mặt biển (một lớp rất mỏng) có
thể rất độc h
ại đối với trứng cá, phù du và ấu trùng. Các tác động khác dưới đây cũng
cần phải tiến hành nghiên cứu thêm :
♦ khử trùng trước nước cấp bằng clo để ngăn chặn ô nhiễm sinh học;
♦ các hóa chất chống ăn mòn phải có các mức oxy thấp hơn các mức oxy
của nước nhận vào;
♦ các hóa chất ở giai đoạn tiền xử lý trong nguồn nước cấp như: bioxít,
SO
2
, sắt clorua, các chất điện ly cao phân tử và các chất chống bịt kín như: axít
polyacrylic, các chất chống tạo bọt và các polyme;

dự kiến mở rộng cần phải hạn chế tới mức tối thiểu, đồng thời kích thước của các kết
cấu cửa cống lấy nước vào và xả nước ra cũng phải giảm càng nhiều càng tốt. Các hóa
chất tác
động ít cần được thay thế ở nơi có thể nhằm giảm tới tối thiểu những tác động
nguy hại đối với các hệ sinh thái biển.
Sử dụng vòi phun nhiều tia và pha loãng nước mặn với nước mát sẽ có hiệu quả
để loại bỏ những tác động có hại. Để đánh giá những tác động của các dự án khử mặn
tới sức khỏe con người và môi trường, thì việc ti
ếp cận có hệ thống từng bước cần
được tuân thủ để hướng dẫn đánh giá tác động môi trường, như vậy sẽ giúp làm giảm
tác động và xác định các biện pháp giảm thiểu. Chẳng hạn, ở Hoa Kỳ các dự án khử
mặn phải được xây dựng và vận hành theo khuôn khổ các quy định của đạo luật quản
lý vùng ven biển, đạo luật nước sạch và đạo luật chính sách môi trường qu
ốc gia.
Kết luận
Bằng những tiến bộ khoa học và công nghệ, các quy trình khử mặn đã được chấp
thuận áp dụng ở hơn 120 nước trên thế giới nhằm khắc phục khoảng cách giữa cung và
cầu về nước sinh họat, nhất là ở các vùng khô hạn và bán khô hạn. Hy vọng, trong
tương lai gần các chi phí khử mặn sẽ giảm xuống do quá trình hoàn thiện bởi hiệu quả
vận hành, các công nghệ màng và tiêu thụ năng lượng. Những tác động tới sức khỏe và
môi trường của các nhà máy khử mặn có thể được gi
ảm thiểu bằng quy hoạch hợp lý
và sử dụng tiếp cận hệ thống trong việc hướng dẫn đánh giá tác động môi trường.
Nguồn: UNEP Industry and Environment, 3/2004

Công nghệ mới chống đóng xỉ buồng đốt lò hơi
Các nhà máy nhiệt điện đốt than kiểu cũ ở nước ta như nhà máy nhiệt điện Ninh
Bình, Uông Bí, Phả Lại 1,v.v đều bị hiện tượng đóng xỉ tại buồng đốt lò hơi, khiến
cho lò hay phải ngừng vận hành, hiệu suất sinh điện thấp, đồng thời gây ô nhiễm môi
trường. Giải pháp mới củ

khoản chi phí này từ việc tiết kiệm than, dầu và nâng cao khả năng sản xuất điện. Toàn
bộ các thiết bị thay thế, cũng như các công đoạn lắp đặt, vận hành,v.v đều được chế
tạo và thực hiện trong nước. Ngoài ra, với thiết kế mới, có thể
lắp đặt hệ thống lấy xỉ
bằng cơ giới thay cho việc người công nhân phải trực tiếp cào xỉ thủ công như kiểu cũ.
Giải pháp này không chỉ áp dụng cho ngành điện, mà còn có thể áp dụng cho các
ngành khác có sử dụng lò hơi dạng đốt than phun như Nhà máy Phân đạm Hà
Bắc,v.v Tổng công ty Điện lực cũng đang xem xét ứng dụng cho Nhà máy Nhiệt
điện Uông Bí.
Công trình của ông Nghiêm và cộng sự đã lọt vào vòng chung kết Giải thưởng
sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam 2004.
Nguồn: VnExpress, 13/4/2004
Xử lý nước thải bằng phương pháp tuần hoàn tự nhiên
Để giảm lượng ô nhiễm môi trường do nước thải gây ra, các quốc gia trong khu
vực như: Thái Lan, Trung Quốc, Phi-líp-pin, Nhật Bản đã ứng dụng thành công
phương pháp xử lý bằng hệ thống tuần hoàn tự nhiên (NCSWT). Vừa qua, các nhà
khoa học thuộc Trung tâm Môi trường và An toàn Hóa chất (Viện Hóa học Công
nghiệp) đã thử nghiệm thành công NCSWT tại Hà Nội, mở ra hướng làm sạch nước
sông, hồ đang bị ô nhiễm nghiêm trọng.
NCSWT là hệ thống tuần hoàn tự nhiên để làm giảm các chất ô nhiễm hữu cơ,
các hợp chất hữu cơ, hợp chất chứa ni-tơ, phốt-pho, chất rắn lơ lửng, màu và mùi trong
nước thải. Nguyên tắc của hệ thống dựa trên hoạt động của các vi sinh vật có sẵn trong
tự nhiên nhằm phân hủy các hợp chất hữu cơ. Để tạo điều kiện tốt hơ
n cho các vi sinh
vật này sinh trưởng và phát triển, hệ thống sử dụng nhiều loại vật liệu tự nhiên, được
xử lý theo các phương thức khác nhau, tạo nên môi trường sống phù hợp với chức
năng phân hủy các chất ô nhiễm có trong nước bẩn. Hệ thống còn có các quá trình làm
sạch nước ô nhiễm dựa trên nguyên lý cơ học (lắng, lọc) và quá trình hóa học (ôxi hóa,
hấp thụ, hấp phụ). Kết quả là nước ô nhiễm khi chả
y lần lượt qua 5 ngăn của hệ thống

