công nghệ xử lý môi trường trong sản xuất xi măng - Pdf 16

Báo Cáo Môn Học: Công Nghệ Xử Lý Môi Trường Khoa: Thực Phẩm và Hóa Học
Mục lục:
Chương I. Tổng quan về công nghệ sản xuất xi măng Pooclăng: 3
1.1 Định nghĩa xi măng [1] 3
_Xi măng là một loại khoáng chất được nghiền mịn và là chất kết dính thủy lực được tạo
thành bằng cách nghiền mịn clinker, thạch cao thiên nhiên và phụ gia. Khi tiếp xúc với nước
thì xảy ra các phản ứng thủy hóa và tạo thành một dạng hồ gọi là hồ xi măng. Tiếp đó, do sự
hình thành của các sản phẩm thủy hóa, hồ xi măng bắt đầu quá trình ninh kết sau đó là quá
trình hóa cứng để cuối cùng nhận được một dạng vật liệu có cường độ và độ ổn định nhất
định. Vì tính chất kết dính khi tác dụng với nước, xi măng được xếp vào loại chất kết dính
thủy lực . 3
1. 2. Thành phần hóa học của clinke Portland 4
1.3. Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất xi măng Pooclăng: 5
Chương II. Bụi: 6
2.1.1. Các công đoạn phát sinh bụi: [3] 9
2.1.2. Quy trình xử lý bui: 12
Từ những thông số kỹ thuật về bụi trên và quá trình phân tích ưu nhược điểm của các
phương pháp lọc bụi ở bảng 2.1 và bảng 2.2 ta có thể thấy thiết bị lọc bụi bằng cyclon để
lọc bụi thô và áp dụng vào quá trình xử lý khí còn Lọc bụi tĩnh điện xử lý các hạt bụi còn
lại sau quá trình lọc bụi bằng Cyclon. Sau đây em xin giới thiệu về công nghệ để lọc bụi
trong nhà máy xi măng Hải Phòng với công xuất là 3300 tấn clinker/h là lọc bụi bằng Lọc
bụi tĩnh điện. 14
2.1.2.1 Nguyên lý hoạt động và cấu tạo của lọc bụi tĩnh điện [4] 14
A) Nguyên lý hoạt động của bộ lọc bụi tĩnh điện 14
B) Cấu tạo của bộ lọc bụi tĩnh điện ESP bao gồm: 15
C) Một số bộ phận quan trọng khác 23
D) Các nhân tố ảnh hưởng tới thiết bị lọc bụi điện 25
Chương III. Nước Thải:[5] 30
3.1. Các nguồn gây ô nhiễm nước : 30
3.2. Kiểm soát ô nhiễm môi trường nước : 32
Chương IV. Các chất gây ô nhiễm khác và biện pháp xử lý 34

không của riêng ai đặc biệt là các nước đang trên đà phát triển như Việt Nam chúng
ta.
Hiện nay nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
nên nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầngcho các khu công nghiệp,
xây dựng đường giao thông, nhà ở và các công trình khác tăng lên rõ rệt. Do đó nhu
cầu về nguyên vật liệu xây dựng đặc biệt là nhu cầu về xi măng tăng cao. Yêu cầu tất
yếu được đặt ra là ngành công nghiệp xi măng cần được đầu tư phát triển mạnh để đáp
ứng nhu cầu trên. Trước thực tế đó, nhà máy ximăng Hải Phòng mới ra đời với mục
đích cung cấp xi măng cho thị trường trong nước và xuất khẩu đồng thời thay thế nhà
máy xi măng Hải Phòng cũ đã không đáp ứng được nhu cầu xi măngcũng như không
đảm bảo các tiêu chuẩn môi trường.
Đặc trưng của chất thải ngành công nghiệp xi măng là ô nhiễm bụi gây tác hại
lớn với môi trường và sức khoẻ con người, bụi , khí và nước là nguồn ô nhiễm chủ
yếu cần được xử lý. Do đó việc thiết kế một hệ thống xử lý bụi và các chất thải khác
trong nhà máy trước khi thải ra môi trường là hết sức cần thiết để đảm bảo sự phát
triển bềnvững của ngành công nghiệp xi măng. Nhà máy xi măng Hải Phòng mới sản
xuất ximăng vớicông nghệ lò quay theo phương pháp khô nên sản lượng xi măng lớn
và ô nhiễm ít hơn nhiều so vớicông nghệ lò đứng. Trong báo cáo đề cập tới hệ thống
xử lý bụi ximăng bao gồm thiết bị lọc bụi tĩnh điện và các thiết bị xử lý các chất thải
khác của nhà máy.
Họ và Tên: Nguyễn Văn Anh
Lớp: 02HH
Trang 2
Báo Cáo Môn Học: Công Nghệ Xử Lý Môi Trường Khoa: Thực Phẩm và Hóa Học
Bài Báo Cáo Môn: Công Nghệ Xử Lý Môi Trường
Đề tài: Xử lý chất thải trong nhà máy xi măng
Pooclăng
( xi măng Hải Phòng)
Chương I. Tổng quan về công nghệ sản xuất xi măng Pooclăng:
1.1 Định nghĩa xi măng [1]

