Phương hướng và giải pháp hoàn thiện kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam - Pdf 16


1
MỤC LỤC

Trang
Mở đầu ......................................................................................................... 1
Chương 1:Tổng quan về kiểm sóat chất lượng kiểm tóan
1.1 Lý luận chung về kiểm toán ....................................................................... 4
1.1.1 Sự cần thiết khách quan của kiểm tóan .............................................. 4
1.1.2 Bản chất xã hội của kiểm tóan........................................................... 5
1.2 Chất lượng và kiểm sóat chất lượng kiểm tóan........................................... 6
1.2.1 Chất lượng kiểm tóan ......................................................................... 6
1.2.2 Kiểm sóat chất lượng kiểm tóan....................................................... 15
1.2.3 Văn bản pháp lý điều chỉnh kiểm sóat chất lượng kiểm toán.......... 17
1.3 Các cấp độ kiểm sóat chất lượng kiểm tóan ............................................. 19
1.3.1 Kiểm sóat chất lượng bên trong....................................................... 19
1.3.2 Kiểm sóat chất lượng từ bên ngòai.................................................. 25
1.4 Kinh nghiệm kiểm sóat chất lượng tại Pháp và Hoa Kỳ........................... 26
1.4.1 Cơ quan thực hiện ............................................................................ 26
1.4.2 Nội dung kiểm sóat chất lượng........................................................ 27 2
Chương 2: Thực trạng kiểm sóat chất lượng họat động kiểm tóan ở VN
2.1 Quá trình phát triển và Thực trạng họat động kiểm tóan ở Việt Nam..... 29
2.2 Thực trạng kiểm sóat chất lượng kiểm tóan ở các Cty Kiểm Tóan.......... 32
2.2.1 Nhiệm vụ và yêu cầu Kiểm sóat chất lượng kiểm tóan ở các Cty Kiểm Tóan
. 32
2.2.2 Tình hình kiểm sóat chất lượng từ bên ngòai .................................. 33
2.2.3 Tình hình kiểm sóat chất lượng từ bên trongCty kiểm tóan............ 36
2.2.4 Nhũng tồn tại trong họat động Kiểm sóat t chất lượng kiểm tóan .. 40

kiểm toán độc lập đã góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển thò trường dòch vụ tài
chính, tiền tệ mở cửa và hội nhập.

Trong tiến trình đổi mới kinh tế của đất nước, cần có nhiều giải pháp để tiếp tục
phát triển nhanh và vững chắc hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam. Theo chiến
lược phát triển Kiểm Tóan Độc Lập giai đoạn 2006-2010 đặt ra mục tiêu tiếp tục nâng
cao chất lượng dòch vụ kế toán, kiểm toán, đảm bảo tuân thủ các chuẩn mực quốc tế,
được quốc tế thừa nhận và phù hợp với tiến trình mở cửa, hội nhập vào kinh tế khu vực
và thế giới. Muốn vậy, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật phù hợp với
điều kiện phát triển kinh tế Việt Nam và thông lệ quốc tế, đồng thời nâng cao chất
lượng đào tạo, phổ cập đến từng đơn vò. Tăng cường quản lý Nhà nước về kế toán, kiểm
toán đồng thời phát triển mạnh mẽ các tổ chức nghề nghiệp, mở rộng quan hệ quốc tế,
từng bước thừa nhận lẫn nhau chứng chỉ hành nghề, cung cấp dòch vụ tại chỗ và cung
cấp qua biên giới về dòch vụ kế toán và kiểm toán. 4

