BỘ XÂY DỰNG
CHIẾN LƯỢC ĐÀO TẠO NGUỒN
NHÂN LỰC NGÀNH XÂY DỰNG
ĐẾN NĂM 2010 VÀ TẦM NHÌN 2020
1
HÀ NỘI - THÁNG 01 NĂM 2002
MỞ ĐẦU
trang 1
Chương 1 :
THực trạng đào tạo nguồn nhân lực
ngành xây dựng dân dụng và công nghiệp việt nam
trang 5
Chương 2 :
nội dung chiến lược đào tạo nguồn nhân lực ngành
xây dựng đến năm 2010 và tầm nhìn 2020
trang 11
Chương 3 :
tổ chức thực hiện nội dung chiến lược
trang 23
2
mở đầu
1. Sự cần thiết phải xây dựng chiến lược
Sau trên 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế
nước ta đã có những chuyển biến tích cực rõ rệt với sự tăng trưởng GDP khoảng
7% hàng năm. Tuy vậy, nhìn chung nước ta vẫn ở vào hàng những nước kém phát
triển trên thế giới.
Các văn kiện Đại Hội IX của Đảng ghi rõ nhiệm vụ trong những năm đầu của thế
kỷ 21 là cần thiết phải nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân,
tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại.
Do đó cần thiết phải xây dựng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực, trong đó có
2.2 Xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực không thể tách rời tình hình thực tế
của hiện trạng:
Hiện nay (thống kê tháng 10 năm 2001) đang có trên 1,2 triệu người tham gia sản
xuất trong lĩnh vực xây dựng dân dụng và công nghiệp, trong đó có 1.150215
công nhân, 15.137 cán bộ kỹ thuật trình độ trung học, 34.648 người ở trình độ
cao đẳng, đại học và sau đại học.
Hệ thống đào tạo hiện nay của nước ta có 223 trường cao đẳng và đại học, 274
trường trung học chuyên nghiệp, 227 trường dạy nghề chính quy, trên 1000 cơ sở
dạy nghề bán công, khoảng 500 trung tâm dạy nghề tại các quận huyện và 190
trung tâm hướng nghiệp.
Chúng ta đã có nhiều thành tích trong đào tạo cán bộ và công nhân xây dựng. Hệ
thống các trường trong Bộ Xây dựng có 33 trường gồm 1 trường đại học, 4 trường
cao đẳng, 6 trường trung học xây dựng và 24 trường dạy nghề.
Nhìn chung số lao động đã đáp ứng được nhiệm vụ xây dựng của những năm vừa
qua. Nhưng thực tế cho thấy, lao động đã qua đào tạo còn chiếm tỷ lệ thấp. Theo
yêu cầu của việc phát triển công nhân kĩ thuật xây dựng trong những năm tới,
phải tăng số lao động thuộc ngành từ 1,2 triệu người hiện nay lên thành 1,5 triệu
người vào năm 2005.
Tình hình chất lượng công trình xây dựng là sản phẩm của lao động trong ngành
làm ra, những năm gần đây, được xem là khá nhưng nhận định một cách khách
quan thì chưa thật đáp ứng yêu cầu mà nguyên nhân chủ yếu do trình độ tay nghề
của CB,CN của ngành còn hạn chế.
4
Việc thực thi hiệp nghị AFTA đòi hỏi phải nâng trình độ nhân lực lên ngang tầm
khu vực để nước ta không bị tụt hậu cũng như làm cho lao động nước ta có thể
xâm nhập khu vực thuận lợi.
2.3 Xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực phải dựa theo xu hướng phát triển
kinh tế thế giới và yêu cầu mới vể nguồn nhân lực
2.3.1 Sự xuất hiện nền kinh tế tri thức - bước phát triển nhảy vọt của lực lượng
sản xuất và những cơ hội đối với đất nước ta.
Các trường đại học đào tạo ngành xây dựng tập trung tại ba thành phố lớn là Hà
Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh. Các trường này tổ chức việc đào tạo tại
các địa điểm khác nhau trong nước, như Đại học Kiến trúc Hà Nội mở các trạm
đào tạo tại Tuy Hoà, Huế, Vinh, Uông Bí. Đại học Xây dựng mở các trạm đào
tạo tại Lai Châu, Quảng Ninh, Hải Phòng, Vinh, Tuy Hoà, Nha Trang. Đại học
6
Kỹ thuật Đà Nẵng tại Nha trang, Qui Nhơn. Việc các trường với ra phạm vi hoạt
động quá xa và quá lâu là do chưa có sự liên kết đào tạo và sẽ đưa đến làm giảm
chất lượng đào tạo.
