Đề tài THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC THAY SÁCH…
A/ MỞ ĐẦU
I - Lý do chọn đề tài
Môn Nghệ thuật (phần Thủ công) là môn học thể hiện sự đổi mới sâu sắc và
toàn diện nhất trong hệ thống các môn học thuộc chương trình thay sách ở Tiểu
học. Là môn học có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ và
tính chất của nhà trường phổ thông : "Phổ thông, lao động, kỹ thuật tổng hợp -
hướng nghiệp và dạy nghề". Nó góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho học
sinh, giáo dục lao động, kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho thế hệ trẻ. Đồng
thời tạo tiền đề để phát triển năng lực lao động nghề nghiệp, hình thành kỹ năng
cho lớp người lao động kỹ thuật trong tương lai.
Trong chương trình thay sách Tiểu học, sự đổi mới của môn Nghệ thuật (phần
Thủ công) không chỉ thể hiện ở sự thay đổi tên môn học (trước đây là LĐ - KT)
mà còn thể hiện rõ ở mục tiêu, nội dung kiến thức, cách thể hiện của sách giáo
viên, PPDH, TBDH bộ môn Chính sự đổi mới sâu sắc và toàn diện của bộ
môn đã yêu cầu đội ngũ giáo viên dạy học môn Nghệ thuật (phần Thủ công) bậc
Tiểu học phải có sự cố gắng thích ứng cao mới hoàn thành được nhiệm vụ của
môn học.
Xuất phát từ thực trạng thay sách môn Nghệ thuật (phần Thủ công) của BGD
và thực tế các đợt bồi dưỡng thay sách bộ môn ở các PGD tỉnh Quảng Ngãi,
đồng thời xuất phát vị trí, nhiệm vụ của người giáo viên dạy môn LĐ - KT ở
trường CĐSP Quảng Ngãi là đào tạo đội ngũ giáo viên dạy môn Nghệ thuật
(phần Thủ công) cho các trường Tiểu học của tỉnh nhà. Trong thời gian từ tháng
9/2005 đến tháng 5/2007, được sự quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi của các
cấp quản lý giáo dục từ các PGD đến các trường Tiếu học, nhờ sự giúp đỡ nhiệt
tình của đội ngũ giáo viên đứng lớp dạy môn Nghệ thuật (phần Thủ công) và
học sinh các lớp 1, 2, 3 của 12 trường Tiểu học thuộc 3 huyện, thành phố: huyện
Sơn Tịnh, huyện Tư Nghĩa và thành phố Quảng Ngãi, chúng tôi đã tiến hành
thực hiện đề tài "Thực tế dạy và học thay sách môn Nghệ thuật (phần Thú công)
lớp 1, 2, 3".
II - Mục tiêu của đề tài
2. Chương trình thay sách Tiểu học, chương trình và sách giáo khoa thay sách
bộ môn Nghệ thuật (phần Thủ công).
3. Đội ngũ giáo viên trực tiếp đứng lớp bộ môn Nghệ thuật (phần Thủ công)
lớp 1, 2, 3; Ban giám hiệu của 12 trường Tiểu học; lãnh đạo 3 Phòng GD-ĐT
thành phố Quảng Ngãi, huyện Sơn Tịnh và Tư Nghĩa.
V - Phương pháp nghiên cứu của đề tài
1. Dùng hệ thống phương pháp nghiên cứu văn bản để tìm hiểu các vấn đề lý
thuyết liên quan đến thay sách bậc Tiểu học nói chung và thay sách bộ môn
Nghệ thuật (phần Thủ công) lớp 1, 2, 3 nói riêng.
2. Dùng hệ thống phương pháp điều tra giáo dục:
- Điều tra bằng Phiếu điều tra Ban giám hiệu và giáo viên trực tiếp đứng
lớp dạy môn Nghệ thuật (phần Thủ công) lớp 1, 2, 3 của 12 trường Tiểu học
thuộc 3 huyện, thành phố tỉnh Quảng Ngãi.
- Điều tra bằng Phiếu điều tra lãnh đạo Phòng GD - ĐT của 3 huyện, thành
phố tỉnh Quảng Ngãi.
2
Đề tài THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC THAY SÁCH…
- Điều tra và trực tiếp quan sát hoạt động dạy và học bộ môn Nghệ thuật
(phần Thủ công) lớp 1, 2, 3 của 12 trường Tiểu học thuộc 3 huyện, thành phố
tỉnh Quảng Ngãi.
- Xử lý số liệu bằng thống kê toán học.
VI - Đóng góp mới của đề tài
1. Về lý luận:
Góp phần khẳng định tính ưu việt của sự đổi mới mục tiêu, nội dung
chương trình, sách giáo viên, PPDH bộ môn Nghệ thuật (phần Thủ công) lớp
1, 2, 3 ở Tiểu học.
