Phương pháp khám tuyến giáp
(Kỳ 3)
3.2.2. Thăm dò chức năng tuyến giáp bằng đồng vị phóng xạ và một số
nghiệm pháp:
+ Độ tập trung iod phóng xạ.
Cho bệnh nhân uống 10 - 40 microCuri
131
I hoặc 500 microCuri
123
I lúc đói.
Đo độ tập trung iod phóng xạ tại tuyến giáp sẽ biết được tỷ lệ iod uống vào được
hấp thụ tại các thời điểm 2, 4, 6, 24 và 48 giờ sau uống, sẽ vẽ được đồ thị biểu
diễn sự hấp thu. Tùy thuộc vào độ hấp thu cao hay thấp mà có thể đánh giá được
chức năng tuyến giáp cường hay suy. Chỉ số bình thường: 2: giờ-15%, 6 giờ: 25%,
24 giờ: 40%, sau đó đồ thị hầu như giữ hình cao nguyên. Sơ đồ 17. Đồ thị biểu diễn độ tập trung I
131
của tuyến giáp.
+ Các nghiệm pháp.
- Nghiệm pháp ức chế (Werner).
. Nguyên lý: So sánh đồ thị lần đo thứ nhất với lần đo thứ hai sau khi cho
bệnh nhân uống 100 microgam T
3
/ngày trong 7 ngày để ức chế tuyến giáp.
. Đánh giá: Bình thường, độ tập trung ở thời điểm 24 giờ đo lần thứ 2 giảm
ít nhất 20% so với cùng thời điểm đo lần 1.
- Nghiệm pháp kích thích (Querido).
. Nguyên lý: sau khi xác định được đồ thị đo lần 1, tiêm bắp thịt 10 đơn vị
Ở bệnh nhân có bệnh lý tuyến giáp có thể xác định được một số kháng thể
bằng phương pháp miễn dịch phóng xạ như: kháng thể kháng microsome, kháng
thể kháng thyroglobulin, kháng thể kháng thụ cảm thể TSH (TRAb).
+ Chẩn đoán tế bào học.
Sử dụng phương pháp chọc hút bằng kim nhỏ, nhất là với bướu nhân. Dựa
vào chọc hút tế bào có thể chẩn đoán được các thể bướu nang, đặc hoặc hỗn hợp,
đồng thời có thể xác định được bản chất của bệnh lý tuyến giáp: viêm, ung thư…