Phương hướng và giải pháp hoàn thiện bộ máy quản trị của Công ty cổ phần Lắp máy điện nước và Xây dựng - Pdf 20

LỜI MỞ ĐẦU
Nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản trị là một đòi hỏi khách
quan của hầu hết các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Đây là một vấn
đề hết sức phức tạp và có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi lẽ đối tượng của họ là
những người lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất, những người làm những
công việc chuẩn bị và lãnh đạo sản xuất về mọi mặt.
Hoạt động lao động của họ có tác dụng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh;
đồng thời để cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển thì phải có bộ máy quản trị
gọn nhẹ, năng động và linh hoạt phù hợp với qui luật của nền kinh tế thị trường
cổ phần hoá bộ phận DNNN là điều kiện tất yếu khách quan.
Sau một thời gian nghiên cứu, học tập, trang bị kiến thức tại trường và
qua thời gian thực tập nghiên cứu thực tế tại Công ty cổ phần lắp máy điện nước
và xây dựng thuộc Tổng công ty xây dựng Hà Nội. Tôi đã chọn đề tài:
“Phương hướng và giải pháp hoàn thiện bộ máy quản trị của Công ty cổ
phần Lắp máy điện nước và Xây dựng”.
Mặc dù đã làm hết sức mình nhưng đây là vấn đề tương đối mới mẻ, vì
vậy chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong sự thông cảm của
các thầy cô giáo trường Đại học KTQD Hà nội và tập thể cán bộ công nhân viên
Công ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng.
1
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC
BỘ MÁY QUẢN LÝ
I. THỰC CHẤT CỦA QUẢN LÝ VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
CỦA QUẢN LÝ
1. Thực chất của quản lý
Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể
quản lý lên tập thể những người lao động trong hệ thống và khách thể quản lý,
sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu
quản lý đề ra theo đúng luật định và thông lệ hiện hành.
Thực chất của quản lý là quản lý con người trong hoạt động kinh tế, thông

- Tập trung dân chủ
- Kết hợp hài hoà các loại lợi ích xã hội.
- Tiết kiệm và hiệu quả
- Phân hoá tối ưu.
- Nắm đúng khâu xung yếu
- Kiên trì mục tiêu ý định.
- Chuyên môn hoá
- Khéo che dấu ý đồ
- Xử lý tốt các mối quan hệ đối ngoại
2.2. Các phương pháp quản lý nội bộ.
• Khái niệm:
Các phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có thể có và
có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý đề
đạt được các mục tiêu đã đề ra.
• Các phương pháp quản lý nội bộ.
- Các phương pháp tác động lên con người bao gồm.
1/ Các phương pháp hành chính: là các phương pháp tác động dựa vào các
mối quan hệ tổ chức của hệ thống quản lý là các tổ chức trực tiếp của chủ thể
3
quản lý lên tập thể những người lao động dưới quyền bằng các quyết định dứt
khoát, mang tính bắt buộc, đòi hỏi người lao động chấp hành nghiêm chỉnh nếu
vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời đích đáng.
Vai trò của các phương pháp hành chính rất to lớn, nó xác lập trật kỷ
cương làm việc trong hệ thống, khâu nối các phương pháp khác lại thành một hệ
thống, dấu được bí mật ý đồ hoạt động, giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản
lý rất nhanh chóng.
Các phương pháp hành chính tác động vào đối tượng theo hai hướng.
- Tác động về mặt tổ chức và tác động điều chỉnh hành động của đối
tượng quản lý.
+ Tác động về mặt tổ chức chủ thể quản lý ban hành các văn bản qui định

