Ứng dụng Công nghệ nuôi cấy mô để nhanh nhanh một số giống cúc đồng tiền mới có triển vọng tại Vĩnh Long - Pdf 16

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KH&CN
______________________________________
ĐỀ TÀI CẤP TỈNH
BÁO CÁO TỔNG HỢP
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG ĐỀ ÁN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO
TỈNH VĨNH LONG ĐẾN NĂM 2020
Nhóm thực hiện chính Đề tài:
ThS. Hoàng Văn Tuyên, CNĐT (NISTPASS)
TS. Trần Nắng Thu (Trường ĐHNN Hà Nội)
TS. Phạm Ngọc Thường (Bộ NN&PTNT)
ThS. Phạm Mai Hương (Bộ NN&PTNT)
ThS. Trần Quang Ninh (Cục ứng dụng công nghệ)
ThS. Nguyễn Thị Minh Nga (NISTPASS)
ThS. Nguyễn Lan Anh (NISTPASS)
HÀ NỘI – 2012
MỤC LỤC
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KH&CN 1
LỜI CẢM ƠN 4
LỜI NÓI ĐẦU 6
Nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI (1986), từ chỗ thiếu lương thực đến đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới.
Tuy nhiên, nhìn chung nền sản xuất nông nghiệp của Việt Nam còn yếu, nhiều sản phẩm nông nghiệp chất
lượng chưa cao, giá bán thấp, khó cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của các nước xuất khẩu. Việc đưa nhanh
tiến bộ khoa học và công nghệ, công nghệ cao ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu ngày
càng cao của tiêu dùng trong nước và phục vụ xuất khẩu, nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp trên một đơn vị
diện tích nuôi trồng, nâng cao thu nhập cho người lao động, là yêu cầu tất yếu trong phát triển nông nghiệp
nước ta hiện nay. Tại nhiều nước trên thế giới (Israel, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, ), việc ứng dụng công
nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp đã có từ lâu và thu được nhiều kết quả kinh ngạc. Ở Việt Nam, việc ứng
dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp cũng đã được quan tâm từ cuối những năm 1990, một số vùng,

CÁC TỪ VIẾT TẮT
CGCN chuyển giao công nghệ
CNC công nghệ cao
CNH-HĐH công nghiệp hóa-hiện đại hóa
2
CNSH công nghệ sinh học
DN doanh nghiệp
GTSX giá trị sản xuất
HTX hợp tác xã
KH&CN khoa học và công nghệ
KT-XH kinh tế-xã hội
NC&TK nghiên cứu và triển khai
NNCNC nông nghiệp công nghệ cao
NNƯDCNC nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
SX-KD sản xuất-kinh doanh
3
LỜI CẢM ƠN
Đề tài này được thực hiện bởi chủ nhiệm đề tài - ThS. Hoàng Văn Tuyên với sự
cộng tác của một số nghiên cứu viên thuộc Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN
(Bộ Khoa học và Công nghệ), cán bộ của Bộ NN&PTNT, trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội và một số cán bộ khác. Các tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành
tới Lãnh đạo Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, Lãnh đạo một số cơ quan đã
tạo điều kiện, đặc biệt là thời gian, thủ tục cho các cán bộ tham gia đề tài, Sở Khoa
học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Long, Sở Tài chính đã hỗ trợ về kinh phí cho chúng tôi
hoàn thành Đề tài này. Lời cảm ơn của tập thể tác giả cũng xin gửi tới Bà Đỗ Thị
Minh Châu, ThS. Đoàn Ngọc Thanh Xuân, TS. Nguyễn Thị Tuyết Mai, ThS Phạm
Thị Thu Hồng, Bà Nguyễn Ngọc Tuyết và Ông Trương Vĩnh Yên (Sở NN&PTNT),
Ông Phạm Văn Long và Nguyễn Hữu Dùng (Sở KH&CN), các đơn vị thuộc Sở
NN&PTNT, các doanh nghiệp và các cá nhân đã dành thời gian và cung cấp cho
chúng tôi nhiều số liệu, tư liệu cũng như những ý tưởng bổ ích trong suốt thời gian

cả chủ quan và khách quan. Xuất phát từ vấn đề này, một đề tài nghiên cứu về nông
nghiệp công nghệ cao được hình thành nhằm đưa ra những luận cứ, những lý do,
những đề xuất và khuyến nghị cho việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao phạm vi
cấp tỉnh.
