Chương II.
ĐẶC ĐIỂM VÀ CẤU TRÚC CỦA HOẠT ĐỘNG
QUẢN LÝ
I.TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
Hoạt động quản lý:
Quản lý: Khi nói quản lý bao gồm:
+ Chủ thể quản lý: có thể là cá nhân, tổ chức. Chủ thể quản lý tác
động lên đối tượng quản lý bằng các công công cụ, với những phương
pháp qủan lý thích hợp .
+ Đối tượng quản lý: Tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý.
Tùy theo các từng lọai đối tượng khác nhau mà ta chia thành các dạng
thức quản lý khác nhau
+ Khách thể quản lý: Có thể là hành vi thực thể ( cá nhân, tổ chức,
sự vật hay môi trường …) nhưng cũng có thể là mối quan hệ giữa
thực thể trong quá trình vận động của chúng.
+ Mục tiêu quản lý: đó là cái đích đạt được tại một thời điểm trong
tương lai do chủ thể và khách thể thống nhất định trước.
+ Môi tường quản lý: Bao gồm cả môi trường tự nhiên, kinh tế,
chính trị, xã hội ảnh hưởng đến quá trình quản lý
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên
các khách thể nhằm đạt được mục tiêu định trước.
Họat động quản lý
Hoạt động quản lý là sự tác động qua lại một cách tích cực giữa
chủ thể và đối tượng quản lý qua con đường tổ chức, là sự tác động
điều khiển, điều chỉnh tâm lý và hành động của các đối tượng quản lý,
lãnh đạo cùng hướng vào việc hoàn thành những mục tiêu nhất định
cũa tập thể và xã hội.
Hoạt động quản lý có những tính chất cơ bản sau đây;
1. Hoạt động quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ
thụật, là một nghề của xã hội.
1
Tính phức tạp của hoạt động quản lý được qui định bởi đặc điểm
của đối tượng quản lý, của các mối quan hệ xã hội mà nó đụng chạm
tới. Đối tượng quản lý là con người và tổ chức với những đặc điểm và
tâm lý phức tạp khác nhau .
Tính chất chuyên biệt thể hiện trong yêu cầu về đào tạo người
quản lý, lãnh đạo( phẩm chất, kiến thức, kỹ năng) với kiến thức sâu
rộng và đặc biệt là quá trình tự đào tạo của nhà quản lý
3. Hoạt động quản lý là hoạt động gián tiếp
- Sản phẩm của hoạt động quản lý được đánh giá qua sự phát
triển của từng cá nhân, tập thể, qua kết quả, hiệu quả hoạt động của
tập thể do cá nhân phụ trách .
- Người quản lý, lãnh đạo giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu thông
qua tổ chức bằng cách điều khiển, tác động tới con người và tổ chức.
4 Hoạt động của người quản lý được tiến hành chủ yếu thông
qua hoạt động giao tiếp.
- Hoạt động quản lý là hoạt động tổ chức điều khiển con người,
nên thường xuyên giao tiếp quan hệ với con người
- Hoạt động giao tiếp có mặt ở tất cả các khâu của hoạt động
quản lý thông quan bằng lời nói, hoặc không bằng lời nói, bằng văn
bản hoặc bằng người khác.
5. Hoạt động quản lý là một hoạt động có tính sáng tạo cao.
- Trong mọi lĩnh vực của hoạt động quản lý đòi hỏi chủ thể phải có
năng lực sáng tạo, tư duy linh hoạt mềm dẻo. mỗi một tình huống xẩy
ra đòi hỏi phải có cách xử lý thích hợp.
- Mặt khác tất cả các văn bản chỉ thị các quy chế …là quy định
chung. Việc vận dụng nó vào các trường hợp cụ thể vào thực tiễn đa
dạng, muôn màu, muôn vẻ rất cần tư duy linh hoạt, mềm dẻo, nhạy
bén và sáng tạo.
6. Hoạt động quản lý là hoạt động căng thẳng hay thay đổi,
tiêu phí nhiều năng lượng thần kinh và bắp thịt.
tổ chức thực hiện quyết định .