Tại Hà Nội có các trường Đại học Xây dựng, Đại học Kiến trúc là trường Đại học
công lập có các ngành kiến trúc và xây dựng. Ngoài ra có các trường ngoài công
lập như Đại học dân lập Đông Đô, Đại học Phương Đông cũng có các ngành xây
dựng và Kiến trúc.
Tại Đà Nẵng, trường Đại học Kỹ thuật (công lập) và trường Dân lập Duy Tân có
đào tạo các ngành kiến trúc và xây dựng.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại học Kiến trúc t.p. HCM, trường Đại học
Bách Khoa t.p. HCM và trường Đại học dân lập Văn Lang, đại học Văn Hiến, đại
học Hồng Bàng có đào tạo ngành kiến trúc và xây dựng.
Hiện nay việc đào tạo các hình thức sau đại học Thạc sỹ và Tiến sỹ thuộc các lĩnh
vực liên quan đến kiến trúc và xây dựng, chỉ được thực hiện ở trường Đại học
Kiến trúc Hà Nội, Đại học Kiến trúc thành phố Hồ chí Minh, Đại học Xây dựng,
đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh.
Hệ cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng có 3 trường mới phát triển mấy năm gần đây.
Tại Hà Nội có trường Cao đẳng Xây dựng số 1. Tại T.P. HCM có trường số 2. Tại
Tuy Hoà có trường CĐXD số 3. Trong thời gian tới một số trường THXD được
nâng cấp lên CĐ.
Hệ trung học xây dựng thuộc Bộ XD hiện có 4 trường là các trường THXD số 2
tại Nam Định, trường THXD Miền Tây tại Vĩnh Long, trường THXD Công trình
Đô thị tại Hà Nội và THXD số 4 tại Xuân Hoà Vĩnh Phúc. Ngoài ra, còn một số
Nẵng đào tạo các ngành xây dựng đến 500 sinh viên hàng năm, Đại học Duy Tân
tuyển sinh xây dựng đến 400 sinh viên hàng năm. Tại thành phố Hồ Chí Minh có
hai cơ sở đào tạo đại học là trường Đại học Bách khoa hàng năm tuyển sinh ngành
xây dựng đến 600 sinh viên, Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh hàng năm
tuyển sinh 700 sinh viên. Ngoài ra có các trường đại học dân lập có ngành xây
dựng và kiến trúc như Đại học Văn Lang tuyển sinh hàng năm cho ngành xây
dựng tới 500 sinh viên. Ba trường có đào tạo sau đại học về kiến trúc, xây dựng,
hàng năm tuyển sinh khoảng 500 người phân chia theo cấp cao học khoảng 450
người và nghiên cứu sinh gần 50 chỉ tiêu.
Khối trường cao đẳng tuyển sinh hàng năm trên 3000 người. Trường Cao đẳng
XD số 1 tuyển sinh hàng năm đến 400 sinh viên. Trường Cao đẳng Xây dựng số 3
tại Tuy Hoà, hàng năm có khả năng tuyển sinh 400 sinh viên.Trường Cao đẳng số
2 tại Thủ Đức hàng năm tuyển sinh khoảng 400 sinh viên. Nhiều trường Cao đẳng
kỹ thuật dân lập khác có ngành xây dựng tuyển sinh hàng năm đến 2000 người.
Hiện nay các trường có đào tạo trung học chuyên nghiệp thuộc Bộ Xây dựng gồm
7 trường hàng năm tuyển sinh khoảng 3000 học sinh.
Các trường có đào tạo nghề xây dựng thuộc ngành xây dựng gồm 30 trường, hàng
năm tuyển sinh khoảng 12.000 công nhân kỹ thuật.
Công tác xã hội hoá đào tạo nguồn nhân lực đã đem lại kết quả bước đầu. Các lực
lượng xã hội tham gia ngày càng tích cực vào việc xây dựng cơ sở vật chất trường
học, đóng góp kinh phí cho đào tạo dưới nhiều hình thức khác nhau và huy động
mọi người dân tham gia đào tạo .
Số lượng người được đào tạo nghề nghiệp có tăng , nhưng chưa đáp ứng nhu cầu
phát triển của ngành và không cân đối giữa các trình độ đào tạo: Đào tạo cao
đẳng, đại học tăng quá nhanh trong khi dạy nghề (khối chính quy) và trung học
tăng chậm hơn làm cho cơ câú nguồn nhân lực theo trình độ càng thêm bất hợp lý.