Một trong những vấn đề cực kỳ quan trọng để phát triển thò trường dòch vụ kế toán,
kiểm toán là chất lượng dòch vụ, Chất lượng và kiểm soát chất lượng hoạt động – vấn đề
sống còn của hoạt động kiểm toán .
Ở Việt Nam, kinh nghiệm hành nghề, năng lực quản lý của nhiều doanh nghiệp
kiểm toán còn hạn chế. Năm 2003 đã ban hành chuẩn mực về kiểm soát chất lượng hoạt
động kiểm toán, nhưng hệ thống chế tài đánh giá chất lượng kiểm toán và giải quyết
tranh chấp, khiếu kiện còn chưa được hoàn thiện. Việt Nam chưa có cơ quan chuyên
trách việc đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập. Các tổ chức nghề nghiệp
đã hình thành nhưng hoạt động chưa hiệu quả. Hoạt động của Hiệp hội kế toán và kiểm
toán mới dừng lại ở việc nâng cao năng lực chuyên môn, chưa đưa ra các giải pháp kiểm
soát về đạo đức nghề nghiệp đối với những người hành nghề kế toán, kiểm toán. Do đó
dòch vụ kiểm toán chưa được thẩm đònh một cách độc lập từ bên ngoài nên các khách

Việt Nam.
Chương 3 : Phương hướng và biện pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất
lượng hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam.
6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯNG HOẠT ĐỘNG
KIỂM TOÁN

1.1 Những lý luận chung về kiểm toán
Khái niệm kiểm toán
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA) thì “Kiểm toán là quá trình theo đó
kiểm toán viên độc lập, có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các
thông tin có thể đònh lượng có liên quan đến một tổ chức kinh tế cụ thể nhằm mục đích
kiểm tra và báo cáo mức độ phù hợp giữa các thông tin số lượng đó với các chuẩn mực
đã được xác đònh”.
1.1.1 Sự cần thiết khách quan của kiểm toán:
Hoạt động kiểm toán độc lập là cần thiết khách quan xuất phát từ các luận điểm
chủ yếu sau:
¾
Thứ nhất: Luận điểm xuất phát từ lợi ích của người sử dụng Báo cáo tài chính.
Luận điểm này ra đời vào năm 1973 do Hiệp Hội Kiểm toán Hoa Kỳ khởi xướng.
¾

vò trí trong nền kinh tế thò trường, góp phần lành mạnh hóa môi trường đầu tư và nền tài
chính quốc gia.
1.1.2 Bản chất xã hội của nghề kiểm toán:
Kiểm toán độc lập là loại hình dòch vụ được thực hiện trên cơ sở tự nguyện và
theo thỏa thuận của tổ chức kiểm toán độc lập với các đơn vò được kiểm toán. Vì được
pháp luật thừa nhận, bảo hộ và hoạt động theo một quy chế rất chặt chẽ nên kiểm toán
độc lập có tính pháp lý rất cao. Bản chất của kiểm toán độc lập được thể hiện:
- Kiểm toán độc lập là một phương thức bảo đảm ở mức độ nhất đònh độ tin cậy
của thông tin và giám sát hoạt động của các doanh nghiệp , các đơn vò để bảo vệ
quyền lợi của các bên liên quan trong nền kinh tế thò trường và thông tin là cơ sở
để đưa ra các quyết đònh kinh tế. 8
- Kiểm toán độc lập không phải bảo đảm 100% mức độ tin cậy mà chỉ ở mức độ
trọng yếu, các vấn đề chính nhất đònh. Trách nhiệm của kiểm toán viên là xác
nhận Báo cáo tài chính trung thực và hợp lý xét trên các khía cạnh trọng yếu.
Điều đó có nghóa là trong kiểm toán có thể chấp nhận những sai phạm không
mang tính chất trọng yếu.
Bản chất xã hội của kiểm toán độc lập được thể hiện rõ trong quan hệ của quy
trình kiểm toán. Nếu như trước đây, đó là quan hệ giữa: Chủ nhân - kiểm toán viên -
Người quản lý thì bây giờ chuyển sang quan hệ giữa: Xã hội- kiểm toán viên - Người
quản lý. Thông tin trên báo cáo kiểm toán không chỉ còn cần thiết đối với chủ doanh
nghiệp, mà còn đối với cả các bên liên quan trong xã hội..
Ngoài ra, kiểm toán viên độc lập còn đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng
quan hệ đối ngoại, trợ giúp, tư vấn cho người nước ngoài và tổ chức quốc tế biết về
pháp luật, chính sách tài chính-kế toán của Việt Nam. Đồng thời, giúp người Việt Nam
hiểu biết thông lệ, chuẩn mực quốc tế; góp phần rút ngắn tiến trình mở cửa, hội nhập
kinh tế của Việt Nam nói chung.
1.2 Chất Lượng và Kiểm soát chất lượng kiểm toán

