Đề án môn học GVHD: Th.s Nguyễn Ái
Liên
Giải thích các từ viết tắt trong bài
ĐTNN: Đầu tư nước ngoài.
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước.
KCN, KCX: Khu công ngiệp, Khu chế xuất.
CNH-HĐH: Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá.
Đề án môn học GVHD: Th.s Nguyễn Ái
Liên
LỜI MỞ ĐẦU
Đối với tất cả các nước trên thế giới đang tiến hành CNH-HĐH, huy
động vốn luôn là một trong những vấn đề cốt yếu có vai trò cực kì quan trọng.
Huy động vốn cho đầu tư là lời giải cho bài toán tăng trưởng. Trong bất kì mô
thức tăng trưởng nào vốn đầu tư vẫn là một trong những đầu vào then chốt bên
cạnh lao động, đất đai và công nghệ. Việt Nam cũng là một trong các nước đó.
Mặc dù tăng trưởng vẫn xuất phát từ nội lực nhưng các nguồn tài chính
nước ngoài cũng đóng góp không nhỏ cho tăng trưởng ở các nước đang phát
triển trong thời kì đầu cất cánh. Nhận thức rõ điều đó, Đảng ta trong quá trình
CNH-HĐH luôn có chủ trương: Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ
nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh
có hiệu quả và bền vững. Để tăng trưởng nhanh và bền vững sớm đưa đất nước
ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển đòi hỏi tổng vốn đầu tư của toàn xã hội
trong thời kì kế hoạch 5 năm (2006-2010) phải đạt được trên 2.200.000 tỷ
đồng ( tương đương 139,4 tỉ đô la theo giá hiện hành ) bằng khoảng 40% GDP.
Đó là nhiệm vụ hết sức nặng nề, khó khăn, phức tạp. Muốn thực hiện thành
công nhiệm vụ trên đòi hỏi phải có những giải pháp thu hút vốn cả trong và
ngoài nước. Các nhà đầu tư trên thế giới cũng như trong nước đều đứng trước
việc quyết định là nên đầu tư ở đâu cho đồng vốn của họ sinh lời, cho dù đó là
vốn ODA hay là FDI hay là các nguồn vốn nước ngoài màng tính thương mại
khác. Kinh nghiệm thu hút các nguồn tài chính nước ngoài chỉ ra rằng: Quyết
định của các nhà đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào môi trường đầu tư tại các quốc
em được hoàn thiện hơn.
Đề án môn học GVHD: Th.s Nguyễn Ái
Liên
Đề án môn học GVHD: Th.s Nguyễn Ái
Liên
NỘI DUNG
PHẦN I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ
I. Khái niệm về môi trường đầu tư .
Đầu tư là hoạt bỏ vốn ngày hôm nay để thu lại lợi Ých trong tương lai .
Trong quá trình đó môi trường đầu tư đóng vai trò như một chất xúc ban đầu
cho việc lựa chọn quyết định bỏ vốn của nhà đầu tư, vì vậy môi trường đầu tư
có vị trí vô cùng quan trọng trong việc thu hút vốn. Vậy chúng ta cần hiểu môi
trường đầu tư là gì ?
Theo nghĩa chung nhất môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố bên
ngoài liên quan đến hoạt động đầu tư.
Theo World Bank 2004, môi trường đầu tư là tập hợp những yếu tố đặc
thù địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực để doanh nghiệp
đầu tư có hiệu quả tạo, tạo việc làm và mở rộng sản xuất. Tập hợp những yếu
tố đặc thù này bao gồm 2 thành phần chính sách của Chính phủ và các yếu tố
khác liên quan đến quy mô thị trường và ưu thế địa lý. Hai thành phần này tác
động đến ba khía cạnh liên quan đến nhà đầu tư :
- Chi phí cơ hội (Opportunity Costs) của vốn đầu tư .
- Mức độ rủi ro ( Investment Risks) trong đầu tư.