2. Về thực tiển:
Bổ sung cho giáo viên dạy LĐ - KT ở trường CĐSP Quảng Ngãi vốn hiểu
biết về cơ sở lý luận và thực tiễn của sự đổi mới mục tiêu, nội dung chương
4. Đổi mới phương pháp dạy học
a/ Sự cần thiết phải đổi mới PPDH
Nghị quyết TW 4 khoá VII/1993 đã đề ra nhiệm vụ "Đổi mới PPDH ở tất cả
mọi cấp học, bậc học". Nghị quyết TW 2 khoá VIII (12-1996) nhận định:
"Phương pháp giáo dục đào tạo chậm được đổi mới, chưa phát huy được tính
chủ động, sáng tạo của người học". Mặc dù ở Tiểu học đã xuất hiện ngày càng
nhiều giờ dạy theo hướng tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực, tự lực chiếm
lĩnh tri thức song nhiều nhiều giáo viên vẫn chưa thực sự giác ngộ về đổi mới
PPDH trong mục tiêu đào tạo con người mới năng động, sáng tạo phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nên chưa từ bỏ được thói quen theo kiểu thầy
đọc, trò chép. Hậu quả là học sinh chưa biết tự học theo hướng tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo.
4
Đề tài THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC THAY SÁCH…
b/ Định hướng đổi mới PPDH
Nghị quyết TW 4 khoá VII đã xác định "Khuyến khích tự học" phải "Áp dụng
những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư
duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề". Nghị quyết TW 2 khoá VIII tiếp tục
khẳnh định: "Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền
thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp
dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học,
đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh nhất là sinh
viên đại học". Định hướng trên đã được pháp chế hoá trong Luật Giáo dục ở
khoản 2 điều 24: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo cúa học sinh, phù hợp với đặc điềm của từng lớp
học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập
cho học sinh".
kéo, vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên cần nhắc nhở học sinh biết giữ an
toàn lao động và bảo toàn dụng cụ.
5. Những PPDH tích cực được vận dụng trong bộ môn Nghệ thuật (phần
Thủ công)
Định hướng cơ bản cùa việc đổi mới PPDH Thủ công là phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong các giờ học trên cơ sở kết hợp sử
dụng các PPDH phù hợp với đặc trưng của môn học, mục tiêu, nội dung từng
hoạt động trong giờ học và khả năng nhận thức của học sinh.
Đặc trưng cơ bản của giờ học Thủ công là hoạt động thực hành, nó giữ vị trí
trung tâm và chiếm đa số thời gian của bài học. Thông qua hoạt động thực hành,
học sinh lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng làm thủ công và hình thành ý
thức, thói quen lao động. Do vậy, PPDH thường xuyên được sử dụng trong các
giờ học Thủ công là PPDH thực hành kỹ thuật, PPDH trực quan và PPDH dùng
ngôn ngữ.
a/ Nhóm PPDH thực hành kỹ thuật
Dạy học thực hành kỹ thuật là PPDH do giáo viên tổ chức nhằm giúp học sinh
hiểu rõ và vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực hành, luyện tập, hình thành kỹ
năng và thực hiện các chức năng giáo dục khác.
* Mục đích:
- Cung cấp, hoàn thiện và vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực hành.
- Rèn luyện và hình thành các kỹ năng thực hành cần thiết theo mục tiêu
bài học, môn học.
- Hình thành thói quen lao động và giáo dục lao động cho học sinh như thói
quen làm việc theo quy trình, biết quý trọng và tự hào đối với sản phẩm lao
động mình làm ra, có ý thức giữ gìn vệ sinh, an toàn trong lao động
Nhóm PPDH thực hành kỹ thuật gồm 2 PPDH là phương pháp làm mẫu và
phương pháp huấn luyện - luyện tập.
* Phương pháp làm mẫu
Phương pháp làm mẫu là sự biểu diễn các thao tác kỹ thuật kết hợp với giải
Trong dạy học Thủ công, luyện tập được hiểu như một PPDH, trong đó giáo
viên tổ chức cho học sinh thực hiện nhiều lần các thao tác kỹ thuật theo trình tự
quy định mà giáo viên đã hướng dẫn nhằm hình thành và rèn luyện kỹ năng theo
mục tiêu, nội dung bài học. Phương pháp huấn luyện và luyện tập luôn đi đôi
với nhau trong hoạt động thực hành của các bài học Thủ công.
Để việc sử dụng phương pháp huấn luyện tập - huấn luyện đạt hiệu quả, giáo
viên cần chú ý thực hiện những yêu cầu sau:
- Làm cho học hiểu rõ trình tự các bước và cách thực hiện từng thao tác.
- Xác định và đưa ra được những tiêu chí cần đạt của bài học nhằm giúp học
sinh biết yêu cầu, mục tiêu và sản phẩm của luyện tập.
- Bố trí chỗ ngồi đảm bảo đủ ánh sáng và thuận tiện cho việc thực hiện các
thao tác của học sinh.