muốn của chính khách hàng được kiểm toán.
Để đem đến cho khách hàng một dòch vụ kiểm toán có chất lượng, các công ty
kiểm toán cần phải đưa ra được những ý kiến đóng góp, tư vấn nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp. Đây là yêu cầu đầu tiên, quan trọng nhất đối
với một cuộc kiểm toán, bởi tư vấn có ý nghóa to lớn, có thể giúp doanh nghiệp hoàn
thiện, cải tiến cơ chế tài chính-kế toán của mình phù hợp với luật pháp của quốc gia và
thông lệ quốc tế. Bên cạnh đó, giá phí cũng là vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm
vì đây là yếu tố được tính vào chi phí hoạt động của doanh nghiệp. Giá phí kiểm toán
phải ở mức chấp nhận được, phù hợp với khả năng tài chính của khách hàng. Vì thế, 10
ngoài việc phải đưa ra những ý kiến trung thực, đáng tin cậy thì các công ty kiểm toán
cần chú trọng đến mức giá phí cho cuộc kiểm toán. Giá phí không chỉ phù hợp với tình
hình tài chính của khách hàng mà phải đảm bảo cho công ty kiểm toán duy trì hoạt động
kinh doanh của mình. Nếu muốn giữ khách hàng thông qua việc giảm giá phí có thể chất
lượng hoạt động kiểm toán sẽ không được bảo đảm.
1.2.1.2 Tiêu thức đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán
Mục tiêu của loại hình kiểm toán độc lập cũng như mọi cuộc kiểm toán là kiểm
toán viên phải đưa ra những ý kiến của mình về đối tượng kiểm toán, phải thông tin cho
người sử dụng báo cáo kiểm toán về mức độ trung thực, hợp lý và sự trình bày phù hợp
của đối tượng kiểm toán với các chuẩn mực, nguyên tắc, nội dung, yêu cầu đã được xây
dựng và thống nhất. Tuy nhiên, với mỗi đối tượng sử dụng khác nhau thì tiêu chí và mức
độ của các tiêu chí đặt ra đối với chất lượng của cuộc kiểm toán là khác nhau.
¾
Đối với khách hàng
Khách hàng là đơn vò được kiểm toán thì người sử dụng báo cáo tài chính trước
hết là Hội đồng quản trò, Ban giám đốc và các nhà quản lý của đơn vò được kiểm toán.
Vì vậy, ý kiến của kiểm toán viên phải khẳng đònh được các số liệu trong Báo cáo tài
chính và các số liệu về kế toán, tài chính khác có liên quan có được trình bày theo