- Những rào cản về cạnh tranh ( Barriers to Competion) trong quá trình đầu
tư
Dựa vào việc cân nhắc ba khía cạnh này nhà đầu tư sẽ xác định những
cơ hội và những động lực đầu tư đến một quốc gia hay một địa phương nào đó.
II. Phân loại môi trường đầu tư.
1. Bảng các yếu tố trong môi trường đầu tư :
Luật pháp
bằng của chính phủ địa phương
Cơ sở hạ tầng và lao động
• Tiếp cận cơ sở hạ tầng nh điện,
nước, ga, thiết bị truyền thông, và
các dịch vụ cơ bản khác
• Tiếp cận chi phí lao động
Các yếu tố khác
• An ninh, chính trị, kinh tế
• Hậu cần, khoảng cách
• Thị trường, khả năng sinh lợi
• Sức hấp dẫn vốn các nhà đầu tư,
chất lượng cuộc sống
Vị trí
• Khoảng cách đến cảng, sân bay,
khu vực thành thị từ vị trí hiện tại
Đặc điểm địa lí
• Điều kiện đất đai và cao nguyên,
sử dụng đất
2. Phân loại môi trường đầu tư .
Có nhiều cách phân loại môi trường đầu tư, song theo nhiều nhà kinh tế,
môi trường đầu tư có thể chia ra môi trường cứng và môi trường mềm.
+ Môi trường cứng liên quan tới các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng kĩ thuật
phục vụ cho sự phát triển kinh tế, gồm: Hệ thống cở sở hạ tầng giao
thông( đường sá, cầu, cảng hàng không, cảng biển…), hệ thống thông tin liên
lạc, năng lượng…
Đề án môn học GVHD: Th.s Nguyễn Ái
Liên
+ Môi trường mềm bao gồm: Hệ thống các dịch vụ hành chính, dịch vụ
pháp lí có liên quan đến hoạt động đầu tư( đặc biệt các vấn liên quan đến chế
độ đối xử và giải quyết các tranh chấp, khiếu nại); hệ thống các dịch vụ tài
thì phải tạo ra một kịch bản thắng cuộc từ nhiều phái khác nhau(Win -Win
Scenario).
Vai trò của một môi trường đầu tư : sẽ thúc đẩy đầu tư tư nhân có hiệu
quả, động lực cho tăng trưởng và giảm nghèo. Nó tạo ra cơ hội và việc làm
cho người dân. Nó mở rộng việc cung cấp chủng loại hàng hoá, dịch vụ và
giảm giá thành của chúng, vì lợi Ých người tiêu dùng. Nó củng cố thêm nguồn
thu thuế bền vững để trang trải cho các mục tiêu xã hội khác. Và nhiều tính
chất của môi trường đầu tư tốt -bao gồm cơ sở hạ tầng hiệu quả, toà án và thị
trường tài chính - đã trực tiếp nâng cao đời sống con người, bất kể họ có làm
việc hay tham gia vào các hoạt động kinh doanh hay không?
IV. Bốn thách thức thực tế đối với việc cải thiện môi trường đầu tư .
Một môi trường đầu tư có thể tăng cường các cơ hội và động lực để tất
cả các loại hình doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng
hoạt động là vấn đề mấu chốt để giải phóng sức tăng trưởng và xóa đói giảm
nghèo. Nhưng nếu môi trường đầu tư lành mạnh và có lợi thế đến thế thì tại
sao vẫn có những phiên bản rất đa dạng về môi trường đầu tư giữa các nước và
trong cùng một nước.