04 Fe
2
O
3
1 – 5
05 MgO 0 – 3
06 SO
3
1 – 3
07 K
2
O 0,6
08 Na
2
O 0,2
Họ và Tên: Nguyễn Văn Anh
Lớp: 02HH
Trang 4
Báo Cáo Môn Học: Công Nghệ Xử Lý Môi Trường Khoa: Thực Phẩm và Hóa Học
1.3. Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất xi măng Pooclăng:
Họ và Tên: Nguyễn Văn Anh
Lớp: 02HH
Trang 5
Đá vôi Đất sét
Khoan, nổ mìn, vận
chuyển
Máy đập đá vôi Máy đập đá sét
Kho đá vôi, đất sét
Máy nghiền liệu
Silô chứa đồng

thiết kế và cung cấp thiết bị chủ yếu.
Xét toàn bộ các hoạt động của nhà máy từ khâu khai thác vận chuyển nguyên,
nhiên liệu đến khâu xuất sản phẩm thì bụi và khí thải sinh ra ở nhiều công đoạn khác
nhau. Tuy nhiên khí thải độc hại chỉ chiếm một phần rất nhỏ còn nguồn ô nhiễm
không khí chủ yếu là bụi. Tuỳ thuộc vào nguồn phát sinh mà bụi ở các công đoạn có
thành phần, nồng độ và kích thước khác nhau, chúng mang những đặc trưng khác
nhau.
Bảng 2.1 Tải lượng ô nhiễm bụi xi măng
STT
Các công đoạn trong
nhà máy sản xuất xi
măng
Hệ số ô nhiễm
(kg/tấn clinker)
Tải lượng ô nhiễm
(kg/năm)
1 Bốc dỡ clinker 0,1 8.700
2 Bốc dỡ phụ gia, thạch
cao
0,1 1.400
3
Vận chuyển cliker 0,075 6.525
4 Vận chuyển phụ gia,
thạch cao
0,075 1.050
5
Dự trữ cliker trong silo 0,12 10.440
Họ và Tên: Nguyễn Văn Anh
Lớp: 02HH
Trang 6

_ Công đoạn khai thác, đập nhỏ (bên ngoài nhà máy) và vận chuyển đất
sét về kho trong nhà máy :
Nguồn bụi phát sinh từ phễu tiếp nhận đá sét (cỡ hạt ≤ 500mm) của máy đập
búa 2 trục và sau khi ra khỏi máy(cỡ hạt ≤ 50mm). Ra khỏi máy đập búa đá sét được
vận chuyển về kho chứa trên băng tảicao su và thiết bị rải đống giữa, quá trình này
phát sinh bụi từ các điểm rót tại các vị trí chuyển đổi đá sét.
_Đối với các nguyên liệu như Silicat, xỷ Pirit và than :
Chỉ có nguồn phát sinh bụi trong quá trình tiếp nhận và vận chuyển nguyên liệu
cùng sử dụng chung dây chuyền với vận chuyển đá sét (không qua công đoạn đập)
nên các vị trí phát sinh bụi tương tự vận chuyển đá sét.
_Đối với thạch cao và phụ gia :
Nguồn bụi phát sinh trong quá trình bốc nguyên liệu, cấp liệu cho máy đập búa
150t/h để xử lý cỡ hạt từ ≤ 500mm xuống≤ 30mm và vị trí chuyển đổi băng tải cao su
với băng rải đống di động.
_ Tại các kho chứa và đồng nhất nguyên liệu :
Bụi phát sinh từ các vị trí chuyển đổi của băng tải và tại các vị trí đổ rót nguyên
liệu vào két định lượng.
Họ và Tên: Nguyễn Văn Anh
Lớp: 02HH
Trang 9
Báo Cáo Môn Học: Công Nghệ Xử Lý Môi Trường Khoa: Thực Phẩm và Hóa Học
_ Công đoạn tồn trữ và rút nguyên liệu cho máy nghiền :
Nguồn bụi phát sinh trong quá trình rút kho nhờ băng cào, các điểm chuyển đổi
trên băng tảicao su và điểm rót vào két định lượng trước máy nghiền.
_ Công đoạn nghiền nguyên liệu :
Nguyên liệutừ các két định lượng qua hệ thống cân định lượng xuống băng tải
chuyển vào máy nghiền. Tại máy nghiền liên hợp chu trình kín(có sử dụng khí thải
đốt than trong lò nung nguyên liệu và lò nung clinker để sấy khô nguyên liệu nâng cao
hiệu suất cho quá trình nghiền) các hạt mịn được đưa tới xyclon. Tại xyclon các hạt
mịn được giữ lại theo hệ thống gầu nâng và máng khí động tới Silô đồng nhất còn