đã không ngừng đa dạng hóa các dòch vụ của mình bên cạnh việc hoàn thiện, nâng cao
chất lượng hoạt động kiểm toán của mình. Có rất nhiều tiêu chí được dùng làm cơ sở
đánh giá chất lượng của dòch vụ kiểm toán. Tùy vào nhận thức, mục đích của chính công
ty, họ sẽ có những tiêu chí riêng để đánh giá chất lượng hoạt động của mình như: tuân
thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng và năng lực chuyên môn, giao việc,
hướng dẫn và giám sát, tham khảo ý kiến, duy trì và chấp nhận khách hàng, kiểm tra.
Ngoài ra, những hiệp hội kiểm toán viên công chứng cũng xác lập những thủ tục
giám sát chất lượng hoạt động kiểm toán của các công ty kiểm toán. Ví dụ, ở Mỹ, biện
pháp kiểm tra chéo đã được thực hiện rộng rãi từ năm 1975. Kiểm tra chéo là sự kiểm 12
tra lẫn nhau bởi những công ty kiểm toán, với mục đích đánh giá về thiết kế của hệ
thống kiểm soát chất lượng của công ty kiểm toán, và về tính tuân thủ hệ thống của
chính công ty đó. Nội dung kiểm tra chéo chủ yếu là việc xem xét hồ sơ kiểm toán của
một số hợp đồng kiểm toán quan trọng. Ngoài ra, họ còn xem xét những khía cạnh khác
như về việc tái đào tạo nhân viên, việc tiếp nhận khách hàng… Khi kết thúc, họ sẽ gửi
một báo cáo đánh giá và đề xuất những phương hướng cải tiến chất lượng.
Như vậy, không có một tiêu thức chung nhất đònh để đánh giá chất lượng của
cuộc kiểm toán. Chất lượng hoạt động kiểm toán được đánh giá khác nhau tùy vào mỗi
góc độ của người tiếp cận.
1.2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán
Như đã trình bày ở phần trên, chất lượng hoạt động kiểm toán được xem xét trên
nhiều giác độ khác nhau. Tuy nhiên, dù ở góc độ nào thì nó vẫn chòu tác động của một
số nhân tố, làm cho nó được nâng cao, hoàn thiện hoặc bò hạn chế, kìm hãm. Một cách
chung nhất, có hai loại nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dòch vụ kiểm toán, đó là nhân
tố bên trong và nhân tố bên ngoài.
¾
Nhóm nhân tố bên ngoài.
• Môi trường pháp lý:

tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp dù hoạt động trong lónh vực nào, sản xuất hay
dòch vụ cũng phải tính đến yếu tố nâng cao chất lượng hoạt động để giảm áp lực cạnh
tranh. Kiểm toán cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Trong giai đoạn hiện nay, doanh nghiệp kiểm toán ngày càng được quan tâm
nhiểu hơn trong hầu hết các doanh nghiệp. Ngoài việc doanh nghiệp tự nhận thức sự cần
thiết của kiểm toán thì yếu tố luật pháp cũng bắt buộc kiểm toán đối với một số doanh
nghiệp cũng là cơ sở để thúc đẩy các công ty kiểm toán ra đời và phát triển. Cho nên, 14
việc đảm bảo chất lượng của dòch vụ kiểm toán là một đòi hỏi hết sức quan trọng đối
với các công ty kiểm toán trước sự cạnh tranh gay gắt của thò trường. Công ty kiểm toán
phải vừa đáp ứng tốt nhu cầu của thò trường vừa không ngừng nâng cao chất lượng hoạt
động dòch vụ của mình để thu hút ngày càng nhiều khách hàng. Khác với các ngành sản
xuất, kiểm toán là một loại hình dòch vụ, nó không tạo ra sản phẩm cụ thể để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng mà sản phẩm của nó được sử dụng để thúc đẩy sự phát triển, lành
mạnh hóa nền kinh tế.
Như vậy, nhu cầu của thò trường ngày càng nhiều thì các công ty kiểm toán càng
có thêm cơ hội để thể hiện tính trung thực, độc lập, khách quan của mình trong việc
phục vụ khách hàng, đồng thời có thêm động lực phát triển nhanh chóng. Nói như thế
không có nghóa là các công ty kiểm toán tự bằng lòng với việc phục vụ khách hàng mà
ngược lại, muốn tìm kiếm, thu hút khách hàng thì các công ty này cần nâng cao hiệu quả
hoạt động của mình.
¾
Nhóm nhân tố bên trong
• Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp của công ty
Đây là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ nhất đến hiệu quả hoạt động,
không những đối với công ty kiểm toán mà còn tất cả các ngành nghề trong nền kinh tế
vì nhân tố con người bao giờ cũng được xem là nhân tố căn bản và quan trọng nhất trong
mọi thời đại. Đối với công ty kiểm toán, nguồn nhân lực sẽ quyết đònh sự thành công