Vai trò của Chính phủ trong việc định hình môi trường đầu tư từ lâu đã
lí giải bằng các dạng thất bại của thị trường hoặc bằng việc không tạo ra được
các điều kiện tự do kinh doanh để đạt được những kết cục xã hội hiệu quả. Đó
là những luận cứ kinh điển cho hầu hết sự can thiệp của Chính phủ vào nền
kinh tế - để cung cấp hàng hoá công cộng như luật pháp và tài trợ; hỗ trợ việc
cung cấp cơ sở hạ tầng và điều tiết các doanh nghiệp và các giao dịch nhằm
khắc phục vấn đề thông tin không đối xứng, ngoại ứng và quyền lực độc
quyền. Nhưng Chính phủ thường thất bại trong việc giảm thiểu các khuyết tật
của thị trường và thường xuyên can thiệp theo cách làm cho vấn đề càng thêm
xấu đi. Tại sao vậy?
Đề án môn học GVHD: Th.s Nguyễn Ái
Liên
Một thực tế đó là không tạo dựng được môi trường đầu tư lành mạnh
- Thách thức thứ hai là điều tra từ doanh nghiệp ở các nước đang phát
triển cho thấy sự không ổn định chính sách là một trong những mối quan ngại
lớn của họ về những trở ngại về môi trường đầu tư. Tất cả Chính phủ đều phải
đứng trước thử thách rằng, cam kết của ngày hôm nay sẽ đựơc tiến hành trong
tương lai.
- Thách thức thứ ba là lòng tin của doanh nghiệp có thể tác động đến
tính bền vững của cải cách.
- Cuối cùng là cần phải có những đối sách phù hợp với tình hình từng
nước và từng địa phương. Nếu không điều chỉnh chính sách cho phù hợp với
thực tế địa phương mà cứ sao chép máy móc từ nước này sang nước nọ, từ tỉnh
này sang tỉnh kia thì có thể dẫn đến những kết quả cải cách nghèo nàn.
Tại sao ta cần phải vượt qua bốn thách thức thức trên?
Kiểm soát hành vi trục lợi không những có tác dụng làm giảm tổng chi
phí cơ hội đầu tư và làm rủi ro trong đầu tư mà còn tác động tích cực đến việc
nâng cao tính cạnh tranh trong môi trường đầu tư. Những hành vi trục lợi có
thể bao gồm tham nhòng, thao túng trong giao dịch do nắm quyền sở hữu
công, trục lợi do mối quan hệ thân quen gia đình trong bộ máy. Tham nhũng
bản thân của nó là một hiện tượng của khu vực công và đơn giản chỉ là lợi
dụng quyền lực để mưu lợi cá nhân. Tham nhũng lại có quan hệ đồng biến với
vị trí của chức vụ, và chỉ những viên chức Chính phủ ở vị trí cao mới có thể
hoạch định chính sách. Hệ quả chính sách này sẽ đi ngược lại với lợi Ých của
các nàh đầu tư vì chúng có cơ hội bị bóp méo và từ đó làm xói mòn niềm tin
mọi nguời. Tham nhũng sẽ tạo ra hệ quả cuối cùng là phải đối diện với pháp
luật nhưng thao túng trong giao dịch thì lại khó phát hiện. Con đường của thao
túng phát sinh do chủ nghĩa quen biết và hoạt động theo kiểu gia đình. Thao
túng được tiếp cận qua những hành vi vận động hành lang (lobby). Những thao
túng sẽ tiếp cận được những nhà làm chính sách và có khả năng tiếp cân được
nhiều thông tin hơn đối với việc chiếm đoạt các nguồn lực trong xã hội. Cạnh
tranh giữa các nhà đầu tư vì thế mà trở lên không bình đẳng.
Đề án môn học GVHD: Th.s Nguyễn Ái
Brazin, Panarama,Peru cũng nâng cao tính minh bạch bằng các công bố các
Đề án môn học GVHD: Th.s Nguyễn Ái
Liên
hợp đồng của họ lên trang Web. Các nhà ĐTNN cũng như toàn xã hội sẽ đánh
giá tính minh bạch của Chính phủ thông qua cách thức quản lý ở các ngành
kinh tế khai thác tài nguyên như dầu khí và cơ sở hạ tầng như bưu chính viễn
thông, giao thông vận tải, điện nước và xăng dầu. Đây là những ngành kinh tế
nhạy cảm và có nhiều cơ hội tạo ra tính độc quyền trong khai thác, tạo ra
những rào cản cho một môi trường đầu tư cạnh tranh. Ngoài ra những kẽ hở
quản lý và chính sách từ phía Chính phủ đối với các ngành này sẽ tao điều
kiện cho việc tìm kiếm lợi Ých sai lệch (rent seeking), điều này cũng làm các
nhà đầu tư nản chí.