Có người lại nêu ra 10 yếu tố: Thu thập thông tin, đánh giá thông
tin, đặt vấn đề, chuẩn bị dự án quyết định, ra quyết định, tổ chức, kiểm
tra thường xuyên, phản ứng, kiểm tra thực hiện, đánh gía kết quả.
Xem xét hoạt động quản lý theo các giai đoạn thì chúng ta nhận
thấy rằng về thực chất khái niệm chu trình quản lý đồng dạng với hoạt
động quản lý người lãnh đạo. theo sơ đồ sau
CHU TRÌNH QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO
4
2. Tiến hành qua việc mô tả các hình thức công việc của
người lãnh đạo diễn ra theo thời gian.
Theo cách này người ta phân chia hoạt động của người lãnh đạo
ra thành các đơn vị kinh nghiệm hoạt động như: Tổ chức hội nghị, tiếp
khách, xây dựng kế hoạch, giao tiếp với mọi người, kiếm tra các hoạt
động của bộ phận giúp việc và những người dưới quyền.
Theo nghiên cứu của các nhà tâm lý học thì tất cả các đơn vị kinh
nghiệm hoạt động của người lãnh đạo như trên đều bao gồm 3 đơn vị
lý thuyết có liên quan với nhau và được gọi là:
Hoạt động nhận thức. Hoạt động ra quyết định, hoạt động tổ chức
thực hiện quýêt định.
Có thể nói rằng, cả ba đơn vị lý thuyết này luôn có mặt rtong các
giai đọan của chu trình quản lý cũng như trong từng đơn vị kinh
nghiệm của họat động quản lý, lãnh đạo.
3. Dưới góc độ tâm lý học, người ta phân tích cấu trúc họat
động quản lý như sau:
+ Họat động nhận thức.
Đối tượng của họat động nhận thức là đối tượng quản lý,
Mục đích của họat động nhận thức là xây dựng trong ý thức của
người lãnh đạo một mô hình những khái niệm và tình huống họat
động, các nhiệm vụ và điều kiện tác động lên tính huống đó.
+ Ra quyết định.
+ Tổ chức thực hiện quyết định
+ Kiểm tra việc thực hiện quyết định
+ Tổng kết, đánh giá, thực hiện quyết định
3. Căn cứ vào đối tượng, mục đích, động cơ, hành động và
kết quả người ta chia hoạt động của người lãnh đạo thành thành bốn
đơn vị lý thuyết có liên quan chặt chẽ với nhau, đó là:
+ Nhận thức.
+ Ra quýêt định
+ Tổ chức thực hiện
+ Kiểm tra và đánh giá việc thực hiện.
6
4. Trên cơ sở phân tích cơ cấu hoạt động của người lãnh đạo,
quản lý người ta đã xác định một số dạng hoạt động cơ bản sau đây:
+ Lập kế hoạch
+ Tổ chức
+ Lãnh đạo
+ Kiểm soát
5. Nếu căn cứ vào hoạt động ra quyết định (hoạt động quan
trọng) của người quản lý, ta có các dạng hoạt động :
+ Hoạt động nhận thức trong quá trình chuẩn bị ra quyết định
+ Hoạt động ra quyết định quản lý
IV. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI
LÃNH ĐẠO
1. Đặc điểm của hoạt động nhận thức của người lãnh đạo.
Hoạt động nhận thức đó là quá trình thu nhận thông tin từ phía đối
tượng.
Người lãnh đạo là người đứng đầu tập thể với vị trí đó họ là
những người nắm được khối lượng thông tin lớn nhất. Trong số các
thông tin đến với người lãnh đạo có thông tin từ trên xuống dưới, có
- Sự tác động qua lại của những người tham gia vào quá trình
quyết định và sự tiếp nhận của họ khi thực hiện quyết định.
- Sự tíếp nhận quyết định bởi những người thừa hành, với tính
cách là chương trình hoạt động của người thừa hành.
- Những hậu quả giáo dục của của quyết định và ảnh hưởng đến
quá trình phát triển xã hội.
Như vậy trong quá trình ra quyết định các yếu tố tâm lý như tư
duy, tình cảm, ý chí, tâm trạng đều tham gia vào quá trình ra quyết
định của người quản lý. Vì vậy khi ra quyết định cần phải tính đến các
yếu tố sau đây:
Thứ nhất: Phải nắm được đặc điểm,tâm lý nhất là nhu cầu, lợi ích
trình độ, tâm trạng và khả năng của những người sẽ thực hiện quyết
định những người có liên quan và chịu hậu quả của việc thực hiện
quyết định.