6
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết
Có thể nói rằng, đa số các mặt hàng nông sản của Việt Nam đều có giá bán rất
thấp trên thị trường thế giới. Phần nhiều hàng hóa của Việt Nam chỉ dừng lại ở mức
bán nguyên liệu qua sơ chế cho các hãng nước ngoài mua về, chế biến lại và bán với
giá cao hơn nhiều. Tình trạng này, không chỉ riêng Việt Nam, mà nhiều nước đang
phát triển khác cũng đang gặp phải. Đổi mới công nghệ nâng cao trình độ sản xuất
nông nghiệp từ khâu chọn giống, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch đến bảo quản sau
thu hoạch, sơ chế, chế biến, bao bì, mẫu mã, vận chuyển và tiêu thụ; đang là nhu cầu
cấp bách với hầu hết các quốc gia. Trước tình hình này thì việc phát triển nông nghiệp
công nghệ cao có thể xem là một trong những biện pháp hữu hiệu mà nhiều quốc gia
lựa chọn nhằm tạo sức cạnh tranh trên thị trường. Ngoài ra, nông nghiệp công nghệ
cao còn hỗ trợ khả năng phát triển du lịch sinh thái, du lịch tri thức, bảo vệ và phát
triển môi trường theo hướng bền vững.
Vĩnh Long là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, gần thành phố
Cần Thơ và cách TP. Hồ Chí Minh không xa, có tiềm năng lớn cho phát triển nhiều
ngành, sản phẩm dựa trên nông nghiệp, song chưa được khai thác tối đa và hiệu quả
để nâng cao đời sống nhân dân. Để phát huy hiệu quả các tiềm năng thế mạnh của
Tỉnh, nâng cao đời sống nhân dân, các ngành, sản phẩm dựa trên nông sản phải trở
thành những ngành, sản phẩm mũi nhọn, chủ lực với giá trị gia tăng cao phục vụ các
mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của Tỉnh.
Thực hiện định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN)
của tỉnh Vĩnh Long, nhiều năm gần đây, việc ứng dụng các thành tựu KH&CN vào
sản xuất nông nghiệp (kể cả thủy sản) đã có nhiều chuyển biến rõ nét và góp phần
quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội của Tỉnh. Nhiều công nghệ mới, giống cây,

dựng Đề án nông nghiệp CNC tỉnh Vĩnh Long; đề xuất các giải pháp, lộ trình và một
số dự án đầu tư để xây dựng mô hình nông nghiệp CNC tỉnh Vĩnh Long thời gian tới;
xây dựng Dự thảo Đề án phát triển nông nghiệp công nghệ cao tỉnh Vĩnh Long đến
năm 2020.
8
Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đây là Đề tài mang tính phân tích, tổng hợp chính vì vậy đối tượng nghiên cứu
của Đề tài bao gồm các cơ quan quản lý, nghiên cứu, đào tạo về nông nghiệp; các
doanh nghiệp, HTX sản xuất-kinh doanh sản phẩm nông nghiệp; các nhà khoa học,
nhà quản lý trên phạm vi tỉnh Vĩnh Long và vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu;
- Phương pháp chuyên gia và hội thảo bàn tròn;
- Phương pháp điều tra, khảo sát;
- Phương pháp quy nạp.
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích thống kê số liệu, trên cơ sở các số liệu
điều tra thực tế từ bảng hỏi, các số liệu từ các nguồn tài liệu khác có liên quan.
Tổng quan nghiên cứu và lựa chọn vấn đề nghiên cứu
Ngày nay phương thức sản xuất nông nghiệp với công nghệ truyền thống, dựa
trên kinh nghiệm và sự khéo léo không thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao về số
lượng, chất lượng và chức năng của sản phẩm. Nông sản chất lượng cao với nhiều
chức năng tích hợp với giá thành hạ, không có độc hại sẽ ngày càng trở thành nhu cầu
rộng rãi của xã hội.