8
Qui mô đào tạo theo các cấp chưa đáp ứng nhu cầu học tập của thanh niên và nhu
cầu lao động có chuyên môn kỹ thuật cho phát triển đất nước trong bối cảnh
chung. Tình hình chung trong cả nước cũng như trong ngành xây dựng, tỷ lệ học
cung cấp được cán bộ, như các ngành về vật liệu mới, về môi trường, về ngành
ứng dụng tin học, ngành xây dựng công trình ngầm, ngành xây dựng các công
trình đặc biệt, ngành quản lý dự án. . .
Về trung học có các ngành kỹ thuật xây dựng (sau năm 1970 tách thành các lớp
trung học kỹ thuật thi công, trung học kỹ thuật thiết kế), vật liệu xây dựng, cơ khí,
điện xây dựng. Một số ngành nghề được đào tạo do nhu cầu thực tế nhưng vướng
9
vào khung chung và không có giáo viên chuyên môn nên đào tạo không đáp ứng
được yêu cầu của sản xuất.
Về đào tạo công nhân, không chú trọng và phân cấp công nhân mà các trường
nghề chỉ cung cấp công nhân gọi là thợ mà xếp hạng thì làm được các việc qui
định cho thợ bậc ba ( trước đây ) là tối đa . Việc nâng bậc, nâng cấp do doanh
nghiệp công nhận qua thời gian công tác và các qui định về yêu cầu công tác hoàn
thành của bậc lương chứ không toàn diện theo cấp bậc thợ.
Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức và đào tạo lại chưa có qui định thành hệ
thống mang tính bắt buộc. Do chưa có tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ chuyên
môn, nghiệp vụ ở các đơn vị sản xuất.
Hiện nay có sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tỷ lệ người đuợc đào tạo ở các cấp
học. Phần lớn học sinh đều muốn theo học ở cấp đại học, cao đẳng mà không học
các cấp thấp hơn. Chỉ khi đã thi trượt nhiều năm ở bậc đại học mới vào trung học
hay trường dạy nghề.
Sự mất cân đối đó đòi hỏi cần phải có chính sách thoả đáng để khuyến khích lao
động trực tiếp. Điều này góp phần nhanh chóng điều chỉnh cơ cấu đào tạo hợp lý
hơn.
1.4 Đội ngũ giáo viên
Chất lượng đào tạo phụ thuộc nhiều vào chất lượng thày giáo.
Tình hình chung của các trường đại học và cao đẳng trong cả nước thì tỷ lệ số
sinh viên trên số giảng viên đã từ 4,88 sinh viên/thày (1990) lên 30,1/1 thày
(1998) cao gấp 3 lần định mức cho phép. Trong đó 50-60% số giáo viên đã ở tuổi
50-60 cần dần dần được thay thế nhưng hầu hết các trường không có đội ngũ kế
hậu, nặng về truyền đạt kiến thức lý thuyết mà không chú ý đến việc rèn luyện
cho học sinh phương pháp học tập, cách suy nghĩ và phương pháp ứng xử trong
cuộc sống, trong lao động. Việc học của sinh viên phần lớn là thụ động. Chúng ta
chưa có đủ cơ sở vật chất, hệ thống sách tham khảo, sách giáo khoa đáp ứng cũng
như hệ thống phòng thí nghiệm tương ứng nên tình trạng học chay là phổ biến.
Số giờ trên lớp của sinh viên là nhiều, có nơi lên tới trên 30 tiết/ tuần nên sinh
viên ít thời giờ triển khai bài học tại nhà. Nhiều sinh viên phải đi làm thêm để
kiếm sống trong giờ không phải lên lớp.
Nói chung, nội dung chương trình và mô hình đào tạo các cấp còn lạc hậu, chậm
được cập nhật những kiến thức mới và còn tách rời thực tế nên chất lượng đào tạo
thấp, không đáp ứng nhu cầu thị trường sức lao động và có xu hướng chất lượng
đào tạo tỉ lệ nghịch với tăng qui mô đào tạo Việc quản lý đào tạo chưa linh hoạt
theo từng chuyên ngành mà còn cứng nhắc. Khâu đào tạo từ xa và từ các địa điểm
xa trường sở có nhiều khó khăn, thiếu xót làm giảm sút kết quả học tập.