_ Hệ thống Xyclon trao đổi nhiệt và buông phân huỷ :
Do hệ thống kín hoàn toàn nên không sinh ra bụi mà chỉ có lượng nhiệt toả ra
môi trường xung quanh thành của các Xyclon và buồng phân huỷ. Khí thảicủa buồng
phân huỷ(bộ phận tiền nung) được sử dụng làm tác nhân sấy cho nghiền liệu với nhiệt
Họ và Tên: Nguyễn Văn Anh
Lớp: 02HH
Trang 10
Báo Cáo Môn Học: Công Nghệ Xử Lý Môi Trường Khoa: Thực Phẩm và Hóa Học
độ sấy khoảng 260 – 280
0
C, sau đó thải ra ngoài qua ống khói lưu lượng 5800
Nm
3
/ph, D = 5m, H = 100m, t = 90
0
C (max150
0
C).
_ Công đoạn nung Clinker :
Bột liệu sau khi được Canxi hoá tại buồng phân huỷ vào lò nung để tiếp tục quá
trình nung Clinker. Nguôn gây ô nhiễm chủ yếu là khí nóng toả ra xung quanh vỏ và 2
đầu lò. Toàn bộ được bao bọc kín nên khí thải sinh ra từ lò nung không thoát đựoc ra
ngoài và chúng được đưa qua thiết bị làm lạnh kiểu ghi.
_ Công đoạn làm nguội clinker :
Clinker từ lò nung đi ra có nhiệt độ rât cao được làm lạnh đột ngột bằng thiết bị
làm lạnh kiểu ghi nhằm làm nguội clinker từ 1350
0
C xuống khoảng 90
0
C. Hệ thống

_ Công đoạn phụ trợ :
Nhà nồi hơi sử dụng dầu MFO cho 1 nồi hơi công suất 1.500 kg hơi/h.Quá
trình đốt dầu sinh ra khí thải và bụi, chúng được thải ra ngoài qua ống Khói. Như vậy
Họ và Tên: Nguyễn Văn Anh
Lớp: 02HH
Trang 11
Báo Cáo Môn Học: Công Nghệ Xử Lý Môi Trường Khoa: Thực Phẩm và Hóa Học
nguồn gây ô nhiễm không khí trong nhà máy chủ yếu do khói lò hơi, các buồng đốt,
bụi trong quá trình đập nghiền, vận chuyển nguyên nhiên liệu, ximăng và bụi, khí độc
từ quá trình nung, làm lạnh clinker và nghiền ximăng.

2.1.2. Quy trình xử lý bui:
a) Công nghệ khai thác sét:
Công ty thường khai thác đất sét ẩm từ đó hạn chế đước bụi. Vận chuyển nhiên
liệu bằng bằng dây chuyền khép kín, có sức chứa lớn. Sử dụng các băng tải có mái
che các bồn chứa dọc. Đo lường và lây nhiên liệu bằng thiết bị hiện đại, tạo ít bụi
nhất.
b) Hệ thống sử lý bụi : [2]
Thiết bị sử lý bụi của nhà máy tích hợp hoàn toàn trong dây chuyền công nghệ,
không thể tách rời. Ngoài ra, ở nhà máy còn sử dụng công nghệ sử lý bụi hiện đại nhất
như lọc bụi tỉnh điện, lọc bụi túi, lọc bụi Cyclon, lọc bui tay áo và bằng buồng lắng.
Bảng 2.2 So sánh các thiết bị lọc bụi
Thiết bị Kíchcỡ hạt
bụi bé nhất
(µm)
Giới hạn nhiệt
độ làmviệc,
(
0
C)