Trong bối cảnh đó, phát triển nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) chính là
biện pháp hữu hiệu và bền vững nhất được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn.
Bên cạnh các nước tiên tiến như Mỹ, Anh, Phần Lan, Israel…, nhiều nước ở
châu Á cũng đã chuyển nền nông nghiệp theo hướng số lượng là chủ yếu sang nền
nông nghiệp chất lượng, ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH), công nghệ tự động
hoá, cơ giới hoá, tin học hoá… để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, an toàn, hiệu
quả. Việc ứng dụng CNSH trong nông nghiệp đã đem lại nhiều thành công: hàng loạt

Đặc biệt, việc sử dụng có hiệu quả nguồn nước để phát triển nông nghiệp là một trong
những thành công lớn của đất nước Israel.
Đến nay trên thế giới có hàng trăm khu NNCNC như: “Khu công nghệ Đại Tây
Dương” của Pháp, “Vườn khoa học Jian Qiao” của Anh, “Thành phố khoa học công
nghệ” ở Xiberi của Nga, “Vườn nghiên cứu Đại Đức” của Hàn Quốc, “Thung lũng
Bắc” của Canada, “Đại địa Cẩm tú” ở Bắc Kinh, “Khu công nghệ cao Tôn Kiều” ở
Thượng Hải, “Khu nông nghiệp mới” ở Quảng Đông, “Khu khoa học Thủy Bình hồ”
ở Thiên Tân, “Khu NNCNC Chung Đài Hạ Môn”,…
Hiệu qủa mang lại từ các mô hình trên đã khẳng định các mô hình CNC và khu
NNCNC đã và đang trở thành điển hình cho nền nông nghiệp tri thức của thế kỷ XXI.
10
Tại Việt Nam, với quyết tâm phát triển ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại
hoá, chúng ta đă xác định mô hình nông nghiệp công nghệ cao sẽ góp phần quan trọng
thúc đẩy nền nông nghiệp lên một tầm cao mới với nhiều đóng góp vào nên kinh tế.
Chính phủ và Bộ NN&PTNT đã tiến hành thiết lập một số khu NNCNC phù hợp với
điều kiện kinh tế và điều kiện nhân lực ở Việt Nam. Bên cạnh đó, ở một số địa
phương hay doanh nghiệp đã tự thành lập các mô hình NNCNC và đã thu được một số
kết quả ban đầu đáng khích lệ.
Mô hình rau hoa thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng). Mô hình sản xuất rau an toàn
600ha/35 ha canh tác được sản xuất theo hai dạng: Công nghệ sản xuất cách ly trong
nhà lưới không sử dụng phân bón, nông dược vô cơ. Công nghệ sản xuất cách ly trong
nhà lưới có sử dụng giới hạn nông dược vô cơ. Mô hình này đã được triển khai tổng
số khoảng 20 ha ở Công ty TNHH Kim Bằng 7 ha, Công ty TNHH Trang Food: 3 ha,
các hộ nông dân trên 10 ha. Về hoa: Trồng trong nhà có mái che plastic là 260 ha/650
ha trồng hoa (như trồng rau cao cấp) trong đó của nông dân là 80ha, sản lượng
200.000 cành và xuất khẩu 20.000 cành, tiêu thụ trong nước: 18.000 cành/ngày. Lãi
ròng từ trồng hoa cúc trên 1000m2 đạt 28,0 triệu đồng với công nghệ nhà sáng, 17,9
triệu đồng với công nghệ nhà lưới, 12 triệu đồng với phương thức truyền thống ngoài
trời. Công ty TNHH Đà Lạt Hasfarm là mô hình ứng dụng công nghệ cao trong sản
xuất hoa cao cấp có quy mô 24 ha trong đó có 15 ha nhà kính và 2 ha nhà bằng thép;