Thứ hai: Phải nắm chắc được đặc điểm tâm lý người tham gia
vào việc ra quyết định, đảm bảo sự lực chọn người tham mưu cho việc
ra quyết định phải khách quan, trung thực thạo việc.
8
Thứ ba: Phải quan tâm đến vai trò, trách nhiệm của nhóm phản
biện, nhóm thẩm định. Những người tham gia vào nhóm này phải
khách quan, trung thực, tránh chọn những người kém hơn, người dễ
dãi và cùng êkíp, bè cánh.
Thứ tư: Người ra quyết định và bản thân người lãnh đạo phải đặt
mình vào vai trò của người thực hiện để xem xét, kiểm tra tính khả thi,
tính trước những khó khăn, trở ngại phải giải quyết.
Thứ năm: Ký và ban hành quyết định với tâm lý tự tin, nó chứng tỏ
quyết định đã được chuẩn bị chu đáo, có chất lượng và khả năng thực
thi.
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến tính chất ra quyết định quản lý;
- Diễn biến của tình huống quản lý và hoàn cảnh tạo ra.
- Truyền đạt quyết định:
Việc truyền đạt quyết định làm cho người thực hiện hiểu rõ nhiệm
vụ được giao. Vì vậy việc truyền đạt quyết định vừa làm cho người
thực hiện nhận thức, vừa phải gây ở họ những cảm xúc nhất định sao
cho họ huy động được mọi tiềm năng hoạt động của mình.
Những yêu cầu tâm lý khi truyền đạt quyết định:
+ Người lãnh đạo không chỉ thông báo cho người thực hiện quyết
định hiểu đúng nội dung cơ bản của quyết định mà phải thuyết phục
họ quyết định đó là đúng đắn, cần thiết.
+ Người lãnh đạo nên tránh những biểu hiện xúc cảm không cần
thiết ảnh hưởng đến tâm lý của người thực hiện như sự lo lắng, sự vui
mừng, khi quyết định không có lợi hoặc có lợi cho họ.
+ Hình thức, phương pháp truyền đạt quyết định phải phù hợp với
đặc điểm tâm lý người thực hiện, vì vậy cần phải nắm được đặc điểm
nhân cách của từng người
+ Khi truyền đạt quyết định không nên tạo ra sức ép quá mức, gây
tình trạng căng thẳng trong tư tưởng và giảm tính sáng tạo.
- Phân công nhiệm vụ
Nguyên tắc lực chọn người là xuất phát từ yêu cầu công việc để
chọn người” đặt người đúng việc”. Khi triển khai thực hiện quyết định
lựa chọn được người thực hiện rối thì phải giao việc cho họ thật cụ
thể, rõ ràng. Giao việc đống thời giao quyền hạn tương ứng. Phải
hoàn toàn tin tưởng họ mới khuyến khích họ chủ động và sáng tạo
trong công việc .
10
Cung cấp những phương tiện cần thiết cho người thừa hành và
tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp cho hiệu quả lao động
- Động viên cá nhân và tập thể thực hiện quyết định:
Người quản lý phải xuất hiện đúng lúc và đúng nơi cần thiết trong
quá trình tổ chức thực hiện quyết định. Đây là điều kiện cần thiết để
mà chính là phát hiện ra những nguồn lực còn chưa khai thác hết để
thuyết phục, động viên tư tưởng người dưới quyền và phát huy tối đa
các nguồn lực đó,
Hiệu quả của công tác kiểm tra chỉ được tốt khi người thực hiện
nhiệm vụ coi kiểm tra là hình thức giúp đỡ về nghiệp vụ và nâng đỡ
tinh thần cho họ, từ đó xây dựng mối quan hệ hiểu biết và thông cảm
lẫn nhau giữa người kiểm tra và người bị kiểm tra
Làm tốt công tác kiểm tra và đánh giá việc thực hiện sẽ góp phần
làm cho công tác lãnh đạo, quản lý có hiệu lực và hiệu quả.
12