kiểm toán sẽ bò tiêu giảm do kiểm toán là nghề nghiệp mang tính thời vụ.
• Phương pháp truyền đạt, phân công quyền hạn, trách nhiệm đối với nhân viên.
Kiểm toán là một hoạt động nghề nghiệp đặc biệt. Ngoài việc kiểm tra, đánh giá
tình hình của các doanh nghiệp được kiểm toán, kiểm toán viên còn phải đưa ra những ý
kiến đánh giá của mình để hướng dẫn, tư vấn cho họ. Cho nên, trách nhiệm của kiểm
toán viên đối với một cuộc kiểm toán là rất lớn, có ảnh hưởng đến uy tính, chất lượng 16
hoạt động của công ty kiểm toán. Vì vậy, công ty kiểm toán cần cân nhắc, có chính sách
cụ thể cho việc phân công trách nhiệm, quyền hạn cho các nhân viên của mình nhằm
bảo đảm phát huy tối đa khả năng, thế mạnh của từng nhân viên. Chuẩn mực kiểm toán
Việt Nam số 220 đã nêu rõ: “Công việc kiểm toán phải được giao cho những cán bộ,
nhân viên chuyên nghiệp được đào tạo và có đầy đủ kỹ năng và năng lực chuyên môn
đáp ứng được yêu cầu thực tế.”
• Chính sách đối với nhân viên.
Bên cạnh những yếu tố trên thì chính sách đối với nhân viên cũng là một trong
những nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán của công ty kiểm toán.
Công ty cần có những chính sách phù hợp để khuyến khích, động viên đội ngũ nhân
viên của mình như chế độ tiền lương, khen thưởng, thăng tiến…theo mức độ hoàn thành
công việc được giao. Đây là động lực giúp cho các nhân viên của công ty làm việc hăng
hái, tích cực và đạt hiệu quả cao. Hiện nay, tùy vào tình hình cụ thể mà mỗi công ty sẽ
đưa ra các chế độ riêng biệt cho đội ngũ nhân viên của công ty nhưng nói chung phải
đáp ứng được các nhu cầu tối thiểu đồng thời phải thõa mãn phần nào các nhu cầu chính
đáng của nhân viên.
Trên đây là những nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng của dòch vụ kiểm toán.
Ngoài ra, chúng ta cần phải kể đến một số yếu tố thuộc chiến lược và mục đích hoạt
động của công ty kiểm toán. Đó là việc xem xét, đánh giá giữa lợi ích có thể đạt được
và rủi ro có thể xảy ra đối với công ty. Bất cứ hoạt động nào trong nền kinh tế thò trường
đều chứa đựng hai mặt lợi ích và rủi ro. Kiểm toán cũng không nằm ngoài quy luật trên.

triển đó kéo theo sự phức tạp của công tác kế toán, kiểm toán và làm nảy sinh không ít
vụ kiện có liên quan đến trách nhiệm pháp lý của các kiểm toán viên độc và các công
ty kiểm toán độc lập. Có thể minh chứng bằng vụ kiện điển hình các các cổ đông của
tập đoàn Worldcom, tập đoàn Enron kiện công ty kiểm toán Arthur Andersen về tính
độc lập và trung thực của kiểm toán viên độc lập. Ở Việt Nam chưa có vụ kiện lớn nào
vể kiểm toán, tuy nhiên cũng đã xuất hiện những sai phạm của công ty kiểm toán trong 18
việc kiểm toán Báo cáo tài chính của tổ chức phát hành
1.2.2.2 Lợi ích của việc kiểm sóat chất lượng kiểm tóan
Nền kinh tế thò trường càng phát triển thì yêu cầu về chất lượng dòch vụ kiểm toán
độc lập cũng phải ngày càng cao hơn và đáng tin cậy hơn. Cũng chính từ lý do này, hoạt
động kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập ra đời và rất cần thiết cho một
nền kinh tế phát triển. Hiện nay, hoạt động kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán
độc lập đã trở thành bắt buộc đối với nhiều quốc gia có nền kinh tế thò trường phát trie
ån, nó đem lại các lợi ích sau đây:
-Giúp mọi người có nhận thức đúng đắn về chất lượng dòch vụ được cung cấp và
lựa chọn được công ty kiểm toán có chất lượng cao.
-Góp phần vào việc tổ chức tốt và hoàn thiện các phương pháp làm việc của các
công ty kiểm toán.
-Giúp đánh giá việc áp dụng các quy tắc và chuẩn mực nghề nghiệp của các công
ty kiểm toán.
-Thông qua kiểm soát chất lượng hoạt động, cảnh báo cho các công ty được kiểm
tra những khuyết điểm có thể gây tổn hại đến chất lượng dòch vụ của họ, đồng thời phát
hiện và chỉ cho họ các biện pháp điều chỉnh, sửa chữa nhằm nâng cao chất lượng dòch
vụ.
-Thông báo cho các cấp nghề nghiệp biết những vấn đề mà các công ty kiểm toán
đã gặp phải khi tiến hành các nghiệp vụ và như vậy giúp các cấp này đưa ra những
quyết đònh hợp lý.