công nghệ thông tin trong quản lý con giống. (iii) Thuỷ sản: lai tạo và kích thích sinh
sản để sản xuất cá giống và cải tiến chất lượng cá; nuôi trồng tảo đa bào và vi tảo làm
thực phẩm và vật liệu trong xử lý môi trường. (iv) Lâm nghiệp: ứng dụng công nghệ
sinh học để nhân giống nhanh một số cây lâm nghiệp có chất lượng gỗ tốt, thời gian
sinh trưởng ngắn phục vụ cho phát triển rừng; nhân giống các loại cây lâm nghiệp có
dạng tán và tốc độ sinh trưởng phù hợp cho phát triển cây xanh đô thị (v) Dịch vụ:
bảo quản, chế biến nông sản, đóng gói bao bì; cung ứng, tiếp thị các sản phẩm nông
nghiệp chất lượng cao
Mô hình rau, hoa, quả, chăn nuôi thủy sản Hà Nội. Hiện nay Hà Nội đã hình
thành các mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới có kết quả như: bò sữa
(Phù Đổng - Gia Lâm), hoa cây cảnh (Từ Liêm - Tây Hồ), cam bưởi (Vân Canh, Từ
Liêm), thuỷ sản (Đông Mỹ, Thanh Trì), rau an toàn tại Vĩnh Tuy, Lĩnh Nam, (Thanh
Trì), Vân Nội (Đông Anh) Thành phố đang xây dựng các dự án Nông nghiệp công
nghệ cao. Mô hình nông nghiệp công nghệ cao Nam Hồng (Đông Anh) 30 ha. Mô
hình nông nghiệp công nghệ cao Kim Sơn (Gia Lâm) 15 ha. Dự án hỗ trợ hạ tầng thủy
12
đặc sản chất lượng cao ở Đông Mỹ, Thanh Trì 60 ha, 15 tỷ đồng. Dự án Trung tâm
chuẩn đoán và trị bệnh động vật của Chi cục Thú y Hà Nội đầu tư 5,5 tỷ đồng. Thành
phố Hà Nội đã xuất hiện một số chủ trang trại ứng dụng công nghệ cao; trông hoa lan
(Đônganh 5 ha), nông lâm kết hợp (Sóc Sơn), thuỷ sản (Yên Sở, Thanh Trì), du lịch
sinh thái Sơn Thuỷ (Từ Liêm) Năm 2002 có 54 quầy bán rau an toàn, thực phẩm
sạch 2002
Mô hình của tỉnh Nghệ An. Mô hình sản xuất rau trong nhà lưới 0,75ha ở Đông
Vĩnh thành phố Vinh, tổng thu 150 triệu/ha/năm, lợi nhuận 75 triệu đồng.
Mô hình tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Mô hình sản xuất giống lâm nghiệp, cây ăn
quả 3,8 ha vườn đầu dòng, 4 nhà lưới. Mô hình chăn nuôi lợn giống, lợn siêu nạc 200
con. Mô hình sản xuất giống gà thả vườn quy mô 10.000 con áp dụng hệ thống ấp
trứng công nghệ Nhật 45.000 quả/mẻ.
Ngoài ra, còn có mô hình ở một số tỉnh/thành phố khác như Hải Phòng, Đồng
Nai, Sơn La, Bình Dương, Cần Thơ.

năng lực sản xuất, giải pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng đáp
ứng nhu cầu của doanh nghiệp, giải pháp hợp tác liên doanh trong sản xuất và xuất
khẩu sản phẩm chủ lực; (ii) Giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích và
hỗ trợ phát triển sản phẩm; (iii) Giải pháp xây dựng chương hỗ trợ phát triển cho 3
nhóm sản phẩm chủ lực của tỉnh đến năm 2015.
Một số đề án, dự án của một số địa phương về NNCNC đã và đang được triển
khai như: Dự án khu NNCNC Hà Nội, Dự án khu NNCNC Suối Dầu (Khánh Hòa),
Dự án NNCNC tỉnh Đồng Nai.
Bên cạnh đó còn có khá nhiều các đề tài và đề án về lĩnh vực CNC nói chung
và công nghiệp công nghệ cao.