- Kiểm tra sự chuẩn bị vật liệu, dụng cụ thực hành của học sinh. Nhắc học
sinh thực hiện những quy định khi sử dụng vật liệu, dụng cụ thực hành trước khi
tổ chức thực hành nhằm đảm bảo tất cả học sinh đều phải tham gia vào quá trình
luyện tập và sử dụng các dụng cụ, vật liệu đúng kỹ thuật, an toàn.
- Chú ý quan sát hoạt động thực hành của học sinh để nhanh chóng phát hiện
những khó khăn, sai sót, những thao tác cần uốn nắn, những học sinh cần được
hướng dẫn thêm hoặc giúp đỡ. Nếu thấy nhiều học sinh chưa biết cách làm hoặc
cùng mắc một sai sót, giáo viên có thể tạm dừng thực hành để hướng dẫn lại.
- Nhắc nhở học sinh giữ gìn vệ sinh và an toàn lao động trong suốt quá trình
thực hành.
- Tổ chức chi học sinh trưng bày sản phẩm và tham gia đánh giá kết qua học
tập nhằm tạo không khí thi đua, học tập lẫn nhau và đem lại niềm vui trong học
tập cho học sinh.
7
Đề tài THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC THAY SÁCH…
Phương pháp huấn luyện và luyện tập có thể thực hiện dưới hai hình thức: cá
nhân và theo nhóm.
b/ Nhóm phương pháp dạy học trực quan
Nhóm phương pháp dùng ngôn ngữ bao gồm các phương pháp như giải thích,
minh hoạ, giảng giải, thuyết trình, đàm thoại (vấn đáp), trình bày nêu vấn đề
Một số điểm giáo viên cần lưu ý khi sử dụng phương pháp dùng ngôn ngữ
trong dạy học Thủ công:
- Ngôn ngữ phải trong sáng, dễ hiểu.
- Ngôn ngữ kỹ thuật được sử dụng trong các tranh quy trình phải rõ ràng,
chính xác, ngắn gọn.
- Diễn đạt thong thả, tình cảm, giải thích rõ ràng, ngắn gọn. Những chỗ khó
phải giảng chậm và kỹ hơn.
8
Đề tài THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC THAY SÁCH…
- Khi sử dụng phương pháp đàm thoại, phải lấy kiến thức và khái niệm học
sinh đã biết làm xuất phát điểm. Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và tập
trung vào trọng tâm quan sát. Không đặt quá nhiều câu hỏi tản mạn. Khi học
sinh trả lời, chú ý uốn nắn từng câu, từ chưa đúng và biểu dương những học sinh
trả lời đúng để khích lệ các em.
6. Đổi mới cách soạn giảng
Sự đổi mới về mục tiêu, nội dung, PPDH đồi hỏi phải đổi mới về cách soạn
bài giảng của giáo viên. Một nét nổi bật dễ thấy của bài học theo tư tưởng lấy
người học làm trung tâm là hoạt động của học sinh chiếm tỷ trọng cao so với
hoạt động của giáo viên về mặt thời lượng cũng như cường độ làm việc. Soạn
bài theo phương pháp tích cực lả những dự kiến của giáo viên phải tập trung chủ
yếu vào các hoạt động của học sinh (quan sát vật mẫu, hoạt động thực hành,
tranh luận vè những vấn đề đặt ra ). Từ đó giáo viên phải suy nghĩ công phu về
những khả năng diễn biến các hoạt động đề ra cho học sinh. Bài học đổi mới là
bài học được xây dựng từ những đóng góp của học sinh thông qua các hoạt động
do giáo viên tổ chức, khai thác vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của từng học
sinh và tập thể lớp, tăng cường mối liên hệ ngược từ trò đến thầy và mối liên hệ
ngang giữa trò và trò.
7. Đổi mới việc kiểm tra đánh giá
và môn Thủ công nói riêng thì thiết bị dạy học không chỉ là phương tiện giúp
học sinh tìm hiểu, thu nhận tri thức mà còn là nguổn kiến thức đối với các em.
Thiết bị dạy học Thủ công rất phong phú (Các vật mẫu: mẫu thực, mẫu quan sát,
mẫu dẫn dắt, mẫu sáng tạo, vật thật; Tranh quy trình; Dụng cụ làm thủ công;
Nguyên vật liệu ) có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thu nhận tri thức và
hình thành kỹ năng kỹ xảo của học sinh. Khi sử dụng, thiết bị dạy học phải
thuận lợi cho học sinh thực hiện các công tác độc lập hoặc theo nhóm và phù
hợp với sự linh hoạt thay đổi hình thức dạy học của bộ môn.