1.6. Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo
Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và kinh phí đào tạo nguồn nhân lực cho ngành
xây dựng tuy có được đầu tư và tăng đáng kể, nhưng nhìn chung vẫn còn lạc hậu,
chậm được cải thiện. Sự đầu tư cho cơ sở vật chất của các trường chưa tương
xứng với tăng quy mô học sinh, sinh viên, đặc biệt là ký túc xá, phòng thí nghiệm,
công cụ học tập, sân bãi thực hành và sách giáo khoa, tài liệu tham khảo và các
điều kiện khác cho học sinh, sinh viên học tập còn thiếu nghiêm trọng.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề còn thiếu thốn, lạc hậu, thiếu đồng bộ,
trong khi chương trình mục tiêu đầu tư cho trang thiết bị dạy nghề còn hạn hẹp,
11
chưa đáp ứng được với nhu cầu của các trường. Bộ Xây dựng có đầu tư cho các
trường trong Bộ nhưng lực bất tòng tâm, chưa tạo được một tổng thể phát triển
mạnh mẽ.
Nguồn ngân sách đầu tư cho đào tạo nghề còn thấp, từ 8% của tổng chi phí cho
đào tạo một năm vào năm 1987 xuống còn 3,7%/năm vào năm 1998. Chưa có
khoản mục ngân sách giành riêng cho dạy nghề.
2010 là 150 tỷ USD, trong đó đến năm 2005 là 60 tỷ USD. Chỉ số đô thị hoá
khoảng 45 % năm 2010 thúc đẩy thị trường xây dựng phát triển mạnh với tỷ lệ
tăng trưởng ước tính khoảng trên 20%.
Riêng các lĩnh vực thuộc Bộ Xây dựng quản lý, đến năm 2010, tốc độ phát triển
về xây lắp dự kiến tăng 9-10%, về vật liệu xây dựng tăng trên 20%/năm, về cơ khí
xây dựng, đến năm 2005 chế tạo 50-60% phụ tùng vật liệu xây dựng, 40-45% với
13
khối lượng giá trị 15% thiết bị công nghiệp xi măng, 50-55 % thiết bị ngành gốm
sứ.
Thị trường xây dựng trong nước có sự tham gia đầy đủ theo hướng cạnh tranh của
ba khu vực kinh tế nhà nước, nước ngoài và tư nhân.
Nhà ở là thị trường lớn về khối lượng và đa dạng về loại hình xây dựng. Bình
quân diện tích sàn nhà ở trên đầu người hiện nay ở các đô thị Việt Nam còn rất
thấp khoảng 3-5m2/người. Chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2010 là 100% số hộ có nhà
ở với mức bình quân là khoảng 12m2/người tương đương khoảng 6-7 triệu m2 nhà
ở mới và hàng triệu m2 nhà cải tạo với tổng số vốn ước tính khoảng 120.000 tỷ
đồng.
Nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật và công nghiệp ở nước ta là rất lớn. Đây
là những công trình quan trọng, quyết định sự phát triển kinh tế-xã hội của đất
nước, có quy mô lớn, đòi hỏi kĩ thuật và công nghệ thi công hiện đại, sử dụng
nhiều vốn, vật tư và nhân lực có trình độ và chất lượng chuyên môn cao.
Nhu cầu phát triển lĩnh vực tư vấn, thiết kế là cấp bách. Đến năm 2005, tư vấn Việt
Nam phải đảm nhận khoảng 50% giá trị tư vấn của các dự án nước ngoài. Hiện tại
mới đạt tỷ lệ khoảng 12-25%, do đó cần tăng nhanh số cán bộ đầu đàn có trình độ
khu vực và quốc tế, đủ sức cạnh tranh trong thị trường tư vấn.
Tóm lại, nhu cầu thị trường xây dựng ở nước ta trong những năm tới là rất lớn và
phát triển theo hướng nâng cao dần chất lượng sản phẩm, kéo theo sự phát triển
tương ứng của thị trường tư vấn, thiết kế, thị trường vật liệu, thị trường công nghệ
và khoa học xây dựng.
2.1.3 Xu hướng hội nhập quốc tế, xuất khẩu lao động và cạnh tranh trong thị
bao gồm 4 lĩnh vực cơ bản là: xây dựng cơ sở hạ tầng kĩ thuật, xây dựng công
nghiệp, xây dựng công trình dịch vụ công cộng và xây dựng nhà ở.
Nguồn nhân lực tập trung tại khu vực đô thị và kinh tế trọng điểm là nguồn nhân
lực được đào tạo chủ yếu theo hướng có đủ năng lực tiếp cận, lựa chọn áp dụng và
tiến tới sáng tạo các công nghệ xây dựng tiên tiến.
Nguồn nhân lực tại khu vực nông nghiệp, nông thôn là nguồn nhân lực được đào
tạo có đủ năng lực chủ yếu để cải tiến, phát triển các công nghệ xây dựng truyền
thống và áp dụng các công nghệ xây dựng mới.
