lời Mở đầu
Trong nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh là một xu thế tất yếu, là động lực thúc
đẩy sản xuất phát triển. Từ khi nền kinh tế nớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trờng
có sự định hớng của Nhà nớc thì sự bao cấp không còn nữa, các doanh nghiệp muốn
tồn tại và phát triển cần tạo cho sản phẩm của mình có chỗ đứng trên thị trờng. Hơn
nữa, trong cơ chế mới, Nhà nớc vẫn giám sát chặt chẽ mọi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp vừa để hớng doanh nghiệp hoạt động trong hành lang pháp lý, vừa hỗ
trợ doanh nghiệp khi cần thiết. Vì lẽ đó, giá thành sản phẩm trở thành mối quan tâm
của các cơ quan chức năng của Nhà nớc thực hiện công tác quản lý doanh nghiệp và
của chính bản thân doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp, ngoài các kế hoạch quảng cáo, thay đổi mẫu mã, cho ra
sản phẩm mới..., doanh nghiệp đặc biệt quan tâm tới việc giảm chi phí, hạ giá thành
sản phẩm, từ đó có kế hoạch tiêu thụ sao cho vừa trang trải đợc mọi chi phí bỏ ra,
vừa đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đối với Nhà nớc, ngoài những giám sát
mang tính bao quát, chi phí sản xuất giá thành sản phẩm trở thành chỉ tiêu cần có
trong việc phân tích so sánh với ngành, trong việc tính thuế...
Chính vì những lý do đó, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trở thành những
chỉ tiêu kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý hiệu quả và chất lợng sản
xuất kinh doanh, luôn đợc các nhà quản lý quan tâm khi xây dựng kế hoạch sản xuất
cho doanh nghiệp mình. Thông qua số liệu về chi phí và giá thành sản phẩm do bộ
phận kế toán cung cấp, ban quản lý doanh nghiệp biết đợc chi phí thực tế bỏ ra là bao
nhiêu, giá thành thực tế của sản phẩm có phù hợp không, kết quả kinh doanh so với
kế hoạch ra sao?...Từ đó, ban giám đốc phân tích tình hình thực hiện định mức, dự
toán chi phí sử dụng lao động, vật t..., đề ra những biện pháp hữu hiệu nhằm tiết
kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm trong các niên độ tới, đồng thời đề ra
các chiến lợc kinh doanh và kế hoạch quản trị cho phù hợp.
Việc phân tích, đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp chỉ có thể dựa trên việc tính giá thành sản phẩm chính xác. Do vậy,
việc doanh nghiệp sử dụng phơng pháp tính giá nào cho phù hợp (tùy từng loại hình
doanh nghiệp) và tính gía nh thế nào cần đợc quan tâm đúng mức, đặc biệt trong các
kỳ hạch toán. Ngợc lại, chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật t, tài sản, tiền
vốn của doanh nghiệp, bất kể nó đợc dùng vào mục đích gì. Tổng số chi tiêu trong kỳ
của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu cho quá trình cung cấp (chi mua sắm vật t, hàng
hoá ), chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh (chi cho sản xuất, chế tạo sản
phẩm, công tác quản lý ) và chi tiêu cho quá trình tiêu thụ (chi vận chuyển, bốc dỡ,
quảng cáo ).
Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhng có quan hệ mật thiết với
nhau. Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí.
Tổng số chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tài sản hao phí
hoặc tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh tính vào kỳ này. Chi phí và chi
tiêu không chỉ khác nhau về lợng mà còn khác nhau về thời gian, có những khoản chi
tiêu kỳ này nhng tính vào chi phí kỳ sau (khi mua nguyên, vật liệu về nhập kho nhng
cha sử dụng) và có những khoản tính vào chi phí kỳ này nhng thực tế cha chi tiêu
(chi phí phải trả). Sở dĩ có sự khác biệt giữa chi tiêu và chi phí trong các doanh
nghiệp là do đặc điểm, tính chất vận động và phơng thức chuyển dịch giá trị của từng
loại tài sản vào quá trình sản xuất và yêu cầu kỹ thuật hạch toán chúng.
