ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA BỆNH GIÃN PHẾ QUẢN
(Kỳ 3)
+ Chụp động mạch phế quản:
Luồn ống thông (thường từ động mạch đùi) lên quai động
mạch chủ và vào động mạch phế quản,bơm thuốc cản quang và chụp động mạch
phế quản.Phương pháp này cho phép xác định được các hình phình giãn và các
chỗ nối thông giữa động mạch phế quản và động mạch phổi tại các nơi có giãn phế
quản (đây chính là nguyên nhân gây biến chứng ho ra máu trong bệnh giãn phế
quản).Đồng thời,bằng phương pháp này có thể gây tắc động mạch phế quản nơi bị
phình giãn và thông với động mạch phổi để điều trị ho ra máu.
+ Soi phế quản:
Có thể thấy được chỗ chít hẹp trong trường hợp giãn phế
quản do bị chít hẹp phế quản.Cho phép tìm được nơi dịch mủ và máu từ các phế
quản giãn chảy ra,nhờ đó có thể tiến hành sinh thiết niêm mạc phế quản và lấy
dịch mủ đi cấy khuẩn và làm kháng sinh đồ.
+ Đo khí máu:
Trong giãn phế quản,đo khí máu có thể thấy độ bão hoà
Oxy máu giảm và pCO
2
máu tăng.
VII. Biến chứng:
1. Tại phổi:
+ Viêm phổi tái diễn ở vùng phế quản giãn.
+ Apxe phổi,nhất là khi giãn phế quản ở thuỳ lưỡi vì mủ trong
các phế quản giãn ở vùng này khó được dẫn lưu ra ngoài.
+ Mủ màng phổi.
+ Khí thũng phổi.
2. Toàn thân:
+ Thoái hoá dạng tinh bột ở thận,gan và các cơ quan nội tạng
khác.
+ Suy hô hấp mãn và tâm phế mãn.
phổi nơi có giãn phế quản hoặc tiến hành gây tắc động mạch phế quản ở vùng có
giãn phế quản thông qua thủ thuật chụp động mạch phế quản.
+ Các biến chứng phẫu thuật có thể gặp là:
- Chảy máu.
- Suy hô hấp.
- Xẹp phổi.
- Rò phế quản,thường là do nhiễm trùng mỏm phế quản.
- Mủ màng phổi.
- Tỉ lệ tử vong phẫu thuật là khoảng 2-10%.