2.1.5 Xu hướng đa dạng hoá ngành nghề và xuất hiện ngành nghề mới
Nhu cầu thị trường xây dựng tăng nhanh, đòi hỏi sự đa dạng về loại hình ngành
nghề. Xuất hiện nhiều ngành nghề mới trong các lĩnh vực của ngành xây dựng, là
những ngành đòi hỏi áp dụng kĩ thuật và công nghệ xây dựng cao như tin học xây
dựng, công nghệ thi công chính xác, công trình đặc biệt, tự động hoá trong một số
công tác khảo sát, thiết kế, cơ khí , sản xuất vật liệu mới và thi công xây lắp,
2.2 Quan điểm chỉ đạo xây dựng chiến lược
2.2.1 Hiện đại hoá đào tạo.
Hiện đại hoá đào tạo nguồn nhân lực nói chung và ngành xây dựng nói riêng là
triển khai quốc sách của Đảng và Nhà nước ưu tiên đầu tư trước một bước ngành
giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ, nhằm thực hiện chiến lược đi
tắt, đón đầu để khắc phục nguy cơ tụt hậu so với các nền kinh tế tiên tiến ở khu
vực và quốc tế.
Hiện đại hoá đào tạo nguồn nhân lực ngành xây dựng phải gắn với định hướng
phát triển các lĩnh vực của ngành xây dựng và các ngành liên quan, gắn với thực tế
15
sử dụng và nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế, nhằm đáp ứng kịp thời
những đòi hỏi thực tế sản xuất, kinh doanh của ngành trong giai đoạn trước mắt và
tương lai. Đó là các lĩnh vực đào tạo: quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn,
kiến trúc, kĩ thuật hạ tầng và môi trường, tư vấn thiết kế, thi công xây lắp, cơ khí
xây dựng, sản xuất vật liệu, công nghệ thông tin trong xây dựng. Phấn đấu từng
bước hiện đại hoá hệ thống đào tạo các lĩnh vực của ngành ở mọi cấp và hình thức
dụng thực tế của thị trường và phân bố nguồn nhân lực theo địa dư.
Thực hiện xã hội hoá đào tạo ở mọi cấp, mọi hình thức đào tạo, đặc biệt là đào tạo
công nhân kĩ thuật và công nhân bậc cao, nhằm tăng nhanh số lượng, nâng cao
chất lượng lao động được đào tạo; đồng thời hạn chế tình trạng mất cân đối trong
phân bổ nguồn nhân lực xây dựng hiện nay.
16
2.3 Mục tiêu của chiến lược đào tạo nguồn nhân lực ngành xây dựng đến năm
2010
2.3.1 Mục tiêu chung của chiến lược
Phát triển đội ngũ lao động thuộc các lĩnh vực của ngành xây dựng một cách đồng
bộ, đủ trình độ và hợp lý về cơ cấu ngành nghề, có khả năng tiếp cận và làm chủ
kỹ thuật, công nghệ và khoa học xây dựng hiện đại, tiên tiến, đáp ứng yêu cầu
ngày càng tăng của ngành xây dựng trong nước và tham gia cạnh tranh có hiệu
quả trong thị trường xây dựng khu vực và quốc tế; góp phần hoàn thành thắng lợi
sự nghiệp CNH và HĐH Đất nước.
2.3.2 Mục tiêu cụ thể của chiến lược
2.3.2.1 Mở rộng quy mô và cơ cấu hợp lý đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực ngành
xây dựng dân dụng và công nghiệp.
Cung cấp đủ số lượng và đồng bộ nguồn nhân lực hoạt động trong các lĩnh vực
của ngành, bao gồm: quy hoạch đô thị và nông thôn, kiến trúc, kĩ thuật hạ tầng và
môi trường, tư vấn, thiết kế, thi công xây lắp, cơ khí xây dựng, sản xuất vật liệu,
Điều chỉnh hợp lý và cân đối cơ cấu ngành nghề đào tạo theo hướng tăng tỷ lệ đào
tạo những ngành mới, hiện đại, mũi nhọn, nhằm phát huy hiệu quả hoạt động sản
xuất, kinh doanh của ngành, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường xây
dựng trong nước và quốc tế.