II - Tìm hiểu chương trình và sách giáo viên môn Nghệ thuật
(phần Thủ công), so sánh với chương trình và sách giáo khoa môn
Lao động - Kỹ thuật lớp 1, 2 ,3
1. Tìm hiểu chương trình môn Nghệ thuật (phần Thủ công)
Trong chương trình Tiểu học, môn Nghệ thuật (phần Thủ công) là môn học
thể hiện cao nhất tính liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề
nghiệp, là cầu nối giữa các môn khoa học tự nhiên và các môn học khác, gần gũi
với cuộc sống hàng ngày của mỗi người cũng như với công việc sản xuất của
mỗi gia đình và của toàn xã hội. Do vậy, môn Nghệ thuật (phần Thủ công) có
nhiệm vụ một mặt góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh, chuẩn
bị hành trang cho các em bước vào cuộc sống trong một xã hội văn minh hiện
đại, mặt khác góp phần hướng nghiệp và tạo tiền đề cho các em có thể chọn
nghành nghề phù hợp sau này. Chính vì vậy mà môn Nghệ thuật (phần Thủ
công) mang tính giáo dục và tính thực tiễn cao, đồng thời cũng mang đậm nét
của sự khác biệt giữa các vùng kinh tế và vùng lãnh thổ của nước nhà.
2. Mục tiêu môn Nghệ thuật (phần Thủ công)
a/ Lớp 1
- Cung cấp cho học sinh những tri thức cần thiết và tối thiểu về thủ công,
bước đầu cho học sinh làm quen với lĩnh vực lao động thủ công.
- Hình thành kỹ năng đơn giản như: xé, gấp, cắt, dán giấy, bìa và có kỹ năng
sử dụng các dụng cụ học tập thông thường như: bút chì, thước, kéo… Từ đó
a/ Tên môn học
Từ lớp 1 đến lớp 3 học sinh được học 6 môn là Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên -
Xã hội, Đạo đức, Nghệ thuật và Thể dục. Môn Nghệ thuật bao gồm 3 phân môn
là Âm nhạc, Mỹ thuật và Thủ công (phân môn Thủ công trước đây là môn LĐ -
KT). Toàn bộ các nội dung về Thủ công như xé, dán hình; gấp hình; cắt, dán
hình; phối hợp gấp, cắt, dán hình và các chữ cái; đan nan bằng giấy, bìa và làm
đồ chơi được học ở các lớp 1, 2, 3.
b/ Nội dung chương trình
* Lớp 1:
- Chương trình môn LĐ - KT lớp 1 được thực hiện trong 33 tiết/33 tuần,
gồm 4 chương: Lao động tự phục vụ (2 bài), Gấp giấy (9 bài), Cắt, dán giấy (9
11
Đề tài THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC THAY SÁCH…
SO SÁNH NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH MÔN LAO ĐỘNG -
KỸ THUẬT LỚP 1, 2, 3 VỚI NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH
MÔN NGHỆ THUẬT (PHẦN THỦ CÔNG)
LAO ĐỘNG - KỸ THUẬT 1 (33 t) THỦ CÔNG 1 (35 tiết)
Chương I - LAO ĐỘNG TỰ PHỤC VỤ
- Sắp xếp chỗ học tập
- Chuẩn bị sách vở, đồ dùng học tập
Chương II - GẤP GIẤY
- Những quy định chung của môn học
- Những quy ước về gấp giấy
- Gấp các nếp gấp song song
- Gấp chéo tạo hình vuông
- Gấp ví
- Gấp quạt
- Gấp máy bay
- Gấp mũ ca-lô
Chương III - CẮT, DÁN GIẤY
- Kiểm tra chương I – Xé, dán giấy
Chương II - KỸ THUẬT GẤP HÌNH
- Các quy ước cơ bản vế gấp giấy và gấp hình
- Gấp các đoạn thẳng cách đều
- Gấp cái quạt
- Gấp cái ví
- Gấp mũ ca-lô
- Kiểm tra chương II - Kỹ thuật gấp hình
Chương III - KỸ THUẬT CẮT, DÁN
GIẤY
- Cách sử dụng bút chì, thước kẻ, kéo
- Kẻ các đoạn thẳng cách đều
- Cắt, dán hình chữ nhật
- Cắt, dán hình vuông
- Cắt, dán hình tam giác
- Cắt, dán hàng rào đơn giản
- Cắt, dán và trang trí ngôi nhà
- Kiểm tra chương III - Kỹ thuật cắt, dán giấy
12
Đề tài THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC THAY SÁCH…
LAO ĐỘNG - KỸ THUẬT 2 (50 t) THỦ CÔNG 2 (35 tiết)
Chương I - GẤP GIẤY
- Bọc sách vở
- Gấp thuyền
- Gấp tàu thuỷ hai ống khói
- Gấp máy bay đuôi rời
- Gấp con ếch
- Gấp con chim
Chương II - CẮT, DÁN GIẤY
- Cắt, dán chữ VUI VẺ
thuận chiều và biiển báo cấm xe đi ngược
chiều
- Gấp, cắt. dán biển báo giao thông chỉ chiều
xe đi
- Gấp, cắt, dán biển báo giao thông cấm đỗ xe
- Gấp, cắt trang trí thiếp chúc mừng
- Gấp, cắt, dán phong bì
- Kiểm tra chương II - Phối hợp gấp, cắt, dán
hình
Chương III – LÀM ĐỒ CHƠI
- Làm giây xúc xích trang trí
- Làm đồng hồ đeo tay
- Làm vòng đeo tay
- Làm con bướm
- Làm đèn lồng
- Kiểm tra cuối năm
13
Đề tài THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC THAY SÁCH…
LAO ĐỘNG - KỸ THUẬT 3 (50 t) THỦ CÔNG 3 (35 tiết)
Chương I - CẮT, DÁN, ĐAN GIẤY BÌA
- Giấy, bià và dụng cụ thủ công
- Cắt, dán sao năm cánh
- Cắt. dán hoa năm cánh
- Cắt, dán hình tròn
- Cắt. dán bông hoa bằng hình tròn
- Cắt, dán cái liễn
- Cắt, dán con bướm
- Cắt, dán hình con thỏ
- Đan nong mốt bằng bìa
- Cắt, dán chữ H, U
- Cắt, dán chữ V, A
- Cắt, dán chữ E, D
- Cắt, dán chữ VUI VẺ
- Kiếm tra chương II - Cắt, dán chữ cái đơn
giản
Chương III – ĐAN NAN
- Đan nong mốt
- Đan nong đôi
- Đan hoa chữ thập đơn
Chương IV – LÀM ĐỒ CHƠI
- Làm lọ hoa gắn tường
- Làm đồng hồ để bàn
- Làm quạt giấy tròn
- Kiểm tra cuối năm
14
Đề tài THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC THAY SÁCH…
bài), Làm đố chơi (5 bài).