Báo Cáo Môn Học: Công Nghệ Xử Lý Môi Trường Khoa: Thực Phẩm và Hóa Học
Kết hợp làm
nguội khí thải
- Ít chiếm
diện tích
- Có khả năng
giữ cả khí và
bụi
Vốn
thấp
- Chi phí bảo
trì cao do
nước rò rỉ ăn
mòn thiết bị
Lọc bụi tĩnh
điện
0,25- 1 < 450
o
C
- Hiệu quả lọc
cao, tiết kiệm
năng lượng
- Thu bụi khô
- Sụt áp nhỏ
- Ít phải bảo
trì
- Xử lý lưu
lượng lớn
- Vốn lớn
- Nhạy cảm

đoạn rũ bụi
phức tạp
- Chí phì vận
hành cao do
vải dễ hỏng
Họ và Tên: Nguyễn Văn Anh
Lớp: 02HH
Trang 13
Báo Cáo Môn Học: Công Nghệ Xử Lý Môi Trường Khoa: Thực Phẩm và Hóa Học
thể thu bụi dễ
cháy
- Dễ vận hành
- Tuổi thọ
giảm trong
môi trường
axit, bazơ
- Thay thế túi
vải phức tạp
Từ những thông số kỹ thuật về bụi trên và quá trình phân tích ưu nhược điểm
của các phương pháp lọc bụi ở bảng 2.1 và bảng 2.2 ta có thể thấy thiết bị lọc bụi
bằng cyclon để lọc bụi thô và áp dụng vào quá trình xử lý khí còn Lọc bụi tĩnh điện
xử lý các hạt bụi còn lại sau quá trình lọc bụi bằng Cyclon. Sau đây em xin giới thiệu
về công nghệ để lọc bụi trong nhà máy xi măng Hải Phòng với công xuất là 3300 tấn
clinker/h là lọc bụi bằng Lọc bụi tĩnh điện.
2.1.2.1 Nguyên lý hoạt động và cấu tạo của lọc bụi tĩnh điện [4]
A) Nguyên lý hoạt động của bộ lọc bụi tĩnh điện
Nguyên lý làm việc của bộ ESP
Lọc bụi tĩnh điện là hệ thống lọc bỏ các hạt bụi có kích thước nhỏ khỏi dòng
không khí chảy qua buồng lọc, trên nguyên lý ion hoá và tách bụi ra khỏi không khí
Họ và Tên: Nguyễn Văn Anh

trường điện giữa các điện cực phóng điện và các tấm thu nhận. Trường điện này buộc
các hạt bụi trong dòng khí phải dịch chuyển hướng về phía các tấm thu nhận. Sau đó,
các hạt bụi lắng tủa lại trên các tấm thu nhận.
Các loại điện cực phóng điện phổ biến bao gồm các dây tròn thẳng, các cặp dây
cáp xoắn đôi, các dây thép gai phóng điện, các cột thép cứng, các khung giàn cứng,
các ống cứng đầu nhọn và các sợi dây xoắn. Các điện cực phóng điện được đỡ bởi
giàn phóng điện phía trên và được duy trì thẳng hàng giữa các giàn phóng điện phía
trên và phía dưới. Giàn phóng điện phía trên lần lượt được đỡ từ nóc vỏ thiết bị lọc
bụi. Các bộ cách điện điện áp cao được tích hợp vào hệ thống đỡ. Trong các hệ
thống dây có điều chỉnh, các điện cực phóng điện được giữ căng nhờ các khối nặng ở
đầu dưới của các sợi dây.
Họ và Tên: Nguyễn Văn Anh
Lớp: 02HH
Trang 16
Báo Cáo Môn Học: Công Nghệ Xử Lý Môi Trường Khoa: Thực Phẩm và Hóa Học
Điện cực phóng kiểu dạng các vòng dây mỏng có kích thước đường kính khác
nhau từ 0,13 -0,38 cm (0.05-0,15 in). Hầu hết trong các thiết kế thông thường sử dụng
dây dẫn có đường kính khoảng 0,25cm . Các điện cực phóng điện gồm dây treo thẳng
ở phía trên và được căng thẳng đứng bởi một vật nặng ở phía dưới.