Kiểm tóan viên hành nghề .
- Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đặc biệt là Chuẩn mực kiểm toán Việt
Nam số 220-“Kiểm soát chất lượng kiểm toán”, ban hành kèm theo Quyết đònh số 20
28/QĐ-BTC ngày 28/03/2003- đã đưa ra những quy đònh về các nguyên tắc, thủ tục cơ
bản và những thể thức áp dụng chúng trong tất cả các giai đoạn và từng bước công việc
của cuộc kiểm toán giúp cho kiểm toán viên thực hiện các cuộc kiểm toán một cách
khoa học và hợp lý, trên cơ sở đó đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng dòch vụ kiểm
toán.
- Quyết đònh số 47/2005/QĐ-BTC ban hành ngày 14/7/2005 Về việc “chuyển
giao cho Hội nghề nghiệp, thực hiện một số nội dung công việc quản lý hành nghề kế
toán, kiểm toán.”
Với Quyết đònh nầy, Bộ Tài chính đã chuyển giao cho Hội Kiểm toán viên hành
nghề Việt Nam một chức năng rất quan trọng là kiểm tra, giám sát và nâng cao chất
lượng hoạt động dòch vụ kế toán, kiểm toán theo một lộ trình với những điều kiện chặt
chẻ, quy đònh quyền và trách nhiệm của tổ chức nghề nghiệp , kiểm tóan viên và công
ty kiểm tóan . Mặt khác, Hội cũng đang ở vò thế rất thuận lợi để hoàn thành vai trò của
mình trong sứ mệnh được giao như: Hội là một tổ chức nghề nghiệp độc lập đại diện cho
lợi ích của toàn bộ đội ngũ kiểm toán viên hành nghề; Hội tập hợp được đội ngũ cán bộ
có trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tế chuyên sâu về kế toán, kiểm toán, đã người
đồng thời có uy tín, năng lực và trách nhiệm nghề nghiệp cao, có đầy đủ các điều kiện
để thực hiện tốt công tác này.
1.3 Các cấp độ của kiểm soát chất lượng kiểm toán:
1.3.1 Kiểm soát chất lượng bên trong của bản thân công ty kiểm toán độc lập :
Việc kiểm soát chất lượng của bản thân công ty kiểm toán vừa là quy chế và là các
bước công việc mà các công ty kiểm toán phải làm để có cam kết hợp lý rằng mọi phần
việc, mọi cuộc kiểm toán mà công ty đã thực hiện là phù hợp với các chuẩn mực kiểm
toán Việt Nam hoặc những chuẩn mực quốc tế được thừa nhận, điều này đã được thể
22
tra trong công ty được thuận lợi và đảm bảo, tuy nhiên đối với các công ty
nhỏ thì không cần thiết.
¾ Mối quan hệ giữa chi phí và lợi ích: Cũng như những công ty kinh doanh các
ngành nghề khác trong nền kinh tế thì một trong những mục đích của các
công ty kiểm toán cũng là lợi nhuận. Các chính sách và thủ tục mà các công
ty áp dụng phải phù hợp với giá phí, cân bằng giữa rủi ro và lợi ích, và đảm
bảo chất lượng cuộc kiểm toán và trách nhiệm nghề nghiệp đối với xã hội
của kiểm toán viên.
1.3.1.2 Các chính sách kiểm soát chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính của
công ty.
1.3.1.2.1 Chính sách kiểm soát chất lượng kiểm toán
Nội dung, quy mô và trình tự tiến hành thủ tục kiểm soát chất lượng kiểm toán
được vận dụng tuỳ vào điều kiện cụ thể của từng hợp đồng kiểm toán. Tuy nhiên, có
những chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng kiểm toán mà công ty kiểm toán phải
xây dựng và thực hiện trong mọi cuộc kiểm toán để phù hợp với chuẩn mực kiểm toán
Việt Nam hoặc chuẩn mực kiểm toán quốc tế mà Việt Nam chấp nhận.
Theo chuẩn mực số 220-Kiểm soát chất lượng kiểm toán để đạt được mục tiêu
kiểm soát chất lượng kiểm toán, các công ty kiểm toán thường áp dụng kết hợp các
chính sách sau:
1.3.1.2.2 Tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp
Cán bộ, nhân viên chuyên nghiệp cũa công ty kiểm toán phải tuân thủ các
nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán, gồm: độc lập, chính trực, khách quan, năng
lực chuyên môn, tính thận trọng, bí mật, tư cách nghề nghiệp và tuân thủ chẩn mực
chuyên môn. 23

