ÐÁP ỨNG MIỄN DỊCH QUA TRUNG GIAN TẾ BÀO (Kỳ 8) pot - Pdf 16

ÐÁP ỨNG MIỄN DỊCH QUA
TRUNG GIAN TẾ BÀO
(Kỳ 8)
2.1. Các pha của đáp ứng quá mẫn muộn
Sự phát triển của đáp ứng quá mẫn muộn đầu tiên cần phải có một giai
đoạn mẫn cảm kéo dài từ 1 đến 2 tuần sau khi có sự tiếp xúc lần đầu với kháng
nguyên. Trong thời kỳ này các tế bào Th được hoạt hoá và mở rộng thành clôn do
các kháng nguyên được trình diện cùng với phân tử hoà hợp mô chủ yếu lớp II cần
thiết trên tế bào trình diện kháng nguyên tương ứng (hình 13-11). Có các tế bào
trình diện kháng nguyên khác nhau tham gia vào sự hoạt hoá tế bào TDTH đó là
các tế bào Langerhan và các đại thực bào. Tế bào Langerhan là các tế bào có tua
được tìm thấy ở biểu bì da. Người ta cho rằng các tế bào này bắt giữ các kháng
nguyên xâm nhập vào qua da và chuyển các kháng nguyên đó đến các hạch
lympho khu vực, tại đây các tế bào lympho T được hoạt hoá bởi kháng nguyên. ở
một số loài trong đó có loài người, ………….
……. cũng tạo ra được đáp ứng quá mẫn muộn. Các tế bào T hoạt hoá
thường được ký hiệu là tế bào TDTH để nhấn mạnh chức năng của chúng trong
đáp ứng quá mẫn muộn mặc dù trên thực tế chúng giống với một tiểu quần thể tế
bào Th (hoặc trong vài trường hợp thì giống các tế bào Tc).
Thông thường thì mất khoảng 24 giờ sau khi có tiếp xúc lần hai với kháng
nguyên thì quá mẫn muộn bắt đầu xuất hiện và thường không đạt cực đại cho đến
tận 48 đến 72 giờ. Sự xuất hiện đột ngột và chậm của đáp ứng này phản ánh thời
gian cần để cho các cytokine tạo ra được sự tập trung cục bộ của các đại thực bào
và hoạt hoá các tế bào này. Khi đáp ứng quá mẫn muộn bắt đầu, sự tác động lẫn
nhau một cách phức tạp của các tế bào không đặc hiệu và các chất trung gian hoá
học được phát động và điều này có thể gây khuyếch đại đáp ứng một cách dữ dội.
Khi mà đáp ứng quá mẫn muộn đã phát triển đầy đủ thì chỉ có khoảng 5% số tế
bào tham gia là các tế bào TDTH đặc hiệu với kháng nguyên còn lại là các đại
thực bào và các tế bào không đặc hiệu khác. Các đại thực bào có vai trò như
những tế bào thực hiện chủ yếu trong đáp ứng quá mẫn muộn. Các cytokine do các
tế bào TDTH tạo ra làm cho các tế bào mono trong máu dính vào các tế bào nội

lân cận tạo ra một số biến đổi có tác dụng thúc đẩy quá trình thoát mạch của các tế
bào mono và các tế bào viêm không đặc hiệu khác. Các biến đổi được tạo ra này
gồm có tăng biểu lộ các phân tử kết dính tế bào bao gồm ICAM, VCAM và
ELAM, những biến đổi về hình dạng của tế bào nội mô mạch máu thúc đẩy quá
trình thoát mạch và chế tiết IL-8 và yếu tố hoá hướng động đối với các tế bào
mono. Các tế bào mono và các đại thực bào trong máu dính vào các phân tử kết
dính tế bào có trên các tế bào nội mô mạch máu rồi thoát mạch vào kẽ mô. Các
bạch cầu đa nhân trung tính xuất hiện sớm trong phản ứng, đạt cực đại sau 6 giờ
rồi giảm dần về số lượng. Sự thâm nhiễm tế bào mono diễn ra trong thời gian từ
24 đến 48 giờ sau khi tiếp xúc với kháng nguyên.
Trong khi tế bào mono vào mô chúng biệt hoá thành các đại thực bào và
được chiêu mộ đến vị trí đáp ứng quá mẫn muộn nhờ các yếu tố hoá hướng động
như cytokine IFN-(. Một cytokine khác có tên là yếu tố ức chế di tản (migration-
inhibition factor - viết tắt là MIF) (yếu tố này có lẽ cũng chính là IL-4) có tác dụng
ức chế không cho các đại thực bào di chuyển hơn nữa và do vậy ngăn không cho
các đại thực bào di chuyển ra khỏi nơi diễn ra phản ứng quá mẫn muộn. Như sẽ
được trình bầy chi tiết sau, khảo sát sự sản xuất MIF là một xét nghiệm thường
được dùng để xét nghiệm in vitro khả năng tạo ra đáp ứng quá mẫn muộn của mỗi
cá thể.
Khi các đại thực bào tập trung tại vị trí phản ứng quá mẫn muộn chúng
được hoạt hoá bởi các cytokine, trong đó IFN-( có vai trò chính. IFN-( có tác dụng
làm cho các đại thực bào biệt hoá thành các tế bào hoạt hoá là các tế bào có kích
thước, thành phần của các enzym trong lysosome, khả năng thực bào và khả năng
giết các tác nhân gây bệnh bên trong tế bào đều tăng lên so với các tế bào không
được hoạt hoá. Vì các đại thực bào được hoạt hoá bởi IFN-( cũng bộc lộ nhiều
phân tử hoà hợp mô chủ yếu lớp II và sản xuất nhiều IL-1 hơn nên chúng cũng
hoạt động trình diện kháng nguyên hiệu quả hơn so với các đại thực bào không
hoạt hoá. Các đại thực bào hoạt hoá như vậy có thể tham gia một cách tích cực vào
việc hoạt hoá của nhiều tế bào TDTH hơn và sau đó thì các tế bào này tiết nhiều
lymphokine hơn có tác dụng chiêu mộ và hoạt hoá nhiều đại thực bào hơn. Tuy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status