Như vậy có thể nói rằng, cho đến nay ở Việt Nam đã có một số công trình
nghiên cứu về NNCNC cũng như một số mô hình đang hoạt động ở một số địa
phương. Tuy nhiên, do đặc thù mỗi địa phương với những khác biệt về các điều kiện
tự nhiên, kinh tế và xã hội, quy hoạch phát triển mà mô hình NNCNC của các địa
phương rất khác nhau. Song mô hình NNCNC của các địa phương cũng là những tài
liệu tham khảo quan trọng về phương pháp luận đối với việc nghiên cứu về NNCNC
của tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020.
Bố cục của Báo cáo Đề tài
14
Phù hợp với mục tiêu, phương pháp nghiên cứu trên, các nội dung chính của
Báo cáo Đề tài (ngoài phần mở đầu và kết luận) được chia thành 3 chương: chương 1
(Cơ sở lý luận và thực tiễn); chương 2 (Hiện trạng và nhu cầu của tỉnh Vĩnh Long để
phát triển NNCNC) và chương 3 (Luận cứ xây dựng đề án NNCNC tỉnh Vĩnh Long
đến năm 2020).
15
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Những vấn đề lý thuyết về CNC và NNCNC
1.1.1. Tổng quan về CNC, sản phẩm CNC, khu CNC, NNCNC và khu
NNCNC hoặc NNKTC hoặc NNƯDCNC
1) Công nghệ cao (CNC)

1
Tài liệu tham khảo của Tổ nghiên cứu kinh tế đối ngoại. Chương trình GEEP-PIAP, 2002.
2
“Phát triển khu CNC”. Tổng luận KH&CN-Kinh tế, Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia, 2003.
16
chiến lược của CNC đó là: Chứa đựng hàm lượng đáng kể về NC&TK; có giá trị
chiến lược đối với quốc gia; sản phẩm được đổi mới nhanh chóng; đầu tư lớn với độ
rủi ro cao, nhưng khi thành công sẽ đem lại lợi nhuận lớn; thúc đẩy được cạnh tranh
và hợp tác quan trọng trong NC&TK, sản xuất và tìm kiếm thị trường trên quy mô
toàn cầu.
Tài liệu này cũng cố gắng đưa ra một tiêu chí để xác định CNC đó là hàm
lượng NC&TK cao (high R&D intensity). Thông thường, việc nêu ra hàm lượng
NC&TK (hoặc hàm lượng tri thức) như một tiêu chí về CNC là một cách sử dụng
được nhiều học giả và các nhà hoạch định chính sách ưa dùng.
Tại Nghị định số 99/2003/NĐ-CP ngày 28/08/2003 về việc ban hành Quy chế
khu CNC có nêu: “CNC là công nghệ được tích hợp từ các thành tựu KH&CN tiên
tiến, có khả năng tạo ra sự gia tăng đột biến về năng suất lao động, tính năng, chất
lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hoá, hình thành các ngành sản xuất hoặc
dịch vụ mới có hiệu quả KT-XH cao, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển KT-XH và
an ninh - quốc phòng”. Theo Luật CGCN (2006) thì “CNC là công nghệ có hàm lượng
cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có
chất lượng và giá trị gia tăng cao; có khả năng hình thành các ngành sản xuất, dịch vụ
mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có”. Theo Luật CNC (2008) thì
“CNC là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công
nghệ; được tích hợp từ thành tựu KH&CN hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng,
tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan
trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản
xuất, dịch vụ hiện có”.
Tóm lại, các khái niệm về CNC chủ yếu được đưa ra thường mang tính định
tính, không có một định nghĩa định lượng với các chỉ số có thể đo đếm được. Tuy

thân CNC được dùng để làm ra sản phẩm tiêu dùng, chẳng hạn máy vi tính, bộ vi xử
lý, một công nghệ được dùng cho việc sản xuất ra sản phẩm, v.v ).