Sách LĐ - KT 1 giúp các em biết sắp xếp ngăn nắp, gọn gàng, sạch sẽ chỗ học
tập và rèn luyện đôi bàn tay khéo léo.
Trước khi làm một sản phẩm các em xem hình vẽ, quan sát vật mẫu, các chi
tiết, thao tác của giáo viên để sản phẩm các em làm ra đúng mẫu, đúng thời gian
và đẹp.
Học tập dưới hình thức vừa học vừa chơi này thật hấp dẫn và thú vị.
Các em không những chỉ biết cách gấp giấy thành các đồ dùng, các con vật
mà còn biết cắt, dán các hình để trang trí hay làm một số đồ chơi xinh đẹp, đáng
yêu.
- Chương trình phân môn Thủ công lớp 1 được thực hiện trong 35 tiết/35
tuần, gồm 3 chương: Kỹ thuật xé, dán giấy (10 bài), Kỹ thuật gấp hình (6 bài),
Kỹ thuật cắt, dán giấy (8 bài).
15
Đề tài THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC THAY SÁCH…
vụ, trang trí các hình cơ bản, cắt dán chữ, làm đồ chơi) không đưa vào chương
trình. Do đó, nội dung chương trình Thủ công được tinh giản nhiều, thời gian
dành cho thực hành của mỗi bài được tăng lên. Học sinh có điều kiện để rèn
luyện kỹ năng và hoàn thành sản phẩm thực hành ngay tại lớp học.
Trong các chương, chương Kỹ thuật xé, dán giấy được coi là khó hơn cả vì:
+ Học sinh bắt đầu được làm quen với lao đông thủ công và được thực hiện
theo quy trình kỹ thuật.
+ Học sinh chưa biết viết chữ (mới đang học vần) nên chủ yếu phải quan
sát, phải nhớ để làm.
+ Mọi hoạt động làm ra sản phẩm đều phụ thuộc vào sự khéo léo của đôi
bàn tay, nhất là sự điều khiển của các đầu ngón tay để xé giấy.
Trong từng chương cũng có những bài được coi là khó như bài xé, dán hình
vuông, hình tròn, xé, dán con gà con mèo con (chương 1), gấp các nếp gấp cách
đều (chương 2), cắt, dán hàng rào đơn giản (chương 3).
* Lớp 2:
- Chương trình môn LĐ - KT lớp 2 được thực hiện trong 50 tiết/33 tuần, gồm
4 chương: Gấp giấy (6 bài), Cắt, dán giấy (5 bài), Làm đồ chơi (7 bài), Lắp ghép
mô hình kỹ thuật (4 bài).
Chương Gấp giấy tập trung vào chủ đề là gấp hình. Yêu cầu cơ bàn về kiến
thức và kỹ năng của chương này là học sinh biết cách gấp và gấp được thuyền,
tàu thuỷ hai ống khói, máy bay đuôi rời, con ếch, con chim.
Chương Cắt, dán giấy tập trung vào chủ đề là phối hợp cắt và dán. Yêu cầu cơ
bản về kiến thức và kỹ năng của chương này là học sinh biết cắt, dán chữ VUI
VẺ, hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác, hình tròn, ô tô, biển báo giao
thông, tranh ảnh để trang trí, và trang trí góc học tập.