Họ và Tên: Nguyễn Văn Anh
Lớp: 02HH
Trang 17
Báo Cáo Môn Học: Công Nghệ Xử Lý Môi Trường Khoa: Thực Phẩm và Hóa Học
Các dây này thường được làm từ thép carbon cao, nhưng cũng có thể được làm
bằng thép không gỉ, đồng, hợp kim titan, inconel và nhôm. Các vật nặng được làm
bằng hợp kim gang và nặng trên 11,4 kg. Dây của điện cực phóng phải có khả năng
chống đứt gãy do giảm độ bền cơ. Các dây chuyển động dưới ảnh hưởng của các lực
khí động học và lực điện, và ảnh hưởng tới độ bền cơ học. Các khối nặng ở dưới cùng
của dây được gắn vào khung để dây luôn căng. Các quả nặng này sẽ ngăn cản không

trường phát ra giữa 2 cực phóng và thu. Điều này được thực hiện bằng cách sử dụng
máy biến áp - chỉnh lưu T_R. Máy BA nâng điện áp từ 400V lên điện áp khoảng
20.000 - 70.000V. Đây là điện áp cao đủ để gia tốc cho các hạt di chuyển tới cực thu.
Họ và Tên: Nguyễn Văn Anh
Lớp: 02HH
Trang 19
Báo Cáo Môn Học: Công Nghệ Xử Lý Môi Trường Khoa: Thực Phẩm và Hóa Học
Bộ chỉnh lưu biến dòng xoay chiều thành dòng một chiều. Đa số các bộ lọc bụi ngày
nay sử dụng các bộ chỉnh lưu bán dẫn và MBA dầu hoặc MBA askarel-filled.
Hệ thống đồng hồ đo các thông số sau:
- Điện áp sơ cấp: điện áp sơ cấp thường từ 220- 400V
- Điện áp thứ cấp: Đồng hồ đo điện áp một chiều được đặt giữa đầu ra của
chỉnh lưu và cực phóng.
- Dòng điện thứ cấp: Dòng điện thứ cấp được đo bằng đồng hồ có thang đo
milliampe. Đồng hồ đo được đặt giữa đầu ra của chỉnh lưu và bộ điều khiển điện áp tự
động.
- Số lần phóng điện: Đồng hồ đo số lần phóng điện trong một phút.
d) Rapper- Bộ gõ
Bụi chất đống trên cực thu và phóng được loại bỏ bằng cách gõ. Bụi bám thành
mảng hoàn toàn được loại bỏ bằng cách rung cơ khí hoặc các dao động lan truyền dọc
theo điện cực. Hệ thống gõ được thiết kế để gõ theo cường độ và tần số có thể điều
chỉnh theo điều kiện làm việc thực tế. Mỗi khi chu kỳ làm việc được thiết lập hệ thống
phải có khả năng duy trì gõ đều đặn trong thời gian dài.
Cực thu được gõ theo một số cách. Một hệ thống gõ sử dụng búa đặt trên trục
quay như hình vẽ. Khi trục quay, các tay búa nện xuống và đập xuống các thanh đỡ
các tấm cực thu. Cường độ gõ được điều khiển bởi trọng lượng búa và độ dài của tay
búa. Tần số gõ có thể thay đổi bằng cách hiệu chỉnh tốc độ của trục quay. Vì thế,
cường độ gõ và tần số gõ có thể hiệu chỉnh theo sự thay đổi theo mật độ của bụi. Một
hệ thống gõ khác sử dụng trong 1 số thiết kế của Mỹ bao gồm các dụng cụ gõ xung từ.
Họ và Tên: Nguyễn Văn Anh