2.3.2.2 Nâng cao chất lượng đào tạo.
Chú trọng chất lượng đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ ở các cấp và các hình
thức đào tạo, đáp ứng nhu cầu liên thông trong đào tạo. Đảm bảo nhân lực được
đào tạo tại một số cơ sở trọng điểm của ngành đến năm 2010 đạt trình độ tương
đương của khu vực và đến năm 2020 đạt trình độ tiên tiến của khu vực trên một số
trường trung học chuyên nghiệp thành trường cao đẳng, có cơ sở vật chất và trang
thiết bị tương xứng với cơ sở đào tạo bậc đại học. Các trường cao đẳng đào tạo
chủ yếu là kĩ thuật viên cao đẳng, đồng thời đào tạo cả kĩ thuật viên trung học và
công nhân bậc cao cho những ngành nghề phù hợp. Mở thêm một số khoa ngành
mới tại các trường đại học thuộc Bộ Xây dựng hiện có, tạo sự cân đối hợp lí hơn
giữa số lượng kĩ sư xây dựng dân dụng công nghiệp và kiến trúc sư với các
chuyên ngành khác như đô thị, môi trường. Đề nghị nhà nước chuyển trường Đại
học kiến trúc thành phố HCM về Bộ Xây dựng quản lí. Đầu tư cho các trường đại
học kiến trúc của Bộ trở thành trung tâm đào tạo, NCKH chất lượng cao, gắn kết
được các hoạt động đào tạo nghiên cứu của trường với các viện nghiên cứu, với
sản xuất.
2.4.2 Phát triển quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo.
Phấn đấu đến 2010, 70-75% số lao động trong ngành xây dựng phải được đào tạo.
Năng lực của tất cả các trường đào tạo công nhân hiện có của ngành xây dựng chỉ
đáp ứng được trên 30% nhu cầu nhân lực cần gia tăng. Phải cấp bách mở rộng quy
mô đào tạo nghề xây dựng theo các hướng: thành lập các trường mới (tại các tổng
công ti lớn, các tỉnh), mở rộng quy mô đào tạo tại các trường hiện có, đa dạng hoá
các hình thức đào tạo nghề như đào tạo ngắn ngày, đào tạo tại chỗ, xã hội hoá việc
đào tạo nghề xây dựng. Có kế hoạch để các doanh nghiệp tự đầu tư và tham gia
trực tiếp vào quá trình đào tạo theo hướng xã hội hoá sự nghiệp đào tạo.Trong thời
gian khoảng 5 năm, tăng được gấp 3 lần năng lực đào tạo nghề của ngành xây
dựng dân dụng-công nghiệp. Nhà nước cần có chính sách ưu tiên cho các trường
nghề như tăng kinh phí, tăng lượng học sinh được học bổng, tạo điều kiện chỗ ăn
ở văn minh cho học sinh trong thời gian đào tạo.
18
Đào tạo đại học và sau đại học giữ nguyên tốc độ phát triển hiện tại 5-7% /năm, đi
nhanh vào việc nâng cao chất lượng và mở thêm ngành mới.
Chất lượng đào tạo nghề phải được cấp bách cải thiện và nâng cao, được thị
trường trong nước chấp nhận và tiến tới đạt mặt bằng khu vực. Có chuẩn đánh giá
chất lượng cơ sở đào tạo để phân loại các trường dạy nghề, có cơ chế và tổ chức
trình phức tạp tầm cỡ quốc tế.
Đào tạo cán bộ và công nhân phục vụ xuất khẩu lao động, được trang bị kĩ năng
công tác, ngoại ngữ và pháp luật phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động
quốc tế, đặc biệt nâng cao trình độ lành nghề của người lao động.
Đối với các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, ưu tiên đào tạo cán bộ quản lí dự án,
kĩ sư bậc cao, kĩ sư trưởng theo các loại hình thích hợp.
19
2.4.4 Loại hình đào tạo
Mở rộng và phát triển nhiều hình thức đào tạo khác nhau cho các cấp học. Bên
cạnh hình thức đào tạo chính quy ghi rõ cấp đào tạo, còn có nhiều hình thức không
chính quy như tại chức các cấp, tu nghiệp, bồi dưỡng nâng cao trình độ, đào tạo
ngắn hạn, cấp chứng chỉ phục vụ ngay nhu cầu công việc .
Từng bước thực hiện việc xã hội hoá đào tạo nghề. Khuyến khích hỗ trợ việc mở
những trường dạy nghề của các tổ chức xã hội, của tư nhân, lớp dạy nghề trong
các công ty TNHH. Liên danh liên kết giữa các cơ sở đào tạo thuộc nhiều thành
phần kinh tế. Ngoài ra khuyến khích việc dạy nghề hướng nghiệp dưới mọi hình
thức, loại hình : các lớp ngắn hạn, lớp nâng cao tay nghề, lớp đào tạo không tập
trung, các trung tâm dạy nghề cho trẻ em, cho người lớn.