Chương Làm đồ chơi tập trung vào chủ đề làm các đồ chơi thông thường hàng
ngày trên cơ sở các kỹ năng đã học. Yêu cầu cơ bản về kiến thức và kỹ năng của
chương này là học sinh biết cách làm được các loại đồ chơi như quạt giấy tròn,
Phần thứ nhất: Những vấn đề chung về dạy Thủ công 2
Phần này giới thiệu mục tiêu, nội dung chương trình, PPDH, các hoạt động
trên lớp, đánh giá kết quả học tập, sách và trình độ chuần cùa Thủ công 2.
Phần 2: Hướng dẫn cụ thể
Nội dung phần này đi sâu hướng dẫn cách thực hiệ từng bài. Chương trình
Thủ công 2 được chia làm 3 chương, mỗi chương lại được cấu trúc như sau:
I. Mục tiêu của chương
II. Nội dung: Nêu tên các bài học trong chương và thời gian dành cho mỗi bài
học
III. Những điềm cần lưu ý về phương pháp
IV. Hướng dẫn cụ thể từng bài
Đây là phần trọng tâm của sách. Do không có sách giáo khoa nên nội dung
của từng bài không chỉ hướng dẫn giảng dạy mà còn bao hàm cả nội dung của
sách giáo khoa. Trong mỗi bài đều xác định rõ mục tiêu về kiến thức, kỹ năng,
thái độ cần đạt được; đồ dùng dạy học cần chuẩn bị để tiến hành giờ học và cách
tiến hành các hoạt động dạy - học chủ yếu để đạt mục tiêu giờ học.
Trong sách giáo viên quy định những nội dung cơ bản của bài học, tiết học và
những gợi ý về chuẩn bị TBDH, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Khi
sử dụng sách, giáo viên bắt buộc phải thực hiện đủ các nội dung cơ bản của bài.
Còn về phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, giáo viên có thể vận dụng sáng
tạo tuỳ theo khả năng của bản thân và đièu kiện thực hiện.
Các hình vẽ minh hoạ các bước làm ra sản phẩm trình bày trong sách là
những hình chuần và cũng là nội dung cơ bản của bài. Giáo viên cần dựa vào
các hình vẽ đó để chuẩn bị TBDH.
Trình tự các bước lên lớp trình bày trong sách đã được phân chia hợp lý, giáo
viên không tuỳ tiện sửa đổi trình tự đó.
Trong giờ Thủ công, giáo viên có thể dùng vật liệu khác thay thế vật liệu quy
định trong sách sao cho đảm bảo mục tiêu giờ học. Bên cạnh đó, tuỳ theo khả
năng và điều kiện từng trường, giáo viên có thể sử dụng nhiều phương tiện khác
nhau trong giờ học để làm cho bài học sinh động, hấp dẫn.
một số đồ chơi đơn giản như lọ hoa, đồng hồ để bàn, quạt giấy tròn bằng vật liệu
dễ kiếm. Rèn luyện đôi tay khéo, khả năng sáng tạo và thói quen lao động theo
quy trình, có kế hoạch. Học sinh thích làm đồ chơi và yêu quý sản phẩm lao
động.
- Những điểm mới của chương trình Thủ công lớp 3:
Nội dung chương trình được tinh giản, tập trung vào hai nội dung cơ bản là
gấp hình và căt, dán giấy. Nội dung về đan và làm đồ chơi là vận dụng nội dung
gấp, cắt, dán để làm ra sản phẩm và nâng cao kỹ thuật gấp, cắt, dán.
Nội dung chương trình đảm bảo đáp ứng được mục tiêu dạy hoc thủ công trên
cả 3 mặt: Trang bị kiến thức, rèn luyện kỹ năng và giáo dục lao động. Trong đó ,
mục tiêu phát triển kỹ năng gấp, cắt, dán, giấy được đặc biệt quan tâm trong nội
dung chương trình.
Yêu cầu về vật liệu thực hành và sản phẩm thực hành đơn giản, phù hợp với
khả năng, điều kiện của học sinh lớp 3 để đảm bảo cho mọi học sinh có thể
chuẩn bị được vật liệu thực hành và hoàn thành sản phẩm ngay tại lớp.
18
Đề tài THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC THAY SÁCH…
Nội dung của từng bài trong chương trình Thủ công lớp 3 nhìn chung phù hợp
với khả năng tiếp thu kiến thức và rèn luyện kỹ năng của mọ đối tượng học sinh.
Trong chương trình có nội dung đan nan là tương đối mới và khó (mới với
học sinh chứ không phải mới so với chương trình cũ vì trước đay, đan nan bằng
giấy, bìa đae được dưa vào chương trình LĐ - KT lớp 3 với các nội dung: đan
nong mốt, đan nong đôi và đan làn bằng bìa). Nội dung đan nan được cấu trúc
thành một chương, bao gồm 3 bài: đan nong mốt, đan nong đôi và đan hoa chữ
thập đơn nhằm mở rộng và phát triền kỹ năng tạo hình bằng giấy, bìa, rèn luyện
đôi tay khéo léo cho học sinh. Đồng thời giúp học sinh bước đầu làm quen với
đan lát - một hoạt động thủ công phổ biến ở nước ta. (Nội dung Đan cái làn bằng
bìa của chương trình LĐ - KT lớp 3 cũ không được đưa vào chương trình Thủ
công lớp 3 mới vì quá khó đối với học sinh lớp 3). Để cho giáo viên và học sinh
thực hiện các bài về đan nan bằng giấy, bìa thuận lợi, đạt kết quả, nội dung của
chọn 6 giáo viên (2 giáo viên dạy khối lớp 1; 2 giáo viên dạy khối lớp 2; 2 giáo
viên dạy khối lớp 3) thì phần đông giáo viên (59 giáo viên, chiếm tỷ lệ 81,94%)
19
Đề tài THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC THAY SÁCH…
khẳng định chương trình Thủ công thay sách vừa với sức tiếp thu của học sinh.