Xây dựng các thể chế công hiệu quả nhằm khắc phục các thất bại thị
trường cũng góp phần cải thiện môi trường đầu tư. Phân cấp trong thu hút đầu
tư và tăng cường năng lực điều hành của Chính phủ địa phương, xây dựng một
Chính phủ điện tử là ba cách tiếp cận để tạo ra các thể chế hiệu quả. Chính phủ
trung ương có thể thiết kế các chính sách tốt đẹp nhưng Chính phủ địa phương
sẽ lại là chủ thể thực hiện các chính sách này. Chính phủ địa phương lại gồm
nhiều thể chế khác nhauvà những khuyết điểm của từng thể chế có thể làm nản
lòng các nhà đầu tư. Năng lực của các thể chế địa phương bị giới hạn trong
quá trìnhtriển khai chính sách. Chính phủ trung ương có thể tạo ra những phân
cấp cho Chính phủ địa phươngtrong qua trình thu hút vốn đầu tư. Sự phân cấp
này tạo ra lợi Ých là Chính phủ địa phương dễ dàng tiếp cận nhanh chóng với
các nhà đầu tư. Nhưng cũng chính sự phân cấp này lại tạo ra mét chi phí lớn
đó là khả năng kiểm soát cân đối lợi Ých quốc gia sẽ bị yếu đi khi mà các địa
phương khuyến khích các nguồn đầu tư theo kiểu “ tâm lí bầy đàn”. Tăng
cường năng lực điều hành của Chính phủ địa phương sẽ góp phần nâng cao
chất lượng dịch vụ công cung cấp cho xã hội trong đó có nhà đầu tư nước
ngoài. Điều này càng trở lên quan trọng khi chóng ta bắt đầu chuyển hướng
thu hót FDI về giáo dục và nghiên cứu phát triển công nghệ thông tin. Nh vậy
khi so sánh với các nước khác, vì vậy tạo môi trường cạnh tranh thu hút vốn
đầu tư là một cuộc đua của toàn xã hội mang tính dài hạn.
V. Hệ thống các chỉ số môi trường đầu tư
(Theo điều tra của các hãng của Ngân hàng thế giới)
Đề án môn học GVHD: Th.s Nguyễn Ái
Liên
1. Ràng buộc về tính bất ổn định của chính sách: đo lường tỷ lệ phần
trăm các nhà quản lí cao cấp xếp hạng tính bất ổn định của các chính sách kinh
tế và điều tiết là một ràng buộc then chốt hoặc nghiêm trọng. Sự diễn giải các
quy tắc, luật lệ khó có thể dự đoán là phần trăm các nhà quản lý cao cấp
không đồng ý rằng, việc diễn giải các quy tắc, luật lệ của các quan chức nhà
nước là dự đoán được.