các đòn bảy kinh tế như giá cả, lợi nhuận, tín dụng, lãi suất, tiền lương, tiền
thưởng... nó liên quan chặt chẽ đến các quan hệ hàng hoá - tiền tệ.
+ Hai là: Dùng phương pháp kinh tế phải thực hiện sự phân cấp đúng đắn
giữa các quản lý.
+ Ba là: Sử dụng p hương pháp kinh té đòi hỏi cán bộ quản lý phải có
một trình độ và năng lực về nhiều mặt phải hiểu biết và thông thạo nhiều kiến
thức và kinh nghiệm quản lý, đồng thời phải có bản lĩnh tự chủ vững vàng.
3/ Các phương pháp giáo dục: Là các cách tác động vào nhận thức và tình
cảm của người lao động nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình lao động của
họ trong việc thực hiện nhiệm vụ. Trên đây trình bày 3 phương pháp quản lý
mỗi phương pháp quản lý đều có ưu và nhược điểm riêng vì vậy cần phải két
hợp lại để bổ sung cho nhau. Trong 3 phương pháp trên nên đặc biệt coi trọng
phương pháp kinh tế.
• Các phương pháp tác động lên các yếu tố khác của hệ thống.
Đó là phương pháp quản lý đi sâu vào từng yếu tố chi phối lên các đầu
vào của quá trình quản lý các phương pháp quản lý này mang tính nghiệp vụ gắn
liền với tính kỹ thuật và thường gắn với phương pháp toán kinh tế nó là một loại
công cụ không thể thiếu trong việc lựa chọn các phương pháp quản lý ngày nay.
Các phương pháp tác động lên các hệ thống khác (bên ngoài)
5
Đó là các tác động bên ngoài hệ thống, nó không thể sử dụng các tác động
trực tiếp như để sử dụng trong nội bộ, mà tuỳ thuộc vào mối tương quan lệ thuộc
và phụ thuộc cụ thể diễn ra như thế nào (mình lệ thuộc họ hay họ lệ thuộc mình,
hoặc mình và họ là quan hệ tương đồng) mà có cách sử dụng phương pháp này
thích hợp.
II. THỰC CHẤT VÀ YÊU CẦU CỦA VIỆC TỔ CHỨC BỘ MÁY
QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP
1. Thực chất của tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp
Là tổng hợp các bộ phận (đơn vị và cá nhân) khác nhau có mối liên hệ và
quan hệ phụ thuộc lẫn nhau được chuyên môn hoá và có những trách nhiệm và

3. Những nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức bộ máy quản lý doanh
nghiệp.
- Cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp được ví như cơ thể sống các
bộ phận chức năng và các cấp cũng giống như các bộ phận trong cơ thể nó có sự
liên quan chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau và cơ thể sống đó (cơ cấu tổ chức) bị ảnh
hưởng nhiều yếu tố như: Môi trường bên ngoài doanh nghiệp, môi trường bên
trong doanh nghiệp. Bao gồm:
Môi trường bên ngoài:
- Các yếu tố kinh tế.
- Các yếu tố chính phủ và chính trị
- Các yếu tố xã hội.
- Các yếu tố tự nhiên
- Các đối thủ cạnh tranh
- Khách hàng
- Người cung ứng nguyên vật liệu
- Các đối thủ tiềm ẩn
- Hàng thay thế.
Môi trường bên trong:
- Nguồn nhân lực.
- Nghiên cứu và phát triển
7
- Sản xuất
- Tài chính, kế toán.
- Marketing.
- Nền nếp, tổ chức.
Cơ cấu tổ chức chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như ở trên đã nói, nhưng
nổi lên có 7 yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến tổ chức bộ máy quản lý.
1. Chiến lược
2. Quy mô và mức độ phức tạp của tổ chức.
3. Công nghệ

9
Bậc 1: Bậc 2:
Bậc 3:
Bậc 4:
10
Ông chủ
cấp dưới
Ông chủ
Quản trị
bán hàng
Quản trị
tín dụng
Quản trị
giao hàng
Chủ tịch
Q.trị SX KT trưởng
Q.trị Marketing
Q.trị bán hàng
Q.trị
khuyến mại
Q.trị mua
hàng
Chi nhánh
miền Đông
Chi nhánh
miền Tây
Thành phố Quận, huyện Xã
Tổng giám đốc điều hành
Bộ máy lãnh đạo tập đoàn
- công ty