3) Khu CNC
Thực tế cho thấy phần lớn các khu CNC là khu vực tập trung các DNCNC, các
tổ chức NC&TK và cơ sở đào tạo có liên quan tới những ngành mũi nhọn của thế giới
và của từng nước, tạo điều kiện thuận lợi để sản xuất những loại sản phẩm có hàm
lượng CNC, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới, có khả năng
phục hồi và đổi mới cơ cấu kinh tế của vùng, thậm chí quốc gia.
Nếu theo cách tiếp cận mức độ NC&TK trong khu thì khu CNC có thể là: công
viên khoa học truyền thống; thành phố khoa học; công viên đổi mới công nghệ; trung
3
CSIS (1998).
18
tâm công nghệ; và công viên khoa học chuyên biệt.
Nếu theo cách tiếp cận “sức đẩy công nghệ và sức kéo của thị trường” thì khu
CNC có thể là:
(i) công viên khoa học/nghiên cứu (science/research park), có các chức năng:
nghiên cứu khoa học+phát triển công nghệ+tư vấn+giáo dục&đào tạo+cư xá+giải trí.
(ii) công viên công nghệ (technology park), có các chức năng: Phát triển công
nghệ+công nghiệp+thương mại+tư vấn+giáo dục&đào tạo+cư xá+giải trí.
(iii) trung tâm công nghệ (technology/innovation center), có các chức năng:
Phát triển công nghệ+công nghiệp (quy mô nhỏ)+tư vấn+giáo dục&đào tạo+cư
xá+giải trí.
(iv) thành phố khoa học/tâm điểm công nghệ (science city), có các chức năng:
Nghiên cứu khoa học+phát triển công nghệ+công nghiệp+thương mại+tư vấn+giáo
dục&đào tạo+cư xá+giải trí.
Như vậy dù theo cách gọi như thế nào thì về bản chất, khu CNC (hiểu theo
nghĩa rộng) như là một hình thức chuyển giao trực tiếp các kết quả nghiên cứu vào sản
xuất trong một số hướng công nghệ được các DN (hoặc chính quyền) lựa chọn. Cũng
cần nhấn mạnh rằng, hạt nhân của bất kỳ hình thức tổ chức nào cũng là các tổ chức

kê số lượng các mô hình NNCNC, người ta thường thống kê tất cả các loại hình trên.
Trên thế giới, có hai quan niệm chính về mô hình NNCNC.
Quan niệm thứ nhất, dựa trên lý thuyết của J.H. Von Thunew (1986), khu
NNCNC là nơi hội tụ các thành tựu tiên tiến nhất về CNSH, công nghệ vật liệu, công
nghệ thông tin và tự động hóa trong một hệ thống nông nghiệp tập trung nhằm tạo ra
một quy mô sản xuất và trình diễn công nghệ có tác dụng quyết định trong việc
chuyển nền kinh tế nông nghiệp. Quan niệm này được phổ biến ở các nước phát triển
như Mỹ, Nhật Bản, Với cánh hiểu này thì chức năng của các khu NNCNC ngoài việc
sản xuất còn bao hàm các chức năng khác nhu trình diễn và lôi kéo, chức năng đào tạo
và CGCN, chức năng phục vụ du lịch, tham quan và nâng cao hiểu biết của người dân.
Quan niệm thứ hai, khu NNCNC là nơi tập hợp các tiến bộ kỹ thuật mới về
sinh học, hóa học, cơ khí, tự động, kết hợp với những kinh nghiệm truyền thống tốt
để tạo ra bước đột phá về năng suất, chất lượng sản phẩm và quan trọng hơn cả là cho
hiệu quả kinh tế cao. Quan niệm này phổ biến ở Trung Quốc, Đài Loan và một số
nước đang phát triển khác.
Theo kinh nghiệm của Trung Quốc thì NNCNC là một loại hình tổ chức xã hội
mới được hình thành theo nhu cầu phát triển KT-XH. Chức năng chính của khu nông
nghiệp CNC gồm có 5 nội dung:
20
- Một là khu trình diễn, vườn thực nghiệm nông nghiệp hiện đại hóa, là vườn
ươm xí nghiệp chuyển hóa thành quả nghiên cứu khoa học thành sức sản xuất, là
nguồn lan tỏa CNC mới.