loại A
Quá trình áp dụng trong khu vực cho thấy, NCSWT có ưu điểm là được làm từ
các vật liệu rẻ tiền, dễ kiếm như: than củi, vỏ chai nhựa đã qua sử dụng, đá vôi,v.v
Dòng nước thải chảy trong hệ thống theo nguyên lý tự chảy, mức độ tiếp xúc giữa
nước thải với vi sinh vật, các môi trường khử chất bẩ
n lớn, do đó hiệu quả xử lý của hệ
thống luôn ổn định, hiệu suất và cường độ phân hủy các chất ô nhiễm trong nước thải
đạt rất cao. NCSWT không sử dụng hóa chất trong quá trình xử lý. Quá trình vận hành
hệ thống khá đơn giản và giảm chi phí xử lý (chủ yếu là năng lượng cho quá trình thổi
khí). Thời gian thay vật liệu xử lý khá lâu, khoảng 10-15 năm.
Từ kết quả thử nghiệm thành công, nhóm các nhà khoa h
ọc đã đề xuất phương án
áp dụng NCSWT làm sạch nước sông, hồ bị ô nhiễm tại Hà Nội. Trước mắt, Trung
tâm Môi trường và An toàn Hóa chất đề xuất 3 phương án xử lý nhằm cải thiện chất
lượng nước sông Tô Lịch vốn đang bị ô nhiễm trầm trọng.
Hiện nay, tổng lượng nước thải sinh hoạt của Hà Nội xấp xỉ 500.000 m
3
/ngày
đêm, nước thải trong sản xuất công nghiệp và dịch vụ khoảng từ 250.000-300.000
m
3
/ngày đêm. Cho đến nay, có 36 xí nghiệp, nhà máy, 25 cơ sở dịch vụ lớn và 5 bệnh
viện đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải. Lượng nước thải được xử lý đạt tiêu
chuẩn môi trường chiếm tỉ lệ rất nhỏ, khoảng 5% tổng lượng nước thải của thành phố.
(Theo tham luận của UBND thành phố Hà Nội tại Hội nghị Bảo vệ Môi trườ
ng Lưu
vực sông Nhuệ, sông Đáy năm 2003)
Nguồn: Hà Nội Mới
,
3/5/2004

vào tháng 4/2004 với số vốn là 100 triệu yên (960 836 USD) dự kiến bắt đầu việc sản
xuất ethanol với số lượng lớn dùng cho xe ô tô vào năm tài chính 2007. Việc sử dụng
nhiên liệu sinh khối được xem là phương pháp hiệu quả để giảm thiểu các khí nhà
kính.
Công ty mới sẽ dự định tự củng cố công việc kinh doanh môi trường mới, hướng
tới xây dựng cơ sở hạ tầng về nhiên liệu sinh học theo hướng của chính phủ và cho
ngành công nghiệp ô tô. Các công ty khác cùng tham gia là: Công ty trách nhiệm hữu
hạn Sapporo Brewerie, Công ty xử lý chất thải xây dựng Daiei Inter Nature System và
Công ty sản xuất vật liệu xây dựng Tokyo Board Industries.
Các công ty sẽ
tiêu tốn hơn 3 tỷ yên cho việc xây dựng nhà máy sản xuất ethanol
ở quận Osaka. Bắt đầu vào năm tài chính 2007, nhà máy sẽ xử lý 30.000 tấn vật liệu
gỗ bỏ đi mỗi năm để tạo ra 3.700 nghìn lít ethanol sẽ được cung cấp cho 100 trạm khí
trong vòng một năm. Ethanol sẽ được vận chuyển với giá khoảng 50 yên mỗi lít và vào
năm đầu tiên công ty đặt ra mục tiêu đạt doanh thu 500 triệu yên.
Để sản xuất ethanol đạt hơn 90% tinh khiế
t, thì vật liệu gỗ sẽ được phân hủy nhờ
axít và sau đó được lên men. Công nghệ này dựa vào các kỹ thuật chiết suất do công
ty Marubeni nhập từ Hoa Kỳ và công ty Sapporo Breweries sẽ trang bị cho kiến thức
chuyên môn về lên men. Trong khi đó, công ty Taisei và công ty Daiei sẽ cung cấp vật
liệu gỗ bỏ đi.