nhất). Các hạt bụi có thể dính kết vào nhau do ẩm ở vùng này. Do vậy lối ra của phễu
có thể nhanh chóng bị tắc nghẽn.
Phần tử đốt nóng của phễu được đóng hoặc ngắt bằng rơ le nhiệt đặt ở mặt
tường phễu. Rơ le thứ hai đặt ở phần tử đốt nóng để bảo vệ nó không bị đốt nóng thái
quá. Phần tử đốt nóng của phễu chỉ cắt khi lọc bụi tĩnh điện bụi dừng lâu dài, ví dụ
ngưng để bảo trì. Khi dừng bảo trì, phần tử đốt nóng của phễu vẫn tiếp tục được đốt
nóng trong 30 phút sau khi đã ngừng truyền khí khô “qua lọc bụi”.
Khi khởi động lọc bụi, phần tử đốt nóng của phễu và phần tử đốt nóng sứ đỡ
đều phải được khởi động trước ít nhất 4 giờ.
f) Vỏ
Cấu trúc vỏ bao bọc các điện cực và đỡ các thiết bị trong một khung cứng để
giữ cho các điện cực thẳng hàng. Đặc biệt cấu trúc hỗ trợ quan trọng đối với mặt lọc
bụi nóng vì các thành phần của bộ lọc có thể làm giãn nở và co lại khi sự chênh lệch
Họ và Tên: Nguyễn Văn Anh
Lớp: 02HH
Trang 22
Báo Cáo Môn Học: Công Nghệ Xử Lý Môi Trường Khoa: Thực Phẩm và Hóa Học
nhiệt độ ESP (400 độ C) và không khí xung quanh (20 độ C) là lớn. Sự chênh lệch về
nhiệt độ quá mức có thể phá các khớp vỏ và phễu và mối hàn ngoài. Các điện cực thu
và điện cực xả thường được treo theo chiều dọc ảnh hưởng của lực hấp dẫn. Điều này
cho phép các yếu tố để mở rộng hoặc co lại khi có sự thay đổi nhiệt độ này mà không
bị ràng buộc hay bóp méo.
g) Hệ thống tải bụi
Bụi sau khi được xả ra ngoài được chuyển đi bằng hệ thống tải bụi. Các thiết kế
cho hệ thống này khá đa dạng bao gồm hệ thống tải bụi kiểu vít, kiểu băng tải trượt
hay hệ thống băng tải dùng khí nén.
a) Hệ thống tải bụi kiểu vít tải b) Hệ thống băng tải dùng khí nén
c) Hệ thống tải bụi kiểu băng tải trượt
C) Một số bộ phận quan trọng khác
a) Electic vibrator- Bộ rung điện

được nối đất bằng tay ở ngay cửa kiểm tra. Điều này là rất quan trọng để bảo vệ
người, chống lại việc đóng vào điện áp cao do sai lầm nào đó.
Họ và Tên: Nguyễn Văn Anh
Lớp: 02HH
Trang 24
Báo Cáo Môn Học: Công Nghệ Xử Lý Môi Trường Khoa: Thực Phẩm và Hóa Học
Thiết bị nối đất gầm cáp nối đất, gậy nối đất, các chốt nối đất ở các cửa kiểm
tra và các chốt nối đất ở các khung và các điện cực phóng điện.
e) Khóa nối đất
Tất cả các phần chịu điện áp cao của lọc bụi tĩnh điện sẽ lập tức được nối đất
nhờ khóa nối đất, khi có nguy hiểm về nổ. Khi khóa đóng tương ứng hệ thống phóng
điện đã được nối đất và không có hiệu ứng vầng quang hoặc các hồ quang xảy ra bên
trong lọc bụi. Do đó ngăn ngừa được sự nổ của hỗn hợp khí.
Nếu thiết bị không làm việc, khóa nối đất nằm ở vị trí đóng và hệ thống phóng
điện là nối đất.
f) Các nắp phòng nổ
Các nắp phòng nổ được đặt tại những chỗ thích hợp trên bộ lọc bụi. Khi vận
hành bình thường các nắp đóng kín. Trong trường hợp phát nổ bên trong lọc bụi, các
nắp mở ra do sự tăng áp suất nổ. Vì vậy làm giảm được áp suất nổ bên trong, giữ nó ở
giới hạn không gây thiệt hại cho vỏ thiết bị.
Việc thiết kế các nắp phòng nổ phải bảo đảm các bộ phận của nắp không bị
long ra khi có nổ, đồng thời cũng đảm bảo nắp đóng lại tự động sau khi nổ. Vì lý do
an toàn, nắp phòng nổ cần phải được duy trì một cách thường xuyên và tin cậy. Công
việc bảo dưỡng chỉ được thực hiện khi thiết bị lọc bụi không vận hành. Sau mỗi lần
nổ, cần phải kiểm tra lại các nắp phòng nổ.
D) Các nhân tố ảnh hưởng tới thiết bị lọc bụi điện
1.Ảnh hưởng các tính chất của khí cần làm sạch
Cường độ điện trường phụ thuộc vào điện áp cấp cho điện cực phóng. Điện tích
hạt bụi, tốc độ chuyển động của chúng (sau khi tích điện) đến cực lắng phụ thuộc vào
cường độ điện trường. Do vậy, duy trì điện áp cực đại cho phép trên điện cực phóng là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status