- Hai là khu pilot, trung tâm ứng dụng mở rộng, trung tâm phục vụ, trung tâm
tập huấn các kết quả nghiên cứu khoa học, công nghiệp, thị trường có hàm lượng
KH&CN tương đối cao.
- Ba là, có thể thu hút một khối lượng sức lao động lớn của nông thôn, làm cho
nông thôn thành thị hóa, nông dân được công nhân hóa.
- Bốn là, thích ứng hóa với chức năng kinh doanh để các lĩnh vực trồng trọt,
chăn nuôi, nuôi trồng chế biến, thương mại, sản xuất, cung ứng tiêu thụ và nghiên cứu
khoa học được thống nhất. Làm cho sản xuất nông nghiệp thực hiện được khoa học

trưởng, phát triển của cây/con. Đối tượng sản xuất chủ yếu là cây/con cho hiệu quả
kinh tế cao. Kỹ thuật sử dụng tại khu NNCNC là kỹ thuật canh tác tiên tiến, đồng bộ,
có tính chuyên nghiệp. Người quản lý và công nhân sản xuất có kiến thức, có trình độ
chuyên môn giỏi. Sản phẩm được tạo ra có năng suất và chất lượng cao chủ yếu để
xuất khẩu hoặc phục vụ những khách hàng có yêu cầu cao về chất lượng.
Thứ hai, NNCNC được thể hiện ở các nội dung: có khả năng tạo ra bước đột
phá về năng suất, chất lượng sản phẩm; cho hiệu quả sản xuất cao; đảm bảo được an
toàn môi sinh và sức khỏe cộng đồng; có khả năng áp dụng rộng rãi hoặc áp dụng
được cho quy mô sản xuất công nghiệp trong những điều kiện sản xuất nhất định.
Một cách định nghĩa khác thì NNCNC là nền nông nghiệp mà ở đó các loại
hình CNC (cơ giới hóa, tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới và
CNSH) được ứng dụng tổng hợp, theo một quy trình khép kín, hoàn chỉnh nhằm khai
thác hiệu quả nhất tài nguyên tự nhiên (đất đai, khí hậu) và tiềm năng của giống để đạt
năng suất và chất lượng sản phẩm cao nhất một cách bền vững (Nguyễn Văn Bộ 2007,
Tạp chí HĐKH 4/2006, 12/2007).
Một số nhà nghiên cứu đưa ra tiêu chí riêng cho NNCNC đó là: (i) tích hợp
được các thành tựu KH&CN mới và tiên tiến nhất, gắn kết với nhau; (ii) đầu tư lớn,
lãi suất lớn, chóng thu hồi vốn nhưng độ rủi ro lại cao; (iii) sản phẩm làm ra có hàm
lượng khoa học cao, sử dụng ít nguyên liệu, năng lượng (giá trị vật chất trong sản
phẩm thấp, chủ yếu là công nghệ, tri thức); (iv) sản phẩm có tính đa dạng, phong phú,
đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng về chủng loại, thời gian (trái vụ), ; (v) công
nghệ mang tính sinh thái vùng, không thể áp dụng máy móc từ vùng sinh thái này
sang vùng sinh thái khác, đối tượng này với đối tượng khác (Tạp chí HĐKH 4/2006,
12/2007).
22
Trên phương diện luật pháp, khu NNƯDCNC hay khu NNCNC đều có nghĩa
như nhau, bởi “Khu NNƯDCNC là khu NNCNC tập trung thực hiện hoạt động ứng
dụng thành tựu nghiên cứu và phát triển CNC vào lĩnh vực nông nghiệp để thực hiện
các nhiệm vụ quy định tại Khoản 1, Điều 16 của Luật CNC
5

a) Chọn tạo, nhân giống cây trồng, giống vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao; b) Phòng, trừ dịch bệnh; c)
Trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả cao; d) Tạo ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị sử dụng trong nông nghiệp;
đ) Bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp; e) Phát triển DN nông nghiệp ứng dụng CNC; g) Phát triển dịch
vụ CNC phục vụ nông nghiệp.