dụng để quản lý bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào. Nếu hãng phát triển thành
một tổ chức có quy mô lớn hơn thì có thể bổ sung thêm 1 cấp quản lý khác hoặc
tăng thêm số cán bộ quản trị trong nội bộ cấp đó. Cơ cấu tổ chức bậc 3 có thể
được áp dụng cho mọi loại hình tổ chức cụ thể đã được bàn đến ở trên.
Thứ tư: Cơ cấu tổ chức bậc 4 cần thiết cho các hãng lớn trong đó đề ra
đơn vị kinh doanh chiến lược hoặc vượt quá khả năng quản lý theo cơ câu bậc 3
11
vì vậy tổ chức bậc 4 là một tổ chức phân cấp và bao gồm tổ hợp của một số tổ
chức bậc 3.
3.3. Hãng công nghệ: Đặc điểm chung và mức độ phức tạp của công nghệ
mà doanh nghiệp sử dụng có thể ảnh đến cơ cấu tổ chức.
Thí dụ: Các doanh nghiệp chú trọng đến công nghệ cao thường có định
mức quản lý thấp. Cơ cấu tổ chức phải được bố trí sao cho tăng cường được khả
năng của doanh nghiệp có thể hợp nhất loại phản ứng trước sự thay đổi nhanh
chóng về công nghệ. Nhưng thường như cơ cấu tổ chức thường đi sau nhu cầu
công nghệ, gây ra sự chậm trễ trong việc khai thác đầy đủ công nghệ mới. Nếu
hệ thống cơ cấu tổ chức phù hợp với hệ thống công nghệ và đảm bảo sự điều
phối một cách chặt chẽ trong việc ra quyết định liên quan đến kinh doanh và
công nghiệp.
3.4. Môi trường diễn biến nhanh.
Mức độ môi trường diễn biến nhanh cũng ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức.
Trong điều kiện môi trường kinh doanh ổn định thì các nghiệp có cơ cấu tổ chức
cứng nhắc, trong đó việc ra quyết định mang tính chất tập chung với những chỉ
thị nguyên tắc và thể lệ cứng dắn đều có thể quản lý tốt. Ngược lại những doanh
nghiệp từng thành công trong điều kiện môi trường thay đổi nhanh chóng
thường xây dựng cơ cấu tỏo chức có mối liên hệ gắn bó hữu cơ, trong đó việc ra
quyết định mang tính phân tán (phân cấp) với các thể lệ mềm mỏng, các phòng
ban có sự liên kết với nhau và với các tổ đội đa chức năng.
3.5. Thái độ của lãnh đạo cấp cao.
Thái độ của lãnh đạo cấp cao cũng có thể tác động đến cơ cấu tổ chức.

lĩnh vực sản xuất kinh doanh thực hiện hạch toán kinh tế độc lập trực thuộc
Tổng công ty xây dựng Hà nội, trụ sở của công ty tại 61E - Đê La Thành - Láng
Thượng - Đống Đa - Hà Nội.
Tiền thân của công ty lắm máy điện nước và xây dựng là xí nghiệp điện
nước thuộc công ty xây dựng số 3 (công ty xây dựng bảo tàng Hồ Chí Minh) -
Tổng công ty xây dựng Hà Nội xí nghiệp được thành lập vào năm 1978 theo sự
đòi hỏi của quá trình chuyên môn hoá sản xuất. Khi đó công ty xây dựng số 3
bao gồm nhiều xí nghiệp, mỗi xí nghiệp đảm trách một phần việc cụ thể của
công tác xây dựng, trong đó xí nghiệp điện nước có nhiệm vụ thi công và lắp đặt
các công trình, hạng mục công trình điện nước. Trong thời kỳ bao cấp cùng với
sự khó khăn chung của nền kinh tế đất nước, xí nghiệp điện nước cũng gặp
không ít khó khăn mà khó khăn về quyền chủ động trong công việc là khó khăn
lớn nhất. Từ sau đại hội lần thứ VI nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế
thị trường cùng với sự ăn nên làm ra của công ty xây dựng số 3, Xí nghiệp điện
nước là một đơn vị hoạt động có hiệu quả, đóng góp một phần không nhỏ vào
kết quả hoạt động của toàn công ty. Để phát huy hơn nữa hiệu quả hoạt động
của xí nghiệp điện nước cùng với việc mở rộng quy mô sản xuất của xí nghiệp
ngày 29/3/1993 Bộ trưởng Bộ xây dựng đã ký quyết định 151A/ NXD - TCLĐ
về việc thành lập lại DNNN. Xí nghiệp điện nước tách khỏi công ty xây dựng số
3 - Tổng công ty xây dựng Hà Nội và được mang tên công ty lắp máy điện nước
và xây dựng trực thuộc Tổng công ty xây dựng Hà Nội.
14
* Giai đoạn II: Từ năm 1993 - 1999 từ sau khi thành lập được sự giúp đỡ
của Tổng công ty xây dựng Hà Nội và các đơn vị bạn hàng trên địa bàn Hà Nội
và các tỉnh trong cả nước Công ty lắp máy điện nước và xây dựng đã từng bước
khẳng định được sự vững mạnh và phát triển của mình. Với cương vị hoạt động
sản xuất kinh doanh Công ty lắp máy điện nước và xây dựng được phép tiến
hành các ngành nghề chủ yếu là:
- Xây dựng các công trình, hạng mục công trình xây dựng công nghiệp và
dân dụng, xây dựng thi công đường xá, cầu cống.