Ví dô:
Sự bất định
về
chính sách
Nước
Trở ngại chính
(%)
Cách giải thích các quy
định không thể lường trước
(%)
Brazin 75.9 66.0
Trung Quốc 32.9 33.7
Inđônêxia 48.2 56.0
LB Nga 31.3 42.5
2. Ràng buộc về tham nhòng đo lường phần trăm các nhà quản lý cao
cấp xếp hạng tham nhũng là ràng buộc chính hoặc hết sức nghiêm trọng. Các
khoản hối lộ phải trả là tỷ trọng các nhà quản lý cao cấp cho rằng, các cơ sở
kinh doanh như đơn vị của họ đôi khi cũng được yêu cầu phải được tăng quà
Toà án
Nước
Trở ngại chính
(%)
Không tin tưởng toà án sẽ
bảo vệ quyền về tài sản
(%)
Brazin 32.8 39.6
Trung Quốc 17.5
Inđônêxia 24.7 40.8
LB Nga 9.5 65.3
4. Ràng buộc về tội phạm: đo lường tỷ trọng các nhà quản lý cao cấp xếp
hạng " tội phạm , ăn trộm và mất trật tự " là ràng buộc then chốt là hết sức
nghiêm trọng. "Mức thiệt hại trung bình do tội phạm" là tỷ trọng thiệt hại
trong doanh thu của hãng có trình báo về tội phạm (trình báo về mất mát do tội
phạm là tỷ trọng nhà quản lý cao cấp có trình báo về một thiệt hại đối với một
doanh nghiệp do trộm cắp , các hành động phá hoại hoặc hoả hoạn trong năm
trước đó).
Ví dô:
Tội phạm
Nước
Trở ngại chính
(%)
Mức tổn thất trung
bình do tội phạm
(%)
Brazin 52.2 22.7
Trung Quốc 20.0 10.4
Inđônêxia 22.0 15.6
LB Nga 12.4 36.4
được coi
là trở ngại
chính
(%)
Thời gian
quản lý
phải dùng
để tiếp
quan chức
(%)
Số ngày
TB để
hoàn tất
thủ tục hải
quan(%)
Brazin 84.5 66.1 29.8 9.4 13.8
Trung Quốc 36.8 26.7 21.3 19.0 7.9
Inđônêsia 29.5 23.0 20.5 14.6 5.8
LB Nga 24.6 31.8 14.6 14.1 6.9
6. Ràng buộc về tài chính: là tỷ trọng trung bình các nhà quản lý cao cấp xếp
hạng " tiếp cận về tài chính" hoặc "chi phí của vốn" là một ràng buộc then chốt
hoặc rất nghiêm trọng. Các hãng nhỏ có khoản vay là tỷ trọng của các hãng có
Ýt hơn 20 lao động có một khoản vay qua mét trung gian tài chính chính thức.
Ví dô:
Tài chính
Nước
Trở ngại chính
(%)
Doanh nghiệp nhỏ được vay
vốn
"các quy định về lao động" là một ràng buộc then chốt hoặc rất nghiêm trọng.
Ví dô:
Lao động
Nước
Kĩ năng được coi là trở
ngại chính
(%)
Quy định về lao động được
coi là trở ngại chính
(%)
Brazin 39.6 56.9
Trung Quốc 30.7 20.7
Inđônêxia 18.9 25.9
LB Nga 9.9 3.3
PHẦN II : THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ Ở
VIỆT NAM
I. Thực trạng môi trường đầu tư ở các nước ASEAN.
Đề án môn học GVHD: Th.s Nguyễn Ái
Liên
1. Môi trường đầu tư cứng.
Như trên đã biết môi trường đầu tư cứng liên quan đến các yếu tố thuộc
về cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển kinh tế, bao gồm các yếu
tố như : sân bay, cảng biển, giao thông, điện lực, viễn thông.
Bảng biểu sau đây xếp hạng môi trường đầu tư cứng của các nước ASEAN:
Môi trường đầu tư "cứng" ở các nước ASEAN (1997)
Stt Tên nước Sân bay Cảng
biển
Giao
thông
Điện
Stt
Tên nước
Chất
lượng lao
động
Dịch vụ
công nghệ
Hệ
thống tài
chính
Bình
quân
1 Singapo 4.1 3.8 4.6 4.2
2
Malaysia
2.9 3 3 3
3
Brunei
2.8 2.6 3.3 2.9
4 Philipines 3.1 2.8 2.6 2.8
5 Thailan 2.7 2.6 2.5 2.6
6 Inđônêsia 2.5 2.2 2.6 2.4
7 Việt nam 2.7 1.9 1.6 2.1
8 Mianma 2.3 1.8 1.6 1.9
9 Lào 1.7 1.5 1.3 1.5
10 Campuchia 1.4 1.3 1.2 1.3
Ghi chú: xếp hạng theo thang điểm cao nhất là5.