2. Phân loại chi phí sản xuất trong kinh doanh
Chi phí sản xuất kinh doanh có thể đợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác
nhau tuỳ thuộc vào mục đích và yêu cầu của công tác quản lý. Tuy nhiên, về mặt
hạch toán, chi phí sản xuất thờng đợc phân theo các tiêu thức sau:
2.1. Phân theo yếu tố chi phí
Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu đồng
nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phí đợc phân
theo yếu tố. Cách phân loại này giúp cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lu
động cũng nh việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí. Theo quy định hiện
hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí đợc chia thành 7 yếu tố sau:
2
- Yếu tố nguyên, vật liệu: Bao gồm toàn bộ nguyên, vật liệu chính, vật lệu phụ, phụ
nên đợc xem là các phí tổn, cần đợc khấu trừ ra từ lợi tức của thời kỳ mà chúng phát
sinh.
2.4. Phân theo quan hệ của chi phí với khối lợng công việc, sản phẩm hoàn thành
Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí, đồng thời làm căn cứ để
đề ra các quyết định kinh doanh, toàn bộ chi phí SXKD lại đợc phân theo quan hệ với
khối lợng công việc hoàn thành. Theo cách này chi phí đợc chia thành biến phí và
định phí.
Biến phí là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với khối lợng công việc
hoàn thành, chẳng hạn chi phí về nguyên liệu, nhân công trực tiếp Cần l u ý rằng,
các chi phí biến đổi nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì lại có tính cố định. Định
phí là những chi phí không đổi về tổng số so với khối lợng công việc hoàn thành,
chẳng hạn các chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê mặt bằng, phơng tiện
kinh doanh, v.v Các chi phí này nếu tính cho 1 đơn vị sản phẩm thì lại biến đổi nếu
số lợng sản phẩm thay đổi.
3
3. Đối tợng và phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất
Xác định đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là công việc đầu tiên và quan trọng
của tổ chức hạch toán quá trình sản xuất. Tổ chức hạch toán quá trình sản xuất bao
gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau và có quan hệ mật thiết với nhau. Đó là giai đoạn
hạch toán chi tiết chi phí sản xuất phát sinh theo từng sản phẩm, nhóm sản phẩm,
đơn đặt hàng, giai đoạn công nghệ, phân xởng và giai đoạn tính giá thành sản
phẩm, chi tiết sản phẩm theo đơn vị tính giá thành quy định. Việc phân chia này xuất
phát từ yêu cầu quản lý, kiểm tra và phân tích chi phí, yêu cầu hạch toán kinh doanh
nội bộ và theo đặc điểm tổ chức sản xuất, đặc điểm quy trình công nghệ của từng
doanh nghiệp và yêu cầu tính giá thành sản phẩm theo đơn vị tính giá thành quy
định. Có thể nói, việc phân chia quá trình hạch toán thành hai giai đoạn là do sự khác
nhau cơ bản vê giới hạn tập hợp chi phí trong hạch toán chi phí sản xuất tức là đối
tợng hạch toán chi phí sản xuất và sản phẩm hoàn thành cần phải tính giá thành
doanh và không thực hiện đợc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
2. Phân loại giá thành
4
Để đáp ứng yêu cầu quản lý, hạch toán và kế hoạch hóa giá thành cũng nh yêu cầu
xây dựng giá cả hàng hóa, giá thành đợc xem xét dới một số góc độ sau:
Theo thời điểm tính và nguồn hình thành số liệu để tính giá thành: Giá thành
đ ợc chia thành :
+ Giá thành kế hoạch:
Giá thành kế hoạch đợc xác định trớc khi bớc vào kinh doanh trên cơ sở giá thành
thực tế kỳ trớc và các định mức, dự toán chi phí kỳ kế hoạch.
