Cấp cứu ngừng tim phổi (Kỳ 2) - Pdf 16

Cấp cứu ngừng tim phổi
(Kỳ 2)
5.2. Thổi ngạt cho bệnh nhân:
Có thể chọn kỹ thuật thổi miệng-miệng hoặc miệng - mũi. Thông thường
thổi miệng - miệng có hiệu quả hơn, người cấp cứu dùng 1 bàn tay đặt lên trán
bệnh nhân ấn ngửa đầu bệnh nhân ra sau đồng thời dùng ngón trỏ và ngón cái kẹp
mũi bệnh nhân lại, các ngón tay của bàn tay thứ 2 vừa nâng hàm dưới của bệnh
nhân lên trên ra trước đồng thời mở miệng bệnh nhân ra, người cấp cứu sau khi hít
sâu áp chặt miệng vào miệng nạn nhân rồi thổi hết không khí dự trữ qua miệng
vào phổi của nạn nhân. Nếu nạn nhân quá to lớn, có thể áp dụng thổi miệng-mũi,
người cấp cứu vừa dùng bàn tay vừa nâng xương hàm dưới của bệnh nhân lên trên
ra trước vừa khép miệng bệnh nhân lại, bàn tay thứ hai đặt lên trán nạn nhân ấn
ngửa đầu nạn nhân ra sau, sau khi đã hít sâu áp chặt miệng vào mũi nạn nhân rồi
thổi hết không khí dự trữ qua mũi vào phổi. Tần số thổi nên từ 12 - 15 lần/phút.
Nếu làm đúng kỹ thuật, với mỗi lần thổi như vậy, sẽ thấy lồng ngực bệnh nhân nở
vồng lên. Nếu làm không đúng kỹ thuật sẽ thấy lồng ngực bệnh nhân không nở
theo nhịp thở đồng thời thấy bụng bệnh nhân to dần lên theo từng nhịp thổi hoặc
không khí phì ra ngay trên mặt bệnh nhân. Động tác thổi ngạt giúp đưa không khí
cùng với oxy vào trong phổi nạn nhân, động tác thở ra thụ động sau khi ngừng thổi
không khí vào giúp không khí trong phổi thoát ra ngoài mang theo CO
2
.
5.3. ép tim ngoài lồng ngực:
Người cấp cứu chọn vị trí thích hợp ở một bên bệnh nhân, một bàn tay đặt
dọc theo chính giữa 1/2 dưới của xương ức bệnh nhân, bàn tay thứ hai đặt vuông
góc lên bàn tay thứ nhất, dùng lực của hai tay, vai và thân mình ép vuông góc
xuống lồng ngực của bệnh nhân sao cho xương ức lún xuống từ 4 - 5 cm, sau đó
nhấc tay lên mà tiếp tục nhịp ép thứ hai, tần số lên khoảng 80 - 100 lần/phút. Với
mỗi nhịp ép tim đúng kỹ thuật sẽ phải bắt được động mạch bẹn hoặc động mạch
cảnh nảy. Phải ép như vậy thì mới có thể làm tống máu lên vòng tuần hoàn nhờ có
lực ép trực tiếp lên tim kết hợp với làm thay đổi áp lực trong lồng ngực. Động tác

cần xen kẽ với nhau một cách nhịp nhàng như ở phần trên.
6.4. Dùng thuốc trong cấp cứu ngừng tim-phổi:
+ Thuốc đầu tay là adrenalin đóng ống 1mg/1ml, thuốc kích thích thụ thể
adrenergic trên hệ thần kinh tự động của tim (đặc biệt là nút xoang) làm cho tim
đập lại.
Liều dùng là 1mg cho 1 lần tiêm, nhắc lại 5 phút một lần nếu như tim chưa
đập lại, có thể tăng liều lên 3mg cho một lần tiêm nếu như dùng liều 1mg không
có hiệu quả.
Đường tiêm thuốc tốt nhất là tiêm vào tĩnh mạch, đặc biệt tiêm vào tĩnh
mạch trung tâm vì là con đường nhanh nhất đưa thuốc tới nút xoang. Nếu tiêm vào
tĩnh mạch ngoại vi cần chọn tĩnh mạch cảnh ngoài, tĩnh mạch đầu hoặc tĩnh mạch
nền cánh tay. Liều adrenalin cần pha trong 20 ml huyết thanh mặn 0,9% và được
tiêm nhanh vào tĩnh mạch, khi tiêm vào tĩnh mạch cánh tay cần nâng cao cánh tay
lên, nếu đã đặt được một dây truyền tĩnh mạch thì sau khi tiêm thuốc vào dây
truyền cần nâng cao chi thể và cho dịch truyền chảy nhanh lên với mục đích làm
cho thuốc về tuần hoàn trung tâm nhanh hơn. Không sử dụng các tĩnh mạch ở chi
dưới vì ít hiệu quả.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status