Chỉ có 13 giáo viên (chiếm tỷ lệ 18,05%) cho rằng chương trình hơi nặng. Đồng
thời, khi nhận xét về tỷ lệ cấu trúc giữa bài học lý thuyết và bài học thực hành
nhiều giáo viên (58 giáo viên, chiếm tỷ lệ 80,55%) thống nhất với cấu trúc hợp
lý của chương trình Thủ công 1, 2, 3. Chỉ có 10 giáo viên (chiếm tỷ lệ 13,89 %)
đề nghị tăng bài học lý thuyết, giảm bài học thực hành; 3 giáo viên (chiếm tỷ lệ
4,16%) đề nghị tăng bài học thực hành, giảm bài học lý thuyết; 1 giáo viên
(chiếm tỷ lệ 1,39%) cho rằng cấu trúc chương trình chưa hợp lý.
- Sách giáo viên phần Thủ công lớp 1, 2, 3 cấu trúc hợp lý, dễ sử dụng. Kênh
hình và kênh chữ rõ ràng. Kênh hình trong sách giáo viên nên cố màu để đảm
bảo tính hấp dẫn, trực quan, dễ nhận biết các quy trình kỹ thuật. Cần có sách
giáo khoa cho học sinh để các em thuận lợi trong khâu tực hành, nhất là khi cần
tái hiện lại quy trình kỹ thuật.
- Trong phần Hướng dẫn dạy học ở các vùng miền khó khăn có nội dung:
Vùng xa học sinh thực hành yếu nên nhiều bài thực hành học sinh không hoàn
thanh sản phẩm tại lớp. Để khắc phục điều đó Bộ Giáo dục Đào tạo gợi ý (đã
trao đổi trong đợt tập huấn thay sách Thủ công lớp 3):
+ Cho học sinh thực hành vào buổi học thứ 2 trong ngày. Điều này không
khả thi vì hiện nay nhiều trường chưa học ngày 2 buổi.
+ Cho học sinh thực hành ngoài giờ. Điều này cũng không khả thi vì khi
học sinh thực hành, giáo viên phải đến để hướng dẫn và đánh giá. Như vậy, phải
tính giờ chuẩn cho giáo viên và lấy quỹ thời gian ở đâu.
+ Cho học sinh mang về nhà tiếp tục hoàn thành sản phẩm thực hành. Điều
này vi phạm mục tiêu của môn Thủ công là sản phẩm thực hành phẩi được hoàn
thừah tại lớp.
Chỉ còn khả năng là giảm tải cho các vùng miền khó khăn.
CĐTH
ĐHTH
5
1
701
78
9
0,63
0,12
88,29
9,82
1,13
2 Trường đào tạo
THSP
CĐSP
ĐHSP
794
78
9
89,04
9,82
1,13
3 Tình cảm khi dạy bộ môn
Hứng thú
Bình thường
Không có cảm tình
Rất chán
58
14
0
lên lớp
Có thường xuyên
Có, nhưng không thường xuyên
Ít chuẩn bị kỹ
Chỉ nói theo SGV
66
6
0
0
91,67
8,33
0,0
0,0
7 Thực hiện các bài thực
hành
Hết 100%
Trên 75%
Trên 50%
Trên 25%
Không thực hiện được
59
13
0
0
0
81,94
18,06
0,0
0,0
0,0
21
Đề tài THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC THAY SÁCH…
10 Liên hệ thực tế
Có thường xuyên
Tuỳ từng bài
Ít khi liên hệ
Không quan tâm
23
48
1
0
31,49
68,05
1,39
0,0
11 Quan tâm của các cấp
quản lý giáo dục
Có quan tâm
Bình thường
Coi nhẹ bộ môn
59
13
0
81,94
18,06
0,0
12 Hứng thú của học sinh
Hứng thú
Bình thường
Không tỏ rõ thái độ
(phần Thủ công)
a/ Thực hiện chương trình
Qua phiếu điều tra và trao đổi trực tiếp với các giáo viên đứng lớp dạy phân
môn Thủ công lớp 1, 2, 3, cùng với Ban giám hiệu của 12 trường Tiểu học thuộc
3 huyện, thành phố của tỉnh Quảng ngãi, chúng tôi nhận thấy:
- Hầu hết giáo viên đứng lớp đã thực hiện đúng trình tự cấu trúc và phân phối
thời gian của chương trình Thủ công 1, 2, 3 mà BGD - ĐT đã ban hành (bao
gồm cả bài học lý thuyết, bài học thực hành, bài ôn tập và bài kiểm tra).