ý nghĩa : Việc xây dựng hệ thống giá thành kế hoạch có ý nghĩa cực kỳ quan trọng
trong việc phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Giá thành kế hoạch là
để xác định giá cả hàng hóa, là chỉ tiêu tơng đối chuẩn để định hớng giá thành cho
các kỳ thực tế, đồng thời giá thành kế hoạch cũng bị tác động trở lại nếu nó không
phù hợp với thực tế. Để phân tích tình hình hoàn thành kế hoạch hạ giá thành sản
phẩm của doanh nghiệp, thì giá thành kế hoạch là căn cứ chuẩn nhằm đánh giá giá
thành kỳ báo cáo, từ đó tìm ra những nguyên nhân và hớng giải quyết chúng.
+ Giá thành định mức:
Giá thành định mức đợc xây dựng trớc khi sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên khác với
giá thành kế hoạch đợc xây dựng dựa trên các định mức bình quân tiên tiến và không
biến đổi trong suốt kỳ kế hoạch, giá thành định mức đợc xác định dựa trên các định
mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định (thờng là ngày đầu tháng) nên
giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí
đạt đợc trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành.
ý nghĩa : Giá thành định mức là thớc đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài
sản, vật t, tiền vốn của doanh nghiệp trong sản xuất giúp cho đánh giá đúng đắn các
giải pháp kinh tế mà doanh nghiệp áp dụng trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao
hiệu quả của chi phí.
điểm hoà vốn, đồng thời đợc sử dụng để phân tích mức lợi nhuận trong quan hệ với
sản lợng, doanh thu.
3. Đối tợng và phơng pháp tính giá thành sản phẩm
3.1. Đối tợng tính giá thành
Xác định đối tợng tính giá thành chính là xác định sản phẩm, bán thành phẩm,
công việc, lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị. Đối tợng có thể là
sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên dây truyền sản xuất tuỳ
theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm. Đối tợng tính giá
thành có sự khác biệt với đối tợng hạch toán chi phí sản xuất. Do vậy, để xác định
chính xác đối tợng tính giá thành cần dựa vào đặc điểm qui trình công nghệ (giản
đơn hay phức tạp), vào loại hình sản xuất (đơn chiếc hay hàng loạt), vào yêu cầu
quản lý,...
3.2. Các phơng pháp tính giá thành
Do sự đa dạng về loại hình sản xuất cũng nh giai đoạn công nghệ sản xuất sản phẩm
mà có thể gồm các phơng pháp tính giá thành sau:
+ Phơng pháp trực tiếp (hay phơng pháp giản đơn)
+ Phơng pháp tổng cộng chi phí
+ Phơng pháp hệ số
+ Phơng pháp tỷ lệ
+ Phơng pháp loại trừ
+ Phơng pháp liên hợp
Ngoài ra, tuỳ từng loại hình doanh nghiệp cụ thể mà có các phơng pháp khác nhau
(thực chất là sự phối hợp của các phơng pháp trên).
B/ Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong các doanh nghiệp công nghiệp
I. Đặc điểm các doanh nghiệp công nghiệp
6
Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất hàng đầu của nền kinh tế. Sản phẩm do
ngoài các chi phí kể trên.
III. Kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp
công nghiệp
1. Các tài khoản sử dụng
+ Tài khoản 621 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Tập hợp tất cả các khoản
chi phí về nguyên, nhiên, vật liệu đợc sử dụng trực tiếp trong quá trình sản xuất sản
7
phẩm, lao vụ. Tài khoản 621 đợc mở chi tiết theo từng đối tợng tập hợp chi phí hoặc
đối tợng tính giá thành (nếu đợc).
Kết cấu:
Bên Nợ: - Tập hợp chi phí thực tế phát sinh
Bên Có: - Trị giá nguyên vật liệu sử dụng không hết trả lại kho
- Kết chuyển nguyên vật liệu trực tiếp vào tài khoản tính giá thành
TK 621 cuối kỳ không có số d
+ Tài khoản 622 Chi phí nhân công trực tiếp: Tập hợp tất cả các khoản chi phí
liên quan đến bộ phận lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm, lao vụ. Tài khoản này
mở chi tiết cho từng đối tợng hạch toán chi phí hoặc đối tợng tính giá thành (nếu đ-
ợc).