Nguồn: Warmer, 5/2004.

Xử lý chất thải ở Thái Lan
Theo Liên đoàn công nghiệp Thái Lan (FTI), thì việc kinh doanh xử lý chất thải ở
Thái Lan đang bắt đầu phát triển đáp ứng những mối quan tâm ngày càng nhiều về
nhu cầu cải tiến việc xử lý chất thải độc hại nhằm đáp ứng điều kiện cần thiết của các
đối tác thương mại quốc tế.
Hiện nay, Thái Lan có hơn 120.000 nhà máy đang hoạt động, trong đó chỉ có một

máy bình thường chạy bằng xăng đã được chuyển sang chạy hoàn toàn bằng gas.
Tuy nhiên, để thuận tiện cho người sử dụng, hệ thống sử dụng nhiên liệu xăng
vẫn được giữ nguyên để người s
ử dụng có thể chuyển đổi qua lại giữa việc dùng xăng
hoặc gas một cách dễ dàng.
Qua thời gian sử dụng cho thấy kết quả tiêu hao nhiên liệu trung bình khoảng một
kg gas/100km, tiết kiệm được 50% so với sử dụng nhiên liệu xăng hiện nay. Hơn nữa,
trên thực tế do nhiên liệu gas ở thể khí cho nên không bị ngưng tụ trên gương mặt xi-
lanh, phần đỉnh xi-lanh không bị mòn nhanh như khi xe chạy bằng x
ăng. Chỉ số
Octane của gas cao hơn xăng cho nên không có nguy cơ kích nổ gây quá nhiệt của các
chi tiết trong buồng máy, tuổi thọ của động cơ sẽ kéo dài hơn so với chạy bằng xăng.
Nhưng điều đáng quan tâm hơn là tiết kiệm được một lượng lớn xăng dầu dùng cho xe
gắn máy trong cả nước và hiện nay giá xăng dầu đang tăng. Hơn nữa là góp phần giảm
m
ức độ ô nhiễm môi trường đang ngày càng trầm trọng.
Qua phân tích khí ở các chế độ khác nhau, cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm của
xe gắn máy khi chạy bằng gas đều giảm so với chạy bằng xăng. Mức độ giảm có thể
đạt từ 30 đến 80%, tải càng lớn thì mức độ giảm ô nhiễm của động cơ chạy bằng gas
càng tăng. Khi tăng tốc độ, nồng độ CO trong khí xả khi dùng gas giảm nhanh chóng,
trong khi đó nồng độ của nó trong khí xả
khi dùng xăng lại tăng. Về tính an toàn, bình
gas còn có van an toàn tác động ở 18 atm nên việc cháy nổ bình gas không thể xảy ra
được. Bình chứa gas được làm bằng thép cho nên không sợ bị nổ, vỡ khi va chạm.
Ở nước ta, phương tiện đi lại chủ yếu của người dân vẫn là xe gắn máy hai bánh.
Ðể đưa giải pháp này ra áp dụng rộng rãi trong xã hội, tác giả đề tài cho biết: Cuối
năm 2001, Trung tâm nghiên cứu bảo vệ môi trường Ðại học Ðà Nẵ
ng đã ký hợp đồng
triển khai ứng dụng LPG trên xe gắn máy hai bánh với Công ty TNHH Hải Thành,
một đơn vị chuyên sản xuất cơ khí và bình gas dân dụng lớn ở TP Hồ Chí Minh, dựa