- Tập huấn cổ phần hoá.
- Khoá sổ kế toán, xử lý các tồn tại về tài chính và lập báo cáo tài chính.
- Lập danh sách lao động được mua cổ phần hoá theo giá ưu đãi.
- Xác định giá thực tế và giá thực tế phần vốn Nhà nước.
- Xây dựng phương án cổ phần hoá và điều lệ công ty cổ phần.
- Đại hội bất thường cán bộ, công nhân viên chức
- Phê duyệt phương án cổ phần hoá
- Quảng cáo tiếp thị tổ chức bán cổ phần
- Đại hội cổ đông
- Khắc dấu đăng ký kinh doanh
- Bàn giao tài sản, vốn công ty cổ phần, khai trương công ty cổ phần
2. Tình hình đặc điểm Công ty
2.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý điều hành của công ty
Để đảm bảo công tác tổ chức, quản lý điều hành hoạt động của công ty
được tốt, bộ máy điều hành của công ty lắp máy điện nước và xây dựng được tổ
chức theo kiểu trực tuyến tham mưu, ban lãnh đạo của công bao gồm 4 người:
Đứng đầu là Giám đốc công ty phụ trách chung toàn bộ hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty, trực tiếp chỉ đạo hoạt động của các phòng ban và
các đơn vị trực thuộc công ty.
Tham mưu giúp việc cho giám đốc công ty là các phó giám đốc chuyên
trách từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh, cụ thể:
- Phó giám đốc chuyển trách lắp máy điện nước, trực tiếp phụ trách các xí
nghiệp điện nước (xí nghiệp điện nước 2, xí nghiệp điện nước 4, xí nghiệp xây
16
lắp kết cấu kim loại số 7) và các tổ đội trực thuộc công ty như: Đội điện nước số
3, số 5, số 6 Đội lắp số 8, đội lắp ráp kết cấu thép.
- Phó giám đốc chuyên trách lĩnh vực thi công, xây lắp, an toàn lao động
và kiểm tra chất lượng công trình (KCS) trực tiếp phụ trách các xí nghiệp xây
dựng (xí nghiệp xây số 9, xí nghiệp xây dựng số 11, xí nghiệp xây lắp hoàn
thiện số 12) và các đội, xưởng trực thuộc công ty như: Đội xây dựng số 10,

khả thi các dự án đầu tư của công ty, khai thác, tìm kiếm các công việc thi công
xây lắp, quản lý việc thực hiện thực thi dự án, đôn đốc việc thanh quyết toán vốn
các dự án đã hoàn thành.
- Phòng kinh doanh vật tư: gồm 6 người có nhiệm vụ mua bán quản lý
cung cấp vật tư cho xí nghiệp, tổ, đội, xưởng sản xuất trực thuộc công ty và các
bên đối tác có nhu cầu về vật tư phục vụ cho công tác xây lắp, quản lý kho bãi
tập kết vật tư...
- Phòng kỹ thuật thi công - an toàn lao động, KCS: gồm 12 người có
nhiệm vụ giám sát chất lượng kỹ thuật mỹ thuật, tiến độ thi công, an toàn lao
động của các công trình, hạng mục công trình mà công ty đảm nhận thi công, lập
chương trình áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới quy trình công
nghệ vào sản xuất thi công...
- Phòng tài chính kế toán thống kê: gồm 7 người có nhiệm vụ tổ chức
triển khai thực hiện toàn bộ công tác tài chính kế toán, công tác kiểm tra giám
sát việc huy động và sử dụng vốn của công ty, lập báo cáo về tình hình tài chính
định kỳ theo quy định của Nhà nước. Tổ chức ghi chép tính toán và phản ánh
chính xác trung thực, kịp thời, đầy đủ toàn bộ tài sản và nguồn vốn.
Các xí nghiệp, tổ, đội, phân xưởng trực thuộc công ty là những đơn vị có
nhiệm vụ thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty theo lĩnh vực
mà xí nghiệp, tổ, đội, phân xưởng được giao. Đây là lực lượng chính trực tiếp
thực thi nhiệm vụ xây lắp của công ty đồng thời tạo ra khoản thu nhập chủ yếu
cho công ty. Chúng ta có thể thấy rõ hơn tình hình tổ chức bộ máy quản lý, điều
hành của Công ty xây lắp máy điện nước và Xây dựng qua biểu 02
Nhìn chung việc tổ chức bộ máy quản lý điều hành của Công ty lắp máy
điện nước và Xây dựng là hợp lý phù hợp với tình hình thực tế đảm bảo tính
18

Trích đoạn HOÀN THIỆN CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN TRỊ LÀM CƠ SỞ HOÀN THIỆN THÊM QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status