Cần nghiên cứu sớm để Nhà nước có thể ban hành một chính sách quan trọng là
buộc các cơ sở sử dụng lao động phải đóng góp kinh phí đào tạo.
Tranh thủ việc hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực. Xúc tiến một số dự
án của nước ngoài về đào tạo, về trợ giúp một số trường trọng điểm. Có kế hoạch
liên kết đào tạo giữa trường trong nước và trường nước ngoài. Tăng cường đưa đi
đào tạo đại học và sau đại học ở nước ngoài với số lượng thoả đáng.
Rất chú ý loại hình đào tạo lại ở mọi cấp từ công nhân kĩ thuật đến đại học, nhằm
bổ túc cập nhật kiến thức, tiếp cận công nghệ mới, nhằm đạt tiêu chuẩn chức danh
qui định.
2.4.5 Nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên
Hết sức coi trọng việc đào tạo giáo viên, nâng cao số lượng và trình độ của giáo
viên. Đội ngũ giảng viên đại học phải được nâng lên về số lượng đạt mức 10-15
hướng gắn với sản xuất hơn nữa, và theo hướng đảm bảo liên thông giữa các cấp
học. Các bài giảng phải được hỗ trợ bằng ma ket, các phương tiện truyền thông
hiện đại, công cụ đa phương tiện multimedia. Phấn đấu để sau giai đoạn này,
chứng chỉ đào tạo tay nghề được quốc tế công nhận.
Các trường đại học và cao đẳng được đầu tư từng bước để củng cố, đổi mới và
hiện đại hoá cơ sở hạ tầng. Phấn đấu hoàn thành các phòng thí nghiệm cơ bản và
kĩ thuật cơ sở và một số phòng thí nghiệm chuyên ngành mũi nhọn phục vụ đào
tạo và nghiên cứu khoa học có trang thiết bị tương đối hiện đại. Xây dựng thư viện
trường học hoàn chỉnh, đặc biệt hệ thống thư viện điện tử kết nối các trường đại
học rồi đến các trường cao đẳng trong ngành.
Phương pháp đào tạo đại học, sau đại học và chương trình học, nội dung môn học,
sách giáo khoa được đổi mới cơ bản theo hướng giảm bớt khối lượng, phát huy
tính chủ động, tự nghiên cứu của người học. Đẩy mạnh việc sử dụng công nghệ
thông tin để đổi mới phương pháp dạy và học, chương trình và nội dung môn học,
quản lí công tác đào tạo. Đầu tư để sử dụng và biên soạn các phần mềm giảng dạy,
đặc biệt trong lĩnh vực kiến trúc, sử dụng các công cụ đa phương tiện.
Mọi chương trình cấp học từ công nhân đến đại học đều được thiết kế mang tính
liên thông theo quy định chung của ngành giáo dục, để cho người học xong cấp
này có thể học tiếp lên cấp trên với thời gian ít hơn so với thời gian chung của cấp
học đối với người chưa qua đào tạo. Cũng cần thiết kế chương trình các ngành học
để thực hiện liên thông giữa các nhóm ngành.
2.4.7 Các mô hình đào tạo nguồn nhân lực ngành xây dựng dân dụng và
công nghiệp
2.4.7.1 Mô hình đào tạo công nhân.
Công nhân được đào tạo theo 4 bậc
- Công nhân : đào tạo một chuyên môn hẹp, thời gian 3 đến 6 tháng, cấp chứng
chỉ nghề.
- Công nhân kĩ thuật : đào tạo nghề theo chương trình chính quy, từ 12 đến 24
tháng, cấp bằng CNKT chính quy.
21
với số lượng thoả đáng.
2.4.7.5 Mô hình đào tạo sau đại học
Đào tạo Thạc sĩ kĩ thuật các ngành về xây dựng và đô thị, Thạc sĩ các ngành kiến
trúc và quy hoạch theo 2 dạng : dạng nghiên cứu dành cho cán bộ nghiên cứu và
dạng thực hành dành cho cán bộ quản lí và sản xuất. Đào tạo Tiến sĩ theo các
ngành tương ứng, chủ yếu cho các trường và viện nghiên cứu .
2.4.7.6 Việc đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao
Việc đào tạo lại được thực hiện ở mọi cấp từ công nhân kĩ thuật đến đại học. Các
trường đào tạo có kế hoạch thu nhận các học viên đã ra trường quay lại bổ túc, cập
22
nhật kiến thức, học hỏi kĩ thuật mới. Thời gian đào tạo lại từ 4 đến 6 tháng, theo
chu kì 5 năm và theo hình thức bán phần thời gian. Các doanh nghiệp có trách
nhiệm cử nhân viên của mình đi đào tạo lại và đóng góp kinh phí. Phấn đấu để số
người được đào tạo lại chiếm 1/3 số học viên đã ra trường.
Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật kiến thức, tiếp cận công nghệ
mới cho những cán bộ kĩ thuật và quản lí tại các doanh nghiệp thi công xây lắp và
sản xuất vật liệu xây dựng. Đào tạo theo hướng nâng bậc kĩ sư và kiến trúc sư, đào
tạo theo chứng chỉ để đạt tiêu chuẩn chức danh. Mỗi cán bộ đều phải qua các lớp
đào tạo lại theo quy định trước khi được nâng bậc. Thực hiện việc đào tạo kĩ sư
bậc cao, kĩ sư trưởng cho các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất.
Đào tạo thường xuyên cán bộ-công chức quản lí nhà nước các cấp của ngành xây
dựng với đối tượng là những cán bộ công chức thuộc sự quản lí của ngành đang
làm việc, theo hình thức đào tạo lại, nâng cao cập nhật kiến thức chuyên môn và
nghiệp vụ cũng như nâng cao trình độ lí luận chính trị để đạt được theo tiêu chuẩn
chức danh đã định.
Các trường đại học kết hợp với các viện nghiên cứu và các tổng công ty lớn và
chuyên gia nước ngoài, có chương trình riêng để đào tạo các kĩ sư và kiến trúc sư
làm công tác tư vấn cho các dự án sử dụng công nghệ mới, công trình phức tạp.
Thành lập một trung tâm chuyên công tác đặc thù là đào tạo và bồi dưỡng những
nhà doanh nghiệp theo hình thức chủ yếu là ngắn hạn và tại chức, nhằm trang bị
cận (Thái Lan, Trung Quốc, ).
Đào tạo đội ngũ chuyên gia giỏi, đồng bộ, đảm bảo được các khâu từ lập dự án,
khảo sát, thiết kế được các công trình có độ phức tạp, có yêu cầu đặc biệt, đảm bảo
thực hiện việc quản lí giám sát kiểm định chất lượng kĩ thuật đạt trình độ khu vực
và quốc tế.
Xây dựng một đội ngũ chuyên gia hàng đầu về nghiên cứu, giảng dạy trong mọi
lĩnh vực xây dựng và các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn như môi trường, tin học,
vật liệu mới, kiến trúc nhiệt đới để giải quyết các vấn đề đặt ra trong thực tiễn xây
dựng trong nước và tại các nước được xuất khẩu chuyên gia.
2.6 Các hướng ưu tiên
Trên cơ sở đánh giá hiện trạng, dự báo tình hình ngành xây dựng trong 10 năm và
20 năm tới, nội dung chiến lược phát triển nguồn nhân lực, sẽ chọn ra một số
hướng ưu tiên cần đạt được sớm trong giai đoạn đầu và cần được tập trung nỗ lực
giải quyết cho được. Đó là :
2.6.1 Xây dựng đội ngũ giáo viên tại các cấp học
Đội ngũ giáo viên là máy cái quyết định chất lượng đào tạo nên cần thiêt trước hết
là phải có kế hoạch và biện pháp tăng số lượng và chất lượng giáo viên, khuyến
khích người có tay nghề cao về trường giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi để
người thày được nâng cao trình độ chuyên môn, sư phạm, gắn với thực tế sản xuất,
tiếp thu được lí thuyết và công nghệ mới. Tập hợp và đào tạo được đội ngũ các
thày đầu đàn làm nòng cốt xây dựng bộ môn thành hạt nhân của cơ sở đào tạo.
2.6.2 Xây dựng cơ sở vật chất và phát triển đào tạo nghề.
Việc cấp bách nhất là phải thay đổi được một cách cơ bản tình hình đào tạo nghề
thuộc ngành xây dựng trong cả nước, tạo được bộ mặt mới cho sự nghiệp đào tạo
nghề. Gấp rút mở thêm một số trường, gấp rút đầu tư chiều sâu cho cơ cở vật chất
và trang thiết bị một số trường đã có. Ap dụng việc phân cấp học và cơ cấu ngành
nghề thích hợp. Chấm dứt việc công nhận bậc thợ không trải qua đào tạo. Nâng
cao rõ rệt trình độ, tay nghề của thợ đào tạo ra, lấy lại sự tín nhiệm của thị trường
trong nước, tiến tới vươn ra nước ngoài.
24