- Bùn cặn sau xử lý nước thải
Công nghệ chỉ áp dụng với những lò nung xi măng kiểu quay hiện đại - loại có
lắp đặt hệ thống thiết bị thiêu đốt chất thải. Nguyên lý hoạ
t động như sau: Chất thải
nguy hại tập kết đến nhà máy được tiền xử lý (ví dụ lốp cao su, nhựa được băm nhỏ),
phối trộn theo tỷ lệ thích hợp với nguyên liệu xi măng, rồi đưa vào buồng đốt. Tại béc
đốt (lò nung chảy), nhiệt độ lên đến 1.400 đến 2.000
0
C, đủ để phá hủy hoàn toàn cấu
trúc bền vững của chất thải độc hại. Lò nung cũng tận dụng nhiệt năng từ các chất thải
hữu cơ để thay thế, tiết kiệm một phần nhiên liệu. Cặn bã còn lại của chất thải sau khi
thiêu đốt là CaO, SiO
2
, Al
2
O
3
, Fe
2
O
3
thì trở thành nguyên liệu cho xi măng.
Theo PGS Nguyễn Văn Lâm, Phó giám đốc Trung tâm tư vấn công nghệ môi
trường, thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật VN, do loại lò này có thời gian
lưu cháy lâu (từ 6 đến 10 giây) nên các chất thải độc hại sẽ bị phân hủy triệt để hơn
nhiều so với trong các lò thiêu bình thường (chỉ có thời gian lưu 2 giây).
Khí thải có tính axit từ lò nung được được tuần hoàn trở lại buồng nguyên liệu.
Do tính kiềm c
ủa các nguyên liệu tại đây, nên khí thải sẽ được trung hòa và phần lớn
được làm sạch. Cũng do quá trình tương tác này, nhiệt của dòng khí thải lạnh đi đáng

định 115/2001/QĐ-TTg phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp
vật liệu xây dựng (VLXD) Việt Nam đến 2010”, trong đó nêu rõ từ năm 2004 không
được sử dụng vật liệu A-mi-ăng trong sản xuất tấm lợp,v.v…. Thực hiện Quyết định
này, Bộ Xây dựng giao cho Viện VLXD nghiên cứu sử dụng các loại sợi khác trong
sản xuất tấm lợp không có A-mi-ăng, làm cơ sở
cho việc chế tạo các cấu kiện nhẹ như
tấm lợp, tấm trần, tấm tường, góp phần đa dạng hóa sản phẩm VLXD trong những
năm tới.
Trên cơ sở khảo sát công nghệ nước ngoài, Viện VLXD đã nghiên cứu thành
công công nghệ sản xuất tấm lợp sử dụng sợi polyvinylalcol (PVA) thay thế A-mi-ăng.
PVA được chọn vì có độ phân cực lớn, tạo tính tương thích với các sả
n phẩm thủy hóa
xi măng, dễ dàng phân tán trong hồ liệu, bám dính tốt với đá xi măng. Sợi PVA có
cường độ chịu kéo và mô đun đàn hồi cao, bền trong môi trường a-xít, kiềm và ánh
sáng, không gây độc tính về mặt hóa học đối với con người. Về mặt cơ học, nó có
đường kính lớn, không bị “sợi hóa” dưới tác dụng cơ học nên không gây ra các bệnh
về đường hô hấp. PVA đã được sử dụng phổ bi
ến trong ngành dệt ở các nước phát
triển gần 50 năm nay và chưa phát hiện trường hợp nào bị ung thư phổi do tiếp xúc với
nó. Khi bị phân hủy do nhiệt nó chỉ sinh ra khí CO và CO
2
với nồng độ nhỏ hơn 10 lần
so với sợi bông. PVA là vật liệu cơ bản tạo ra tấm lợp PVA-C, công nghệ hiện đang
được nhiều nước đưa vào sản xuất đại trà.
Trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm sản xuất từ các nước đã
chuyển đổi để vận dụng vào điều kiện cụ thể của nước ta, tận dụng triệt để hệ thống
thiết bị sản xuất tấm lợp AC hiện có, Viện VLXD tiến hành thử nghiệm tạo tấm lợp
PVA-C trên quy mô công nghiệp tại Nhà máy Bê tông và Xây dựng Xuân Mai và
Công ty Cổ ph
ần Nam Việt. Kết quả kiểm tra thành phẩm theo tiêu chuẩn TCVN

Hệ thống này cho phép xử lý hiệu quả chất thải nhiễm dầu, mỡ sinh ra trong quá
trình sử
a chữa, đóng mới sản phẩm của XNSC - ĐMPTT, được Sở Tài nguyên - Môi
trường thành phố Hải Phòng cho phép áp dụng.
Trước đây, các chất thải dầu, mỡ của XNSC - ĐMPTT được thu gom, đổ ra bãi
chứa, rồi xử lý. Do bãi chứa hẹp, lượng chất thải ngày càng nhiều không bảo đảm an
toàn cho môi trường. Vì thế, việc xử lý chất thải nhiễm dầu, mỡ trở thành vấn đề bức
xúc.
T
ừ năm 2000, các cán bộ kỹ thuật của XNSC - ĐMPTT đã tìm hiểu, biên soạn tài
liệu của nước ngoài và nghiên cứu, xây dựng quy trình xử lý chất thải nhiễm dầu, mỡ
phù hợp với điều kiện ở nước ta.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status