Kết cấu:
Bên Nợ: - Chi phí nhân công trực tiếp thực tế phát sinh
Bên Có: - Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp
TK 622 cuối kỳ không có số d
+ Tài khoản 627 Chi phí sản xuất chung: Tập hợp chi phí quản lý, phục vụ sản
xuất ở phân xởng, bộ phận sản xuất kinh doanh và phân bổ chi phí này vào các đối t-
ợng hạch toán chi phí hoặc tính giá thành. Tài khoản này đợc mở chi tiết theo phân
xởng hoặc bộ phận sản xuất kinh doanh. Theo qui định, tài khoản này đợc mở cho
các tài khoản cấp 2:
- TK6271 Chi phí nhân viên phân xởng
tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, lao vụ hoàn thành. Kết cấu các
TK nh sau:
- TK154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Kết cấu:
Bên Nợ: - Chi phí sản xuất kinh doanh cuối kỳ chuyển sang
Bên Có: - Kết chuyển chi phí sản xuất kinh doanh dở dang đầu kỳ vào TK tính
giá thành
SDCK: (Bên Nợ): Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
- TK631: Giá thành sản xuất
Kết cấu:
Bên Nợ: - Chi phi sản xuất kinh doanh đầu kỳ đợc kết chuyển từ TK154 sang
- Tổng hợp chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong kỳ
Bên Có: - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ chuyển sang TK154
- Giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành
- Giá trị thu hồi ghi giảm chi phí từ sản xuất
TK631 cuối kỳ không có số d
2. Phơng thức phân bổ chi phí
+ Đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Đối với những nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng để sản xuất ra nhiều loại sản phẩm
(chủ yếu là nguyên vật liệu chính) và không thể xác định trực tiếp mức tiêu hao thực
tế cho từng loại sản phẩm (hoặc đối tợng chịu chi phí) thì kế toán phải tiến hành phân
bổ theo tiêu thức phù hợp các tiêu thức có thể sử dụng: định mức tiêu hao cho từng
loại sản phẩm, hệ số phân bổ . . .
Công thức phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:9
Mức phân bổ chi phí
NVL trực tiếp (NVL
chính ) cho từng
3. Sơ đồ tổng hợp hạch toán chi phí sản xuất
3.1. Theo phơng pháp kiểm kê định kỳ
10
Mức phân bổ chi phí
tiền lương của công
nhân trực tiếp cho
từng đối tượng.
Tổng số tiền lương công
nhân trực tiếp của các
đối tượng
Tổng khối lượng phân
bổ
theo tiêu thức sử dụng
Khối lượng
phân bổ của
từng đối tư
ợng
= x
x
Mức chi phí sản xuất
chung phân bổ cho
từng đối tượng.
Tổng tiêu thức phân bổ
của từng đối tượng
Tổng tiêu thức phân bổ
của tất cả các đối tượng
Tổng chi phí
sản xuất
chung cần
IV. Kế toán tính giá thành sản phẩm của hoạt động sản
xuất chính
1. Đặc điểm hoạt động sản xuất chính
11
152,111, ...
334,338, ...
334,338,214,153 ...
621
622
627
152 154
155
157
632
152,111, ...
Tập hợp chi phí
NVL trực tiếp
Tập hợp chi phí
nhân công trực tiếp
Tập hợp chi phí
sản xuất chung
NVL thừa
nhập kho
Kết chuyển
Kết chuyển
Kết chuyển
Các khoản làm
giảm chi phí
nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung) đợc tính hết cho sản phẩm hoàn thành
trong kỳ. Đồng thời coi mức NVL trực tiếp (NVL chính) dùng cho đơn vị sản phẩm
dở dang và hoàn thành là nh nhau.
+ Công thức tính:
hay: 12
Tổng giá
thành sản
phẩm hoàn
thành trong
kỳ
CPSX
dở dang
đầu kỳ
CPSX
phát sinh
trong kỳ
CPSX
dở dang
cuối kỳ
Các khoản
làm giảm
chi phí
= + - -
CPSX tính cho
sản phẩm dở
dang cuối kỳ
CPSX dở
(chính) xuất
dùng
CPSX tính cho
sản phẩm dở
dang cuối kỳ