6
Nguyễn Văn Tuất, 2007 (Kỷ yếu Hội thảo phát triển NNCNC tại Việt Nam).
23
tiến được kết hợp với công nghệ thông thường nhằm phát huy thế mạnh (hay hạn chế
những yếu tố bất thuận) về điều kiện khí hậu, đất đai, trình độ và kinh nghiệm của
người sản xuất để tạo ra các sản phẩm tiêu dùng với số lượng nhiều hơn, chất lượng
tốt hơn, đáp ứng yêu cầu thực tế của sản xuất và tiêu dùng. Ở Việt Nam, có thể kể tới
những mô hình sử dụng nhà kính, nhà nilon làm tăng nhiệt độ, giảm thiểu tác hại của
mưa bão; sử dụng nhà màn, nilon đen giảm ánh sáng, nhiệt độ, ngăn côn trùng; sử
dụng công nghệ tưới nước tiết kiệm cho vùng khô hạn, Để phát triển loại mô hình
này thì việc điều tra, tìm hiểu kỹ về điều kiện khí hậu, đất đai, loại cây trồng, yêu cầu
của thị trường và công nghệ tác động chủ lực là hết sức cần thiết. Đây là những mô
hình đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu (kể cả cho điều tra, quy hoạch và xây dựng mô hình)
không quá lớn, thường mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, dễ áp dụng, mở rộng trong
phạm vi của địa phương, vùng.
Nông nghiệp kỹ thuật cao
Loại hình sản xuất này cơ bản áp dụng những công nghệ tiên tiến nhất trong
sản xuất nông nghiệp (như công nghệ vật liệu, CNSH, công nghệ dinh dưỡng, ). Việc
tạo ra số lượng hàng hóa nông sản lớn, có chất lượng tốt, khả năng cạnh tranh cao trên
thị trường trong, ngoài nước và mang lại hiệu quả kinh tế cao là những yêu cầu và tiêu
chí cần thiết của loại hình công nghệ này. Ngoài áp dụng những kỹ thuật mới nhằm
phát huy tối đa điều kiện thuận lợi hay hạn chế tối đa điều kiện bất thuận của địa
phương, vùng nhằm tăng năng suất, chất lượng cây/con như đã nêu ở trên, công nghệ
quản lý và trình độ của cán bộ, công nhân là những yếu tố then chốt cho việc xây
dựng thành công loại mô hình này. Trong giai đoạn hiện nay, theo một số chuyên gia,
đây là mô hình dễ được phổ biến nhân rộng trong sản xuất một khi nó được tập trung

công nghệ thường phải nhập từ nước ngoài và vì vậy không ít các công nghệ nhập là
các công nghệ trung bình của thế giới. Các mô hình CNC nói chung và mô hình
NNCNC nói riêng là cửa ngõ tiếp thu, nhập khẩu các CNC của thế giới, là nơi có điều
kiện sáng tạo cho các nhà khoa học. Giai đoạn đầu sẽ tiếp thu và CGCN, sau đó là giai
đoạn nuôi dưỡng và sáng tạo các CNC áp dụng vào nông nghiệp của nước mình.
(c) Ảnh hưởng tích cực đến trình độ công nghệ của địa phương, vùng hay quốc
gia: Các CNC được chuyển giao hoặc nhập khẩu về mô hình NNCNC sẽ được các
chuyên gia công nghệ tiếp thu và phát triển, các kiến thức và kỹ năng học được ở mô
hình sẽ được lực lượng trí thức chuyển tải đến các khu vực khác của địa phương, vùng
hay quốc gia, góp phần nâng cao trình độ công nghệ của địa phương, vùng hay quốc
gia đó.
25

Trích đoạn CHƯƠNG 2. HIỆN TRẠNG VÀ NHU CẦU CỦA TỈNH VĨNH LONG ĐỂ PHÁT TRIỂN NNCNC CHƯƠNG 3. LUẬN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN NNCNC TỈNH VĨNH LONG ĐẾN NĂM 2020 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status