- Đặc thù của phân môn Thủ công là số bài thực hành chiếm một tỷ lệ lớn
(70%) và một số bài có nội dung dài (Thủ công 3) khó đảm bảo thời gian để
hoàn thành tại lớp. Vì vậy, để hoàn thành các bài thực hành, đòi hỏi giáo viên
phải có một sự nổ lực lớn. Đã có 59 giáo viên (chiếm tỷ lệ 81,94%) thực hiện
hết 100% số bài thực hành và 13 giáo viên (chiếm tỷ lệ 18,06%) thực hiện được
trên 75%.
b/ Thiết bị dạy học
Mặc dù đã được Bộ GD - ĐT đầu tư theo chương trình dự án thay sách,
nhưng nhìn chung TBDH vẫn còn thiếu nhiều so với yêu cầu dạy học bộ môn.
Hàng năm trang thiết bị đều cấp phát không kịp thời và chưa đồng bộ. Điều này
đã ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả của yêu cầu về thay sách, về chất lượng
dạy và học bộ môn, gây nhiều khó khăn cho giáo viên khi đổi mới PPDH. Để
khắc phục điều này các trường đã động viên giáo viên tận dụng hết các TBDH
đã có và tự làm thêm các TBDH còn thiếu để phục vụ giảng dạy.
3. Thực trạng đổi mới phương pháp dạy học và kế hoạch bài dạy môn
Nghệ thuật (phần Thủ công)
a/ Đổi mới phương pháp dạy học
Kết quả điều tra bằng Phiếu điều tra và trực tiếp dự giờ giảng của 36 giáo
viên, mỗi trường dự 3 tiết giảng (1 tiết giảng ở khối lớp 1; 1 tiết giảng ở khối lớp
2; 1 tiết giảng ở khối lớp 3) cho thấy:
23
Đề tài THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC THAY SÁCH…
4. Thực trạng giờ giảng của giáo viên và chất lượng học tập của học sinh
a/ Giờ giảng của giáo viên
Kết qủa dự 36 giờ giảng Thủ công 1, 2, 3 (12 tiết Thủ công 1; 12 tiết Thủ
công 2; 12 tiết Thủ công 3) của giáo viên 12 trường Tiểu học cho thấy:
- 100% giờ giảng đều đạt yêu cầu, trong đó có 20 giờ giảng (chiếm tỷ lệ
55,56%) đạt loại khá, 6 giờ giảng (chiếm tỷ lệ 16,67%) đạt loại giỏi.
- Hầu hết các giờ giảng giáo viên đã quán triệt đúng yêu cầu dạy học thay
sách bộ môn Nghệ thuật (phần Thủ công). Trong giờ giảng học sinh đã được suy
nghĩ nhiều, thảo luận nhiều, thực hành nhiều và hoạt động liên tục. Vì vậy giờ
học khá sinh động, học sinh hào hứng tiếp thu kiến thức bài học. Nhìn chung,
24
Đề tài THỰC TẾ DẠY VÀ HỌC THAY SÁCH…
các mục tiêu cơ bản của từng bài học (kiến thức, kỹ năng, thái độ) đã được hoàn
thành.
- Trong giờ giảng, giáo viên thường lúng túng khi thực hiện sự phối giữa
hướng dẫn tranh quy trình và thao tác mẫu, mà đây lại là nội dung cơ bản của
dạy học Thủ công, là cơ sở thành công của giờ giảng. Sự vận dụng phối hợp các
PPDH trong bài giảng của giáo viên chưa được khéo léo và linh hoạt. Tính tích
cực của học sinh chưa được phát huy… Kiến thức thực tế của bài học mặc dù đã
được tất cả các giáo viên quan tâm, nhưng nhìn chung vẫn còn nghèo: 23 giáo
viên (chiếm tỷ lệ 31,94%) thường xuyên có liên hệ bài học với thực tế sản xuất
và đời sống của địa phương, 48 giáo viên (chiếm tỷ lệ 68,05%) tuỳ từng bài, 1
giáo viên (chiếm tỷ lệ 1,39%) ít khi liên hệ. Vì vậy mà thái độ và kỹ năng vận
dụng kiến thức bài học Thủ công vào thực tế sản xuất và đời sống của học sinh
còn hạn chế.
b/ Chất lượng học tập của học sinh
Đa số giáo viên (62 giáo viên, chiếm tỷ lệ 86,11%) dạy thay sách Thủ công 1,
2, 3 cho rằng học sinh rất hứng thú khi học phân môn Thủ công, các sản phẩm
thực hành đều được hoàn thành tại lớp.Vì vậy, chất lượng học tập phân môn Thủ
công 1, 2, 3 của học sinh đạt kết quả khá.