Qua bảng ta thấy Singapo vẫn là nước có điểm bình quân cao nhất về
xếp hạng môi trường đầu tư mềm trong khối các nước ASEAN :4.2.
Campuchia là nước có điểm bình quân thấp nhất về xếp hạng môi trường đầu
nào lại bỏ đồng vốn của mình vào nước khi có tình hình chính trị luôn mất ổn
định cả. Vì khi đó rủi ro xảy ra là rất lớn. Ta có thể thấy các rủi ro chính trị mà
các doanh nghiệp phải đối đầu như: tịch thu tài sản, xung công, quốc hữu hoá
và nhập tịch tài sản. Ngoài ra, còn rất nhiều rủi ro chính trị khác như : rủi ro do
sự mất ổn định chung, rủi ro trong việc quản lý ,sở hữu tài sản, rủi ro trong
kinh doanh, rủi ro do chuyển tiền. Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều cơ hội
cho các doanh nghiệp kinh doanh trên phạm vi quốc tế, song còng mang lại
không Ýt rủi ro. Như ta đã trình bày thì rủi ro chính trị là một trong những rủi
ro đó. Rủi ro chính trị là nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát và khống chế của
doanh nghiệp và mang lại không Ýt khó khăn và trắc trở cho các doanh
nghiệp. Vì vậy để thành công trên thương trường quốc tế thì các doanh nghiệp
cần nghiên cứu kỹ yếu tố chính trị và dự đoán những rủi ro có thể xảy ra trước
khi thâm nhập vào một thị trường nước ngoài. Qua đó có thể khẳng định rằng
tình hình chính trị của nước tiếp nhận đầu tư là cơ sở quan trọng trong quyết
định đầu tư của các nhà đầu tư như thế nào. Việt Nam được coi là có lợi thế về
Đề án môn học GVHD: Th.s Nguyễn Ái
Liên
ổn định chính trị- xã hội. Điều này giúp các nhà đầu tư có tâm lý yên tâm khi
kinh doanh ở Việt Nam.
1.2. Môi trường kinh tế.
- Sau gần 20 năm đổi mới , Việt Nam từng bước hình thành thể chế kinh
tế thị trường, duy trì được môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và nhịp độ tăng
trưởng kinh tế cao.
Trong giai đoạn 1989-2003, GDP của Việt Nam tăng gần 2.67 lần, với
tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hằng năm 7.28%, cao hơn mức tăng
trưởng bình quân cùng kỳ của các nước trong khu vực là 3.7%. Ba năm gần
đây (2001-2003) tốc độ tăng trưởng GDP là 6.9%; 7.0%; 7.2%.
Năm 2004 tổng sản phẩm trong nước(GDP) đạt 361.4 tỷ đồng, tốc độ
tăng trưởng gần 7.7%. Việt Nam vẫn đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ
tăng trưởng cao trong khu vực (đứng thứ hai trong khu vực ĐNA, sau
(1991-2003), tỷ trọng GDP của các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng lên, còn
tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm đi đáng kể. Tỷ trọng ngành nông nghiệp đã
giảm từ 20.8% năm 2003 xuống còn 20.4% năm 2004. Trong nội bộ ngành
nông nghiệp, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng tích cực:
tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 76.6% năm 2003 xuống còn 75.5% năm