xác đònh cụ thể, phù hợp với đối tượng kiểm toán và yêu cầu pháp lý của cuộc kiểm
toán, cơ cấu bao gồm: giám đốc (partner), Giám đốc kiểm toán (manager), giám sát
kiểm toán (supervisor), kiểm toán viên chính (senior auditor) và các trợ lý kiểm toán.
Cấp độ giám sát kiểm toán sẽ tăng dần lên theo phạm vi của đối tượng và tính chất
pháp lý của cuộc kiểm toán. Bên cạnh việc tuân thủ các quy đònh trong việc soát xét
công việc kiểm toán của công ty trong từng nhóm kiểm toán, việc giám sát có thể do
các kiểm toán viên trong các nhóm kiểm toán khác thực hiện.
1.3.1.2.6 Tham khảo ý kiến
Khi cần thiết, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải tham khảo ý kiến tư vấn
của chuyên gia trong công ty hoặc ngoài công ty.
Việc tham khảo ý kiến tư vấn của chuyên gia sẽ tăng mức độ tin cậy của ý kiến
kiểm toán về các lónh vực chuyên môn phức tạp, những ngành nghề kinh doanh phức
tạp. Tuy nhiên, khi tham khảo ý kiến của chuyên gia, công ty kiểm toán luôn luôn phải
xem xét đến năng lực chuyên môn và tính độc lập, khách quan của chuyên gia tư vấn.
1.3.1.2.7 Duy trì và chấp nhận khách hàng
Trong quá trình duy trì khách hàng hiện có và đánh giá khách hàng tiềm năng,
công ty kiểm toán phải cân nhắc đến tính độc lập, năng lực phục vụ khách hàng của
công ty kiểm toán và tính chính trực của Ban quản lý khách hàng.
Việc cân nhắc đến khả năng phục vụ khách hàng của công ty kiểm toán và tính
chính trực của nhà quản lý công ty khách hàng, là nhân tố quan trọng quyết đònh đến
chất lượng kiểm toán. Nếu công ty kiểm toán không có những nhân viên chuyên nghiệp,
am hiểu về lónh vực kinh doanh của khách hàng thì họ nên nghó đến quyết đònh không
thực hiện kiểm toán đối với khách hàng đó. Nếu những nghi ngại về tính chính trực của
nhà quản trò quá nghiêm trọng, công ty kiểm toán cũng có thể từ chối kiểm toán khách
hàng đó. 25
1.3.1.2.8 Kiểm tra
Công ty kiểm toán phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra tính đầy đủ và tính hiệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status