2004; tỷ trọng của ngành thuỷ sản tăng từ 16.4% năm 2003 lên 19.5% năm
2004. Tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng tiếp tục tăng trưởng 41.1%.
Đặc biệt, tỷ trọng ngành dịch vụ sau 3 năm giảm liên tục thì đến 2004 đã có xu
hướng phục hồi đạt trên 38.5% (năm 2003 là38.2%). Cơ cấu các ngành dịch vụ
bắt đầu có sự thay đổi theo hướng gia tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ có chất
lượng cao như Tài chính, Ngân hàng, Bảo hiểm…
Trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay, các thành phần kinh tế
đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của nền kinh tế, đặc biệt là khu vực
tư nhân đã có mức tăng trưởng rất cao. Đóng góp của khu vực tư nhân vào tăng
trưởng GDP tăng từ 36.6% năm 2004 lên khoảng 42% năm 2004. Theo đánh
giá của tờ " Tiếng Vang" của Pháp thì lĩnh vực kinh tế tư nhân của Việt Nam
đang có bước phát triển ngoạn mục thể hiện qua nhịp sống sôi động ở các
thành phố lớn.
1.3. Môi trường tự nhiên.
Đề án môn học GVHD: Th.s Nguyễn Ái
Liên
Việt Nam có vị trí địa lí thuận lợi:
Việt Nam cũng có lợi thế về vị trí địa lí vì nằm trong khu vực Châu Á-
Thái Bình Dương đang phát triển năng động, là ngã sáu của thế giới, có đường
biên giới chung với các tỉnh miền Nam Trung Quốc. Việt Nam với Trung Quốc
từ lâu đã có mối quan hệ thân thiết. Do bị phong kiến phương Bắc thống trị
hàng ngàn năm nên Việt Nam chịu ảnh hưởng của Trung Quốc về nhiều lĩnh
vực như văn hoá, quân sự, chính trị…và hơn nữa là lĩnh vực kinh tế .Cùng là
một trong bốn nước duy nhất hiện nay trên thế giới đi theo XHCN, biết được
sứ mệnh của mình là phải xây dựng một nền kinh tế XHCN vững mạnh- động
triển kinh tế, có khả năng tiếp thu và thích nghi nhanh với hoạt động chuyển
giao công nghệ, điều này cũng phản ánh nhưng ưu thế về lao động của Việt
Nam xét về dài hạn. Rõ ràng, cơ cấu trẻ của dân số đông ( số người ở nhóm
tuổi 16-35 chiếm trên 65% dân số ) cho Việt Nam có một tiềm năng lớn về lực
lượng lao động có ưu thế về sức khoẻ, sự năng động, khả năng học hỏi và sáng
tạo. Hơn thế nữa trình độ học vấn của người Việt Nam là tương đối cao. Tỷ lệ
người lớn biết chữ trong tổng số dân là 90%, trong lực lượng lao động là 97%.
Nếu nhìn vào biểu sau, ta có thể thấy trình độ học vấn của nước ta là tương đối
cao so với một số nước trong khu vực có trình độ phát triển cao hơn với những
đặc điểm khá tương đồng.
Biểu: Một số chỉ tiêu về nhân lực của Việt Nam và một số nước Châu Á
Chỉ tiêu Việt Nam Trung
Quốc
Thái Lan Malaixi
a
Inđônêxia
Chỉ số phát triển con
người
0.664 0.701 0.753 0.755 0.679
Xếp hạng theo HDI 110 98 67 56 105
Tuổi thọ trung bình 67.4 69.8 68.8 72.0 65.1
Tỉ lệ người lớn biết chữ 91.9 82.9 94.7 85.7 85.0
Nguồn UNDP 1999
Hiện tại Việt Nam đứng thứ 5 trong số các nước ASEAN về chỉ số phát
triển con người, sau Singapo, Malaixia, Thái Lan, Philipin. Chỉ số phát triển
con người của Việt Nam năm 2004 là 0.684.
Đề án môn học GVHD: Th.s Nguyễn Ái
Liên
Chi phí sử dụng lao động của kĩ sư và công nhân Việt Nam cũng được
đánh giá là có lợi hơn các nước lân cận (lương trả chỉ